Vị trí của giáo dục nhà trường

3. Vị trí của giáo dục nhà trường

Như vậy, có sự khác biệt rõ rệt giữa hai phương thức giáo dục: giáo dục diễn ra trong quá trình con người sống chung với nhau - không một ai thoát khỏi quá trình giáo dục này, chừng nào người đó sống thực sự chứ không phải chỉ tồn tại đơn thuần về mặt sinh học; [và] giáo dục có chủ đích dành cho trẻ em. Ở trường hợp thứ nhất, giáo dục mang tính chất ngẫu nhiên; tuy nó diễn ra một cách tự nhiên và có vai trò quan trọng, nhưng việc giáo dục đó không phải là lý do rõ ràng của cộng đồng. Có thể nói không phóng đại rằng, giá trị của mọi thiết chế xã hội, kinh tế, gia đình, chính trị, luật pháp, tôn giáo, có thể được đánh giá bằng điều sau đây: chúng có góp phần mở rộng và hoàn thiện kinh nghiệm của con người hay không; song, kết quả này lại không nằm trong động cơ được đề ra từ ban đầu, bởi vì mọi thiết chế đều được hình thành với mục đích rất hạn hẹp và để đáp ứng nhu cầu trước mắt. Chẳng hạn, các thiết chế tôn giáo ra đời từ mục đích chiến thắng ma quỷ và tự vệ trước cái ác; gia đình thì ra đời từ mong muốn thỏa mãn dục vọng xác thịt và đồng thời duy trì dòng dõi; lao động có tổ chức hầu như xuất phát từ sự nô dịch lẫn nhau của con người v.v... Dần dần, người ta mới nhận ra sản phẩm phụ do các thiết chế đó tạo ra; người ta mới nhận ra tác động của các thiết chế đó tới tính chất và quy mô của đời sống hữu thức. Và với một tốc độ chậm hơn nữa, người ta mới coi tác động đó như là một nhân tố chi phối cách thức quản lý thiết chế [của con người]. Ngay cả ngày hôm nay, đúng là nền công nghiệp của chúng ta [nước Mỹ] đã tạo ra những giá trị nhất định như tính cần cù và tiết kiệm, nhưng chúng ta coi nhẹ tác động về tình cảm và trí tuệ của nền sản xuất toàn cầu tới các hình thức liên kết con người, mà chú trọng nhiều hơn tới “đầu ra” vật chất.

Nhưng, trong quan hệ với trẻ em, bản thân mối liên kết xã hội xét như một sự kiện trực tiếp của mối quan hệ nhân loại lại có tầm quan trọng. Khi tiếp xúc với trẻ em, chúng ta dễ coi nhẹ tác động của các hành động của chúng ta đối với nhân cách của trẻ, nghĩa là chúng ta coi trọng kết quả có tính bề ngoài và có thể nhìn thấy được, hơn là hiệu quả giáo dục; nhưng đối với người lớn, chúng ta không dễ coi nhẹ như vậy. Đối với trẻ em, rèn luyện là nhu cầu hiển nhiên; nhu cầu rèn luyện là cấp bách - nghĩa là cần phải thực hiện bằng được một thay đổi về thái độ và thói quen, bởi thế không thể hoàn toàn bỏ qua những hệ quả của việc rèn luyện ấy. Bởi vì mục đích chính của chúng ta khi tiếp xúc với trẻ em là dạy chúng cách tham gia vào một cuộc sống chung, vì thế bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ xem liệu chúng ta có rèn luyện được hay không những năng lực mà thiếu chúng trẻ em không thể tham gia vào một cuộc sống chung. Nếu như nhân loại hiểu rằng, giá trị nền tảng của mọi thiết chế chính là tác dụng riêng của nó đối với con người - nghĩa là tác động của nó tới kinh nghiệm hữu thức - thì chúng ta hoàn toàn có thể cho rằng, có thể thấy hầu như rất rõ bài học đó khi chúng ta làm việc với trẻ em.

Như vậy, bên trong tiến trình giáo dục, hiểu theo nghĩa bao trùm mà chúng ta đang nói tới, ta đi đến chỗ phân biệt một kiểu giáo dục chính thức hơn - nghĩa là, giáo dục được thực hiện trực tiếp bởi người thầy hoặc thông qua nhà trường. Trong những nhóm xã hội lạc hậu, chúng ta thấy rất ít sự dạy học và huấn luyện chính thức. Để dạy cho trẻ em cách ứng xử cần thiết, bộ lạc dã man chủ yếu dựa vào chính [kiểu] liên kết đã từng duy trì sự trung thành của người lớn đối với cộng đồng. Họ không có các phương tiện, tài liệu hoặc các cơ sở được sử dụng riêng cho việc dạy học, ngoại trừ liên quan tới các nghi lễ tiếp nhận thành viên trưởng thành của bộ lạc. Trẻ em chủ yếu học các thói quen của người lớn, học cách biểu lộ tình cảm và các quan điểm có sẵn của người lớn bằng cách tham gia vào công việc mà người lớn đang làm. Quá trình tham gia này phần nào diễn ra trực tiếp, nghĩa là trẻ em quan sát và bắt chước người lớn làm các công việc của mình và như vậy chúng làm việc với tư cách người học việc; nhưng mặt khác, quá trình này lại diễn ra gián tiếp, nghĩa là, trẻ em [diễn lại] những việc làm của người lớn và như vậy chúng học được cách phải làm như thế nào. Đối với các bộ lạc dã man, sẽ là ngược đời khi phải đi tìm một địa điểm mà ở nơi đó chỉ diễn ra một hoạt động duy nhất: học tập.

Nhưng khi nền văn minh càng phát triển, khoảng cách giữa năng lực của trẻ em và các mối quan tâm của người lớn ngày càng bị nới rộng. Khi đó, đối với trẻ em, học bằng cách quan sát và bắt chước ngày càng trở nên khó thực hiện hơn, đặc biệt đối với những nghề nghiệp phức tạp. Phần lớn những gì người lớn làm đều không thể quan sát trực tiếp bằng mắt và trừu tượng hơn, vì thế bắt chước ngày càng trở nên không còn thích hợp nữa, bởi bằng cách đó, trẻ em khó lòng làm đúng được như người lớn. Như thế, khả năng tham gia vào các công việc của người lớn có hiệu quả hay không, phụ thuộc vào việc trẻ em được huấn luyện trước cho mục đích ấy. Để làm việc đó, con người đã nghĩ ra những phương tiện được dùng vào mục đích dạy - đó là trường học, và vật liệu dùng để dạy - đó là các môn học. Công việc dạy được giao hẳn cho một nhóm người chuyên trách.

Trong một xã hội được tổ chức cao, nếu không có hệ thống giáo dục chính thức, con người không thể truyền bá mọi tri thức và thành tựu. Nhờ có giáo dục chính thức, trẻ em có cơ hội tiếp cận một kiểu kinh nghiệm mà chúng không thể có được nếu chúng bị bỏ mặc với việc học tập ngẫu nhiên qua mối liên kết không chính thức với những người khác, bởi vì nhờ có giáo dục chính thức, trẻ em chiếm lĩnh được tri thức dưới dạng sách vở và các biểu trưng.

Song, khi chuyển từ giáo dục bên ngoài nhà trường sang giáo dục nhà trường, có những nguy cơ đáng chú ý. Ở phương thức giáo dục bên ngoài nhà trường, dù học tập bằng quan sát và bắt chước, thì ít nhất hành động đó cũng có tác dụng trực tiếp và có ý nghĩa sống còn đối với người học. Ở một mức độ nào đó, những ưu điểm này đã bù đắp cho việc người học không có nhiều cơ hội học tập. Kiến thức của giáo dục nhà trường, trái lại, dễ trở thành viển vông và khô cứng - trừu tượng và lý thuyết suông, ấy là nói một cách thông thường và giảm nhẹ. Ở những xã hội chưa phát triển, ít ra tri thức tích lũy còn được đem ra sử dụng trong thực tiễn; tri thức được chuyển hóa vào trong tính cách; nó chỉ tồn tại trong chừng mực ý nghĩa của nó phù hợp với các mối hứng thú cấp thiết hằng ngày.

Nhưng, trong một nền văn minh phát triển, phần lớn những điều cần phải học lại được lưu giữ dưới dạng các biểu trưng. Khi đó, rất khó tìm thấy mối liên hệ tương ứng giữa kiến thức, việc làm và những đồ vật quen thuộc. Với tính chất như vậy, chất liệu có tính khá chuyên môn và hời hợt. Nếu lấy tiêu chuẩn bình thường của thực tế để đánh giá, thì kiến thức đó là có tính giả tạo. Bởi khi đánh giá như vậy, chúng ta đã gắn kiến thức với những vấn đề thực tiễn. Thế nhưng, kiến thức đó lại tồn tại trong một thế giới riêng, không thể hiểu được bằng tập quán suy nghĩ và cách biểu đạt thông thường. Vì vậy, luôn tồn tại nguy cơ rằng, giáo dục chính thức tại nhà trường sẽ sử dụng chất liệu có nội dung tách rời khỏi nội dung của sự sống-kinh nghiệm. Nhà trường chắc chắn không nhận ra các mối hứng thú lâu dài của xã hội. Kiến thức không được chuyển hóa vào cơ cấu của đời sống xã hội, mà chúng hầu như vẫn chỉ là kiến thức chuyên môn được trình bày bằng các biểu trưng, được đề cao tại các nhà trường. Như vậy, chúng ta bắt đầu đề cập giáo dục theo cách hiểu có tính tập quán: cách hiểu này bỏ qua tính tất yếu xã hội của giáo dục, bỏ qua tính đồng nhất giữa giáo dục và mọi sự liên kết con người tác động tới đời sống hữu thức, và cách hiểu ấy đã coi giáo dục như là việc truyền bá những vấn đề tách rời khỏi đời sống và truyền đạt kiến thức thông qua các tín hiệu lời nói: học để biết đọc, biết viết.

Vì thế, một trong những vấn đề lớn nhất của triết lý giáo dục là phải tìm ra cách duy trì sự cân bằng giữa giáo dục không chính thức và giáo dục chính thức - tức là giữa phương thức giáo dục mang tính ngẫu nhiên và phương thức giáo dục có chủ đích rõ ràng. Khi việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng chuyên môn không tác động tới việc hình thành một khuynh hướng tính cách phù hợp với xã hội, thì khi đó kinh nghiệm gắn với đời sống thông thường sẽ không được làm phong phú thêm về ý nghĩa, trong khi đó nhà trường, trong chừng mực cho phép, chỉ tạo ra những “chuyên gia” - nghĩa là những nhà chuyên môn tự coi mình là giỏi nhất. Giáo dục trẻ em mắc phải khó khăn về nhận thức đang gặp một khó khăn ngày càng lớn sau đây: làm sao tránh được sự phân rẽ giữa sự hiểu biết hữu thức bởi chúng ta biết rằng mình đã chủ động học được điều hiểu biết ấy dựa vào một quá trình học tập cụ thể, và sự hiểu biết ngẫu nhiên bởi chúng ta hấp thu nó để hình thành nên tính cách của mình trong quá trình giao tiếp với người khác.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org