Triết học Tây âu thời trung cổ

V. TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ

1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Tây Âu thời Trung cổ

a. Hoàn cảnh ra đời

Xã hội Tây âu thời trung cổ được tính từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14

  • Những cuộc khởi nghĩa của nộ lệ và những cuộc đấu tranh giai cấp kịch liệt khác diễn ra trong thời kỳ khủng hoảng của chế độ nộ lệ, kết hợp với những cuộc tấn công của những bộ tộc đã đưa tới sự sụp đổ của chế độ La Mã phương Tây vào thế kỷ thứ IV. Đó là một sự kiện có ý nghĩa thế giới đối với Tây Âu, sự kiện ấy có nghĩa là hình thái nô lệ cổ đại đã chấm dứt và chế độ phong kiến trung cổ ra đời.
  • Nền văn hóa Hi-lạp và La-Mã đã bị thay thế bởi một nền văn hoá mới - văn hoá phong kiến mà cái trục tư tưởng của nó là Thiên chúa giáo.
  • Tuy nhiên, đến khoảng thế kỷ thứ 10, nền kinh tế và văn hoá bắt đầu phát triển. Có đài quan sát thiên văn, “Cuốn sách về bảng toán” (năm 1202) trình bày đầy đủ về cơ sở toán học và đại số học, có kim nam châm áp dụng trong ngành hàng hải. Nhà bác học Rôgie Becon đã nghiên cứu những hiện tượng quang học và thiên văn học. Nửa thế kỷ 13, người ta bắt đầu chế ra được kính đeo mắt, phát minh ra được đồng hồ, cối xay chạy bằng sức gió..v.v..

b. Đặc điểm của triết học Tây Âu thời Trung cổ

  • Đặc điểm thứ nhất: Triết học phụ thuộc vào thần học. Bởi vì xã hội Tây âu thời Trung cổ bị tư tưởng thần quyền thống trị nên nó vùi dập tư tưởng duy vật khoa học của thời cổ đại đã tạo dựng lên. Thực chất triết học thời này là triết học của giai cấp thống trị, là một thứ triết học duy tâm, tôn giáo
  • Đặc điểm thứ hai: Cũng từ đặc điểm thứ nhất mà triết học Tây Âu thời Trung cổ về thực chất là nền triết học biện minh cho tính hợp lý của xã hội thần quyền; đồng thời nó quay lưng lại với tri thức khoa học do đó nó làm kìm hãm sự phát triển của khoa học.

2. Một số đại biểu của phái duy danh và duy thực

Tuy là “đêm trường Trung cổ” nhưng triết học cũng có bóng dáng của cuộc đấu tranh của phái Duy danh và phái Duy thực. Cuộc đấu tranh của phái “Duy Danh” với phái “Duy Thực” là hiện tượng nổi bật nhất trong lịch sử triết học Trung cổ. Nội dung chủ yếu xoay quanh vần đề bản tính của các khái niệm chung (khi ấy người ta gọi là cái phổ biến). Họ tranh luận về khái niệm vì xã hội bây giờ bị thần học thống trị nên không thể đi sâu vào bản thể luận mà chỉ đi sâu vào lĩnh vực tư duy, nhận thức luận là chính.

a. Phái Duy Danh

  • Phái này thừa nhận chỉ có sự vật đơn nhất, cá biệt là có thực, còn những cái phổ biến chỉ là cái tên gọi giản đơn mà người ta gán cho các hiện tượng riêng lẻ. Cái chung với tư cách là khái niệm, là bản chất sự vật được lý trí con người trừu tượng hoá khỏi sự vật. Khái niệm chung là những cái TÊN để chỉ một tổng số tương đương của nhiều sự vật và chống lại phái duy thực. Phái Duy Danh cho rằng vật chất tự nó là thế giới hiện thực, không cần phải có những “hình thức tinh thần” nào cả…Đại biểu của phái này là Đơn- XCốt (Duns Scot) (1265- 1308) người Scotland. Về sau này có học trò của ông là Gui LLame D'Occam (1300- 1350) Triết gia người Anh nhưng sống và chết ở Đức.
  • Chủ nghĩa Duy Danh đã góp phần thúc đẩy sự tan rã của chủ nghĩa kinh viện và dọn đường cho sự phát triển của khoa học tự nhiên. Nó đầy mạnh sự hứng thú nhận thức tự nhiên bằng thực nghiệm. Nó góp phần giải phóng khoa học tự nhiên ra khỏi thần học, nó chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện và chuẩn bị cho sự phát triển mới của triết học trong thời đại Phục hưng. Mặc dù chủ nghĩa Duy Danh của Occam bị cấm nhưng ở trường đại học Paris vào thế kỷ XiV - XV đã có nhiều người theo trào lưu ấy. Phái Occam ở Paris nghiên cứu toán học, cơ học, thiên văn học và thậm chí đã giải thích về sự vận động của trái đất, một số người trong họ đã khôi phục nguyên tử luận cổ đại.Giáo hội đương thời đã cấm và đốt những tác phẩm của các môn sinh của Occam.

b. Phái duy thực

  • Đại biểu cho phái duy thực làTô- Mát- Đa- Canh (Thomas D'Aquin (1225 -1274) người Ý. Họ cho rằng những cái phổ biến tức khái niệm chung có thực, nó là thực thể tinh thần nào đấy có trước các sự vật. Nói một cách khác: cái cụ thể chỉ là bóng của khái niệm chung: Họ cho rằng cái có trước hết là khái niệm “con người” rồi sau đó mới có sản vật của khái niệm, đó là những con người riêng lẻ. Học thuyết của Tô-Mát-Đa-Canh là học thuyết của chủ nghĩa kinh viện phổ biến nhất hồi ấy (Chữ “Kinh viện” theo tiếng Hi-lap là Scola có nghĩa là “trường học”, muốn nói đến thứ triết học của giai cấp phong kiến thống trị, chiếm vị trí độc quyền thống trị trong giáo dục ở nhà trường).Từ đó suy luận ra thì “Đấng chúa trời” là khái niệm chung - có thật và con người do chúa trời nặn ra là sự thật. Vật chất là một khả năng không xác định và thụ động, chỉ có hình thức tinh thần mới làm cho nó có sự tồn tại thực tế. Con người do chúa trời sinh ra, mọi cái trong giới tự nhiên đều thích hợp: Mặt trời cho con người sức nóng, mưa rơi để đất có nước; mèo sinh ra là để diệt chuột. Động đất và bão táp phá hoại là do chúa trời gây ra để trừng phạt tội lội của người và cảnh cáo người. Tô-Mát-Đa-Canh thừa nhận hệ thống Ptôlêmê lấy quả đất làm trung tâm là trung tâm bất động của thế giới còn mặt trời, mặt trăng quay xung quanh nó. Giới tự nhiên là nền móng của giang sơn nhà trời. [Xét về lịch sử thì triết học của Tô-Mát-Đa-Canh là sự tiếp tục triết học duy tâm của Platon thời cổ đại (cho rằng thế giới hiện thực là cái bóng của ý niệm) và kế tục những tư tưởng của Ô-guýt-xtanh (354 - 430), một giáo chủ, một trụ cột của triết học thần học thời trung cổ. (Ô-guýt-xtanh cho rằng thượng đế sáng tạo ra toàn bộ sự phong phú của giới tự nhiên. Tuy nhiên sau khi được Chúa sáng tạo thì giới tự nhiên vận động theo quy luật riêng của mình. Chúa không còn tồn tại trong các sự vật được cảm biết mà là cái gì huyền bí,hư ảo)]. Như vậy những quan niệm về trật tự bất biến của thế giới bất động ấy thực chất là sự phản ánh rõ rệt kết cấu của xã hội phong kiến. Ph. Angghen viết: “tôn ti trật tự là hình thức lý tưởng của xã hội phong kiến”.

Kết kuận: Đằng sau cuộc đấu tranh giữa phái “Duy danh” và phái “Duy thực” không những ẩn dấu mầm mống của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý mà đó là bước đầu phân chia ranh giới hai khuynh hướng đối lập nhau là giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm và cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng ấy. Chủ nghĩa duy vật với đại diện là những nhà tư tưởng tiên tiến, những lực lượng xã hội tiến bộ chống lại thần quyền và tôn giáo, chống lại chế độ phong kiến.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang