Triết lý và thói quen

Chương XIII: Triết lý và thói quen

Chính nhân sinh quan và thói quen của ta quyết định sự tổ chức, cách dùng thì giờ của ta. Điều đó, đọc các chương trên, độc giả đã nhận thấy rồi. Trong chương này bạn sẽ thấy vài lời khuyên thực tế giúp ta có một thái độ với cuộc sống, tức một nhân sinh quan, nếu bạn chịu noi gương một số người đã thành công và giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn của họ. Vì chỉ nói: “Ta cần có một triết lý”, thì chưa đủ, phải biết cách làm sao có được một triết lý nữa chứ?

Mệt nhọc hay là làm biếng

Có lẽ bạn tự thấy không đủ nghị lực ráng tiết kiệm mỗi ngày một giờ để nghỉ ngơi hoặc làm những việc bạn thích. Ai cũng có lúc thấy mệt mỏi như vậy. Nhưng nếu tình trạng mệt mỏi đó có tính kinh niên thì bạn nên tin chắc rằng không phải tại cơ thể đâu mà tại tính khí của bạn đấy: bạn làm biếng. Không phải bệnh thể chất mà là bệnh tinh thần.

Phân biệt hai thứ bệnh đó không phải là việc khó. Gắng sức rồi mới thấy mệt thì là bệnh thể chất; chưa làm đã thấy mệt là do làm biếng. Khi bạn chưa nhắc cánh tay lên, chưa viết được một hàng, vẽ được một nét mà đã thấy uể oải thì là bạn muốn ngồi không. Có lẽ sức khỏe của bạn đầy đủ đấy, nhưng tinh thần của bạn bạc nhược.

Những người có cơ thể đau nặng thì cơ thể lúc nào cũng thấy mệt. Nhưng nếu y sĩ không thấy có bệnh nào cả, thì tiếng “mệt” chỉ có nghĩa là không thích làm việc. Mà không thích làm việc là bước đầu của tánh làm biếng. Cũng may mà chúng ta có cách trị thói đó.

Những biện pháp tích cực

Nhiều khi chỉ cần thay thái độ tiêu cực bằng một thái độ tích cực đối với vấn đề làm việc là trị được tật làm biếng. Đừng ngại xét lại thói quen của mình. Rên rỉ, phàn nàn, khóc lóc là chịu chấp nhận một tình trạng bất mãn, là buông xuôi rồi. Phải phản ứng lại mới được. Bạn bỏ hết các thói cũ của bạn đi, vì trong thâm tâm bạn biết rằng những thói đó làm cho năng suất của bạn kém cỏi; rồi tập trung cả tinh thần vào những thói quen mà bạn muốn có. Công việc dĩ nhiên không phải dễ và muốn thành công bạn phải luôn luôn nhớ một số chân lý và quy tắc dưới đây:

1- Bí quyết thành công ở trong tinh thần bạn chứ không phải ở hoàn cảnh bên ngoài.

2- Bạn ngán làm việc là tại tinh thần bạn lôi thôi, lơ mơ như người ngà ngà say. Ai cũng có sẵn cái khuynh hướng không chịu khó nhọc, thích ở không; nếu không diệt nó mà bồi bổ nó thì riết rồi thành lệ thuộc nó. Càng dung dưỡng nó, chịu theo nó thì ta càng thành hạng người bỏ đi, chẳng làm được gì nên thân.

3- Bạn nên nhớ rằng khi viện cái lí do thấy rầu rĩ, chán nản ra để giải thích sự ở không của bạn, là bạn muốn gợi lòng thương hại của người chung quanh và của chính bạn mà có lẽ bạn không hay. Đó cũng là bản chất của con người, cả những người hoạt động nhất cũng có khuynh hướng đó. “Phải đắp một con đê” ngăn chặn nó lại. Việc đó ai cũng làm được.

4- Sau một thời gian ở không, ai cũng phải mất một ít lâu mới lấy lại đà được. Chắc bạn đã nghiệm thấy như vậy, mỗi buổi sáng thứ hai, khi trở lại sở làm việc sau hai ngày nghỉ cuối tuần, nhất là sau những vụ nghỉ hè. Muốn cho việc lấy đà được dễ dàng, mới đầu bạn hãy làm những việc không quan trọng đã, những việc mà bạn đã quen làm như cái máy. Vài giờ sau, bạn đã thắng được trở lực của bạn.

5- Khi chiến đấu với tật làm biếng, bạn đừng nên hy vọng thắng được nó ngay một cách rực rỡ. Cứ từ từ. Mới đầu hãy cầu được những kết quả tầm thường thôi đã. Đừng tham lam quá khi lập chương trình, mà có thể thất bại, có hại cho tinh thần của bạn, đúng vào cái lúc bạn cần được khuyến khích.

Định cho mỗi công việc một thời hạn vừa phải, và ráng giữ đúng thời hạn đó, hết thời hạn thì phải làm cho xong. Phải thực tế khi tự xét khả năng và hết sức làm việc của mình.

Thích công việc mình làm

Nếu chúng ta có thể chỉ làm những việc ta mê thì hết thảy chúng ta đều vô địch về tài làm nhanh và có khi thành triệu phú ngay được nữa. Nhưng nếu chúng ta không mê công việc hằng ngày thì ít nhất cũng có thể tìm cách thích nó. Chẳng hạn, bà tổng thống Eisenhower có thể thích bất kỳ công việc gì bà làm và người Mỹ nào cũng biết sức làm việc phi thường của bà. Một nhóm sinh viên trường đại học California mới rồi tự nguyện tìm cái khía cạnh thích thú của mỗi môn trong chương trình, và theo những sinh viên đã dự cuộc thí nghiệm đó thì kết quả rất đáng khích lệ.

Vậy, tập yêu nghề của mình là bí quyết để có năng suất cao, nghĩa là để tiết kiệm thì giờ.

Từ thích thú tới hăng hái

Hễ rất thích thú thì hóa ra hăng hái. Sự thích thú làm cho sức làm việc tăng lên gấp đôi, sự hăng hái làm cho nó tăng lên gấp mười. Nếu có ai bảo bạn “làm việc hăng lên” thì bạn đừng mỉm cười và nhún vai đấy nhé. Bạn có thể làm tăng lòng thích thú tất cả cái gì liên quan tới nghề của bạn được, cái đó hoàn toàn tùy thuộc bạn. Không có nghề gì xấu xa thì cũng không có nghề gì không đáng cho ta thích ít hay nhiều.

Người ta kể cho tôi nghe chuyện một gia đình nọ việc gì cũng rất bê bối. Ông chồng thì tởm những việc về tiền nong, ngán trả hóa đơn, còn bà vợ thì ghét việc nhà, việc làm bếp, làm vườn. Trong mấy năm họ sống khổ sở vì mâu thuẫn trong bản thân họ: óc họ tin rằng nhiệm vụ của đàn ông là kiếm tiền, của đàn bà là lo việc nhà, nhưng bản tính họ lại ngược lại. Sau cùng một hôm họ quyết định đổi nhiệm vụ cho nhau: bà vợ kiếm tiền, ông chồng lo việc nhà. Kết quả khả quan, cả hai đều thấy hăng hái trong hoạt động mới của mình.

Các nhà bác học chuyên về bệnh thần kinh chứng minh rằng một công việc làm hăng hái thì chỉ mất một phần mười sự gắng sức bình thường thôi. Thực không có cách nào tốt để bớt phí sức nữa. Muốn làm bùng ngọn lửa hăng hái có lợi vô cùng cho năng suất đó thì nên có thái độ thí nghiệm khi làm việc. Thái độ đó là chống với thủ tục, cải thiện hoài phương pháp làm việc, ráng nhìn công việc bằng một cặp mắt mới. Người ta bảo công việc cũng như người yêu, vì muốn chiếm cho được nên ta mới đam mê. Ta hăng hái làm việc đâu có phải chỉ vì cái vật chất, những kích thích về tinh thần mới làm cho ta ham mê hơn. Thấy sự gắng sức của mình có kết quả, thấy mình thực hiện được một cái gì đặc biệt, không giống ai đó, cái nguồn thỏa mãn tinh thần đó làm cho ta như mọc cánh.

Tại sao không đem vào công việc cái tinh thần ganh đua, chiến thắng, hăng say như khi ta chơi một môn thể thao hoặc một nghệ thuật một cách bất vụ lợi? Trong công việc nào cũng có hy vọng thành công, tiến bộ, cải thiện được. Sở dĩ ta chán nó chỉ vì bỏ qua những yếu tố nhiệt tâm ở dưới cái lớp đơn điệu bề ngoài của nó.

Ma lực của phần thưởng

Phần thưởng càng cụ thể, càng hiện rõ ở trước mắt thì sự hăng hái của ta càng tăng lên. Cho nên khi dậy chó, người ta dùng đường để thưởng và cho chúng trông thấy cục đường.

Ở loài người, phần thưởng không nhất định phải là tiền bạc. Tất cả cái gì ta thích đều có thể dùng làm phần thưởng được. Các bà nội trợ biết rằng nếu hứa cho trẻ được coi vô tuyến truyền hình hoặc đi coi hát thì chúng rửa chén rất mau. Mà chính chúng ta cũng vậy: buổi tối có ai mời đi coi diễn kịch, nghe hòa nhạc, thì ngày hôm đó chúng ta hăng hái làm việc. Trông thấy phần thưởng ở trước mắt thì có thể mỗi ngày làm việc mau hơn được một hay hai giờ. Cái phần thưởng tinh thần: được tiếng vô địch về làm việc mau, không luôn luôn có kết quả. Phải có một cái gì cụ thể hơn, hợp với thị hiếu của ta hơn. Vậy ta tự lựa phần thưởng cho ta đi để tự kích thích ta làm việc.

Nghệ thuật tập trung tinh thần

Làm cách nào để tập trung hết tinh thần vào công việc mình làm? Vì bất kỳ là công việc gì hễ tập trung tinh thần vào làm việc sẽ mau hơn. Những câu hỏi dưới đây giúp tự xé mức tập trung tinh thần của bạn cao hay thấp.

1- Bạn có quen nhận xét từng chi tiết nhỏ nhặt của tất cả cái gì liên quan tới hoạt động của bạn không? Có vận dung tất cả trí thông minh và óc phán đoán để có một ý kiến về những điều bạn trông thấy, nghe thấy không?

2- Bạn có thể phối trí rất mau các sự kiện ngay từ khi ngũ quan bạn ghi nhận được không.

3- Các khả năng tinh thần của bạn có uyển chuyển và hoạt động cực mau khi tiếp nhận được các yếu tố trong mọi hoàn cảnh không?

4- Bạn luôn luôn có một ý niệm rõ rệt về công việc bạn làm và cách thức bạn muốn áp dụng để làm nó không? Cả những khi làm việc một mình cũng nên vạch rõ chương trình làm việc.

5- Làm xong giai đoạn trước bạn có tiếp ngay giai đoạn sau không? Hễ ngưng lại là có hại cho sự chú ý.

6- Bạn có biết giới hạn sự chú ý của bạn vào phạm vi bạn thấy không? Nếu tản mạn nó trên một phạm vi rộng hơn thì cường độ của nó giảm đi mà năng suất quá kém.

7- Bạn có ráng gạt bỏ tất cả những cái gì làm cho bạn đãng trí trong khi làm việc không? Ta nên nhớ rằng công việc làm cho ta thích bao nhiêu thì ta càng bớt đãng trí bấy nhiêu. Khi mê đọc một tiểu thuyết, ta không nghe thấy những tiếng động bực mình ở chung quanh nữa.

Làm nhiều lần một cử động dễ dàng, có thể giúp cho ta tập trung tinh thần. Chẳng hạn Foster Dulles thường gọt bút chì để khỏi đãng trí. Trong một cuộc hội nghị quốc tế, ông vừa nghe diễn văn của Molotov vừa gọt bút chì. Khi Molotov đọc diễn văn xong, ông gọt xong mười hai cây. Cây nào cây nấy đầu thật nhọn, ông bày chúng ở trước mặt rồi bác thuyết của Molotov, từng điểm một mà chẳng cần ghi trước một ý nào hết.

Tóm lại chỉ những người chán ngán, muốn đãng trí mới không tập trung tinh thần được. Vậy kết quả là do tinh thần của ta. Phải gạt bỏ hết những cái gì không liên quan tới công việc và ráng làm chủ được mình. Có nghị lực thì có kết quả.

Suy nghĩ một cách tích cực

Tự nhủ hoài rằng nếu mình có đủ nghị lực, có đủ tài năng thì sẽ làm việc này việc nọ là điều thậm vô ích. Khi người ta thực tâm muốn làm cái gì tốt hơn cứ quyết tâm làm đi và lập một chương trình hoạt động. Nói cách khác, phải suy tư một cách tích cực chứ đừng nghĩ mông lung ân hận vô ích. Mơ mộng hão chỉ làm cho ta mất nghị lực và thì giờ thôi.

Phải làm gì để hướng tinh thần ta về những tư tưởng tích cực? Đây, bạn theo ba lời khuyên này:

1- Nghĩ xem phải làm cách nào để vượt được mỗi giai đoạn nó đưa tói mục tiêu của bạn.

2- Sự vật ra sao thì nhìn nó như vậy, đừng coi những ước vọng của mình là sự thực. Nếu bạn thất bại thì ráng tìm xem do lầm lẫn nào mà thất bại để lần sau tránh được lầm lẫn đó. Phải rút được một bài học sau mỗi lần thất bại.

3- Đừng đổ lỗi cho bạn đồng sự, cho người trên, cho người trong nhà, cho các điều kiện làm việc… mà ráng cải thiện hoài phương pháp làm việc.

Đừng bao giờ để đến hôm sau

Không có gì làm mất thì giờ bằng cái thói để lại hôm sau những việc có thể làm ngay được. Chúng ta có thói hoãn lại một quyết định hoặc một hành động nào cần gắng sức nhiều, và luôn luôn chúng ta tìm được lý do để hoãn lại.

Đức hồng y Spellman, giáo chủ của tất cả tín đồ công giáo Mỹ, luôn luôn tràn trề nghị lực, hoạt động theo một tiết điệu mà cả những người tự cho mình là làm việc không biết mệt cũng phải ngán. Ông làm việc kinh khủng như vậy nhờ giữ đúng vài quy tắc. Chẳng hạn, việc gì có thể làm được hôm nay thì không khi nào ông để lại đến ngày mai. Có người còn bảo rằng ông đã sửa câu tục ngữ đó nữa: đổi chữ ngày ra chữ phút. Không bao giờ ông bắt ai đợi hễ điện thoại kêu là ông đáp liền. Và ông cũng không chịu cho người khác làm mất thì giờ của ông.

Lựa lúc thuận tiện

Không nên hoãn lại hoài công việc, nhưng nhắm mắt làm bừa ngay, không suy nghĩ kỹ thì cũng nguy hại lắm. Xét dự án, lập kế hoạch, nghiên cứu các phương pháp làm, ba giai đoạn đó cần thiết, không thể bỏ được.

Không gì khích lệ bằng bước đầu được dễ dàng. Nhiều khi đó là dấu hiệu chắc chắn thành công nữa. Cho nên phải bắt đầu làm những việc dễ trước đã. Những kết quả khả quan đầu tiên gây ở chung quanh ta một không khí tin cậy, không khí đó là yếu tố cần thiết để giải những vấn đề khó khăn hơn trong các giai đoạn sau. Bạn nên coi công việc lớn của bạn là một loạt những việc nhỏ nối tiếp nhau, như vậy sẽ thấy ngộp. Chẳng hạn nếu bạn thấy không có đủ can đảm viết một bộ sách dầy, thì cứ hãy định bố cục cho nó đã. Chia nó ra làm nhiều chương, rồi viết từng chương một, bạn sẽ thấy đủ sức mà không ngại. Cứ từng viên gạch, từng bay hồ một mà dựng được những tòa nhà đồ sộ.

Nếu bạn nghĩ tới việc sẽ phải làm một việc cần gắng sức nhiều quá mà đâm ngại, thì đừng do dự tấn công ngay những vấn đề khó khăn nhất đi. Phương pháp đó hợp với một vài hạng người, chứ không nhất định là một quy tắc chung cho mọi người. Có người làm những việc dễ trước đã để cho quen, cho có đà rồi những việc khó để lại sau cùng; như vậy khi đã làm hết các việc dễ, công việc đã gần xong, công việc còn lại dù khó tới đâu cũng ráng làm nốt, kẻo bỏ dở, uổng công.

Vạn sự khởi đầu nan

Bạn muốn lựa phương pháp nào thì lựa, nhưng phải thực hành ngay mới được. Giảm thời gian do dự tới mức tối thiểu đi. Muốn tập lội thì phải nhảy ùm xuống nước. Cũng như vậy, muốn hoạt động thì phải bắt tay vào việc liền.

Đừng có cái thói nhu nhược của những kẻ do dự, đợi có người thúc đẩy, nếu không thì cứ ngồi ỳ ra đó. Họ suy nghĩ, tính toán hoài, cân nhắc lợi hại, chuẩn bị không bao giờ xong. Tôi biết một số nhà văn bỏ cả mấy giờ xếp dọn bàn viết, gọt bút chì, rồi vì hứng vẫn chưa tới. Họ ngó đồng hồ, nhớ rằng có việc phải kêu điện thoại, kêu xong thì thấy trễ quá, không thể bắt đầu viết được nữa. Hoặc họ ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành, hai tay ôm đầu, như vậy thì làm sao lấy đà được? Phải đứng thẳng dậy, hít không khí đầy phổi, đi đi lại lại trong phòng, thì óc mới phấn khởi mà làm việc được chứ. Nhiều người vừa đi đi lại lại trong phòng vừa đọc cho thư ký chép. Vì họ cảm thấy rằng khi cử động óc dễ suy nghĩ. Sự thận trọng quá đáng cũng làm cản trở hành động. Có người bỏ phí hàng ngày mà không chịu bắt tay vào việc, viện cớ rằng còn phải xét thêm vấn đề phải chuẩn bị, phải gom góp đủ điều kiện cho công việc được hiệu quả. Nhưng có mấy khi gom được đủ những điều kiện ấy, đợi mãn đời ư? Những kẻ đòi cho được vạn toàn, tự vạch những mục đích không thể nào đạt được, rốt cuộc chẳng làm được gì cả.

Thái độ đó thường là do sợ thất bại, nỗi sợ mà chính họ không ngờ, sợ trong tiềm thức. Vậy phải diệt cái cảm giác tê liệt đó đi. Nếu bạn thấy ngại ngùng, mất cả nghị lực trước một công việc phải làm thì thử tìm trong hồi ức xem trước kia có biến cố gì làm phát sinh nỗi lo đó không. Đã hiểu được cái gì thúc đẩy, cái gì thắng mình lại rồi thì bạn tìm được đủ nghị lực để bắt tay vào việc. Nhiều khi chỉ là một hồi ức rất xa xăm, từ tuổi thơ. Bây giờ nhớ lại, ta thấy biến cố chẳng kể gì mà hồi đó gây cho mình cái tâm trạng lo lắng, nhút nhát đó. Bứng cho nó bật khỏi tiềm thức của ta đi. Công việc đó thực ra là của nhà phân tâm học, nhưng trong nhiều trường hợp ta có thể tự làm lấy được. Muốn hiểu điều đó và muốn trị các nỗi lo lắng, phiền muộn do tiềm thức, độc giả nên đọc cuốn Xây dựng hạnh phúc và cuốn Trút nỗi sợ đi (đều của Nguyễn Hiến Lê dịch). Và ta sẽ vui vẻ thấy rằng nỗi lo ngại nó ngăn ta hoạt động đó không có lý do gì vững cả.

Muốn cho lòng tự tin của bạn thêm vững, bạn nên nghĩ tới những thành công của bạn từ trước tới nay. Trước khi bạn đã làm được thì bây giờ tất cũng làm được, mà lại làm mau hơn nữa nhờ kinh nghiệm và nhờ những phương pháp hoàn thiện hơn.

Làm sao cho quen tay như thành cái máy?

Ai cũng có nhiều thói quen tốt hoặc xấu. Không phải chỉ là quen tới giờ nào đó làm những việc nào đó, mà còn là quen làm những cử động thường theo một kỹ thuật nào đó nữa. Khi những kỹ thuật đó đã nhuần rồi thì có thể làm nhiều việc một lúc mà vẫn có kết quả.

Một công việc tay chân làm quen như một cái máy, thì óc khỏi phải chú ý tới mà được rảnh để làm công việc khác.

Có thể tập cho tay chân được nhuần như vậy. Một khi đã suy nghĩ rồi định cách thức làm ra sao cho tiện nhất, rồi ta tập trong một thời gian thì sẽ quen tay như cái máy. Phải phân tích những thói cũ của mình, cương quyết loại bỏ những thói quen nào làm mất thì giờ. Những cử động nào không thể loại bỏ được hoàn toàn thì phải sửa đổi cho cách thức làm được hợp lý hơn. Tập được một thói quen tốt tức là diệt được một thói quen xấu. Hiểu rõ được chân lý đó thì sẽ tiết kiệm được nhiều thì giờ và sinh lực. Vì lúc đó chỉ cần tập những thói quen tốt mà chẳng phải bận tậm về việc diệt các thói quen xấu.

Nói ít, làm nhiều

Thói quen chỉ nói chứ không làm là một thói rất phổ biến, làm mất nhiều thì giờ lắm.

Những kẻ hay nói, có ý gì hiện trong óc cũng phát biểu liền, chẳng những phí sức, phí thì giờ mà còn mắc cái tật đa ngôn nữa, vì luôn luôn có những điều không nên nói ra. Một nữ ký giả Mỹ nổi danh đã viết nhiều điều lý thú về đề tài cũ rích: “Lời nói là bạc, im lặng là vàng” đó. Bà ấy bảo ta nói ra thường là để cho một ý nghĩ mới hiện trong óc, còn lờ mờ, hóa ra minh bạch. Và cái nhu cầu nói đó, hoặc để cho người khác để ý tới mình, để tỏ mình biết nhiều, hiểu rộng, hoặc để tỏ rằng mình đã làm tròn nhiệm vụ phát biểu ý kiến (nhiệm vụ đó đâu có cần thiết), hoặc để gây một phản ứng (như em bé vô sở thú, la lên cho các con thú bực mình), cái nhu cầu nói đó như một cái vực thẳm nuốt hết thì giờ của ta. Tôi xin dẫn một đoạn dài của bà: “Chỉ có hai cách trị tật đó. Cách thứ nhất là tập im lặng. Cách thứ nhì tốt hơn, là khi bắt đầu có cuộc đàm thoại nào thì nhận định ngay mục đích của nói. Câu chuyện nào cũng nhắm một mục tiêu. Mục tiêu đó có thể chỉ là trao đổi ít câu hỏi thăm để hai bên tỏ cảm tình với nhau. Nhiều khi mục tiêu là để biết thêm về một việc gì hoặc ngược lại, cho người nghe biết một tin tức gì… chỉ khi nào ta nhận định được rõ ràng mục đích của cuộc đàm thoại, lúc bấy giờ ta mới không thất thố trong lời nói, không nói một cách vô ích. Ta theo sát đầu đề, tránh những lời phê phán thiên lệch, những tình cảm không hợp lúc. Cũng khỏi nói dông dài, tào lao, lạc ra xa mục đích của câu chuyện. Mình theo sát đầu đề thì người nghe cũng phải theo sát nó, mà khỏi bối rối, ngỡ ngàng.”

Vậy bạn nên thường tự hỏi câu này: “Nói điều đó có ích lợi gì không?” để tự kiểm soát được cái hướng của câu chuyện mà tránh được tật phí lời. Chỉ cần hai giây để tự hỏi như vậy mà nhiều khi tiết kiệm được mười, mười lăm phút vào những cuộc tranh luận hoặc nói dông dài vô ích. Không đến nỗi ngậm miệng hẳn, nhưng cũng phải ráng đừng tía lia cái miệng suốt ngày.

Các bà các cô thường mắc tật hay nói, nói luôn miệng; đôi khi cũng ngưng lại hỏi khách một câu, nhưng hỏi chỉ để hỏi, nghĩa là cũng để nói nữa, chứ không phải để nghe người ta đáp.

Một nữ tiểu thuyết gia Mỹ bảo: “Các bà các cô nên nói ít hơn mà suy nghĩ nhiều hơn, nên lựa kỹ hơn các ý họ muốn diễn và tìm cách diễn cho khéo hơn.”

Dưới đây là vài lầm lẫn nhiều người mắc phải mà làm cho câu chuyện kéo dài hoài không dứt.

- Khi bạn muốn kể lại một chuyện nào thì đừng dùng thể đối thoại, nghĩa là đừng dùng những câu như vầy: “Bà ấy bảo tôi rằng…”; “tôi đáp lại rằng...”, lối đó rườm rà lắm. Ráng tóm tắt lại câu chuyện.

- Đừng dùng những lời sáo, không diễn tả gì cả, làm nhàm tai người nghe, mất thời giờ của mình.

Biết chủ động tình cảm của mình

Biết chủ động tình cảm của mình, đừng để cho nó lôi cuốn thì tiết kiệm được nhiều thì giờ. Giận dữ, sợ hãi và các tình cảm khác nữa đều là những nguồn sinh lực. Không thể ngăn cản cảm xúc, phá phách thể chất và tinh thần của ta, nhưng có thể dùng chúng như một nguyên động lực vào một việc hữu ích được. Tôi xin lấy hai thí dụ:

1- Giận dữ. Giận dữ thường tác động như một thứ “thắng”. Vì nó làm cho ta chú hết tinh thần vào những người hay vạt ở ngoài làm cho ta nổi giận, do đó ta không nghĩ tới những khả năng giải quyết sự xung đột nữa. Giải pháp: đáng lẽ nổi điên lên, mạt sát người hay biến cố đã làm cho ta bực mình thì nên tìm xem nguyên nhân chính xác ở đâu. Trong đa số trường hợp, sẽ thấy chính bạn cũng chịu trách nhiệm đó: vì quên, hay lầm lẫn, hoặc nói một câu vô ý. Gắng sức tự phân tích như vậy, bạn sẽ thấy những nhược điểm của mình mà tìm cách tu tỉnh.

2- Phản kháng. Cảm xúc này là một nguồn sinh lực phong phú hơn sự giận dữ. Giải pháp: khi một người nào mạt sát bạn một cách bất công, thốt những lời làm cho bạn bất bình, thì bạn nên kiên nhẫn gom hết năng lực tinh thần lại, ngó môi người đó mấp máy mà đừng để ý tới ý nghĩa lời nó của họ, như vậy sẽ khỏi phí sinh lực và thời giờ.

Dùng tới tiềm thức

Chúng ta đã biết, nhờ một khả năng kỳ diệu của tiềm thức mà trong khi ngủ chúng ta cũng học được một sinh ngữ. Ai cũng có một tên đầy tớ kín đáo và trung tín luôn luôn sẵn sàng làm cho ta vài công việc nào đó trong khi ta mắc việc khác. Tên đầy tớ đó là tiềm thức. Nên tập cách ra lệnh cho nó:

1- Tự định rõ công việc mình phải làm: phô diễn một ý tìm một phương pháp làm việc,…

2- Đọc kỹ các tài liệu liên quan tới công việc của mình, tự nhủ rằng mỗi tài liệu có thể thành một yếu tố của tác phẩm mình sẽ soạn.

3- Lựa một lúc thuận tiện mà tập trung tinh thần để biết rõ mình đã có những tài liệu nào, cần kiếm thêm tài liệu nào nữa.

4- Ráng suy tư để đào sâu vấn đề, đừng để cho óc vơ vẩn lạc ra ngoài đề. Nếu cần thì định một thời hạn để tìm cho được giải pháp.

5- Lúc thuận tiện nhất đề giao công việc cho tiềm thức là lúc sắp đi ngủ. Khi lên giường nằm, ôn lại rõ ràng các dữ kiện của vấn đề.

6- Rồi từ lúc đó cho tới kỳ hạn đã định, bạn đừng nghĩ tới vấn đề đó nữa, cứ tin ở tiềm thức, mặc cho nó làm việc, nhưng hễ nó gợi ý gì cho bạn thì bạn ghi chép lại liền. Có thể rằng bạn không tìm ngay ra được phương pháp lý tưởng đâu, nhưng cứ luyện cho tiềm thức làm việc thì rồi bạn sẽ có được những kết quả đáng ngạc nhiên; mà như vậy trong một thời gian không đáng kể so với thời gian dùng trí thức (chứ khong phải tiềm thức) để nghiên cứu kỹ vấn đề.

Có nhiều hạng bạn

Những bạn chân tình làm cho đời ta thêm ý nghĩa thì không gì quý bằng, điều đó chẳng cần phải chứng minh. Nhưng còn những người mình chỉ quen biết sơ sơ, cũng tự xưng là bạn thân, thực ra chẳng quý mến gì mình, chẳng ích lợi gì cho mình mà còn làm cho ta khó chịu, bực tức, mất thì giờ nữa.

Vậy phải phân biệt hai hạng bạn đó. Những lời chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp được bạn ít nhiều.

Bạn kể tên những người bạn giao du mà không phải vì nghề nghiệp. Bạn đánh dấu (+) trước tên những người mà bạn cho là hạng bạn “tích cực”, còn những người khác thì đánh dấu (-). Nếu hạng trên nhiều hơn hạng dưới thì bạn có thể tự cho là đáng mừng đấy. Nếu ngược lại thì bạn nên xét xem những người gọi là “bạn” đó, giao du với họ có lợi gì không, dĩ nhiên là lợi về tinh thần, hay chỉ mất thì giờ, sinh lực thôi. Theo tôi nhận xét thì một phần ba những người tự xưng là bạn, thường chỉ có một giá trị tiêu cực. Chỉ giữ lại hai phần ba kia thôi, bạn sẽ đỡ tốn biết bao thì giờ mà cuộc sống của bạn chẳng nghèo nàn đi chút nào.

Đây là vài tiêu chuẩn để biết bạn nào đáng quý, bạn nào nên xa lánh. Về mỗi người bạn, ta nên tự hỏi những câu này:

- Người đó có phải lần nào cũng tới để phàn nàn than thân trách phận không? Trong câu chuyện với ta, chỉ nói rặt về những nỗi ưu tư của họ không? Có bao giờ quan tâm tới những lo lắng, khó khăn của ta không?

- Có hay ngồi lê, nói xấu người khác? Có bi quan quá mức không? Có bàn tán suốt buổi về những vụ ám sát, những nguy cơ chiến tranh, phàn nàn về thuế má, vật giá và các tai nạn khác không?

- Có muốn tỏ vẻ tài giỏi hơn ta không? Có thiếu tinh thần phong nhã không?

- Có ráo riết khuyên ta, như muốn ép ta theo ý kiến họ không?

Tóm lại, giao du với họ, ta còn hóa ra chán đời, trầm uất không?Nếu có thì đừng do dự gì cả, lánh xa họ ra. Thời giờ giao thiệp với họ, để dùng vào việc khác có ích hơn.

Bổn phận xã giao

Thì giờ dùng vào việc xã giao không phải là vô ích nếu thực tâm ta thấy thú. Nhưng xã giao có luôn luôn là điều thích thú không? Tôi đem câu đó hỏi một đại kỹ nghệ gia, ông ta đáp không và còn quyết tâm bớt xã giao đi nữa. Ông ta dặn trước bà vợ hôm nào mời khách lại ăn thì cho ông biết giờ nào ngồi vào bàn, để đúng giờ đó ông mới xuất hiện, khỏi mất ghì giờ quý báu vào việc tán gẫu trong khi uống rượu khai vị đợi bữa. Thường thường các bà chủ nhà cũng chỉ mong khách tới đúng giờ ăn chứ đừng tới sớm và ăn xong thì ra về chứ đừng ngồi lại tới quá nửa đêm.

Nghệ thuật cáo biệt

Rất ít người biết cáo biệt đúng lúc rồi ra về ngay. Có khi từ lúc ngỏ ý muốn về cho tới lúc bước ra khỏi cửa, cửa khép lại rồi, mất cả một giờ. Cứ ngồi nán lại nói chuyện thêm nữa mà câu chuyện lúc đó thường là nhạt nhẽo. Hễ đã xin phép ra về thì bước ra liền cách đó không làm mất lòng chủ đâu. Mà đỡ phí một giờ. Giờ đó có thể về nhà làm việc gì thích thú, nếu không thì đi ngủ sớm để sau lại sở khỏi ngáp lên ngáp xuống.

Phải biết nói “Không!”

Khi đã quyết tâm không bỏ phí thì giờ thì trong một số trường hợp phải biết cương quyết nói “Không!”. Rất nhiều người nhu nhược cái gì cũng chiều lòng người khác. Việc gì mình không thích thì cứ từ chối thẳng, đỡ phí thì giờ để làm mà lại giữ cho đời mình khỏi đi chệch ra ngoài cái hướng mình đã định cho nó.

Liệng bớt đi cho khỏi chật chội

Có người không quyết tâm liệng bỏ những vật vô ích đi được, thành thử nhà thêm chật chội mà cuộc sống thêm bận bịu, phức tạp. Có kẻ lại mua một cách vô lối đủ các đồ rồi chất chứa trong nhà, không thấy rằng đã chẳng dùng gì tới mà còn làm nô lệ cho đồ.

Một ký giả nổi danh đã kê khai một cách dí dỏm những của cải xâm chiếm căn nhà của ông như sau:

1- Những vật đặt trên những vật khác: nắp hộp, mực, nút chai, nút bình,…

2- Những vật tách rời khỏi các vật khác: nút áo, bản lề, hoa sen, bình tưới cây, đanh ốc, máy hút bụi.

3- Những vật chứa các vật khác: hộp giấy, hộp sắt, bình, keo đủ loại.

4- Những vật “bỏ thì thương, vương thì tội”: cỗ bài thiếu vài ba quân, áo sơ mi cũ (có thể một ngày kia dùng làm giẻ lau), găng bao tay mất một chiếc (biết đâu sau này chẳng kiếm được một chiếc nữa cùng cặp).

5- Những đồ cho vào kho: cả chục chậu cây lăn lóc trong vườn làm cho vấp hoài, ống tưới nước, đồ dùng hư.

6- Những vật có một giá trị tình cảm: thiệp mời, thiệp báo hỉ, bằng cấp thời trẻ, thiệp noël năm trước, cà vạt gợi những kỷ niệm cũ.

7- Những đồ đẹp quá không dám dùng tới: ly tách để khi nào có cơ hội đặc biệt mới đem ra dùng, tấm màn thêu một bà cô tặng.

Ngày nào bạn nhất quyết liệng hết những hộp, những mẩu dây “có lúc dùng tới”, thì bạn sẽ tiết kiệm được số thì giờ phải dùng để sắp đặt và lâu lâu phủi bụi những vật đó.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Lợi mỗi ngày được một giờ
  • Tác giả: Ray Josephs
  • Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish
  • Nguồn: caphebuoitoi