Triết học Ấn Độ cổ đại

I. TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

1. Điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của Triết học Ấn Độ cổ đại

a. Điều kiện kinh tế - xã hội

  • Ấn độ là một bán đảo rộng lớn ở phía nam Châu á. Đông, Tây và Nam giáp Ấn độ dương. Phía Bắc là dãy Himã lạp sơn (Himalaya) kéo dài đến khoảng 2600 Km. Đất nước Ấn độ được nuôi dưỡng bởi 2 dòng sông lớn: sống Ấn và sông Hằng. Hai dòng sông này đã tạo nên 2 nền văn minh lâu đời của thế giới.
  • Về kinh tế-xã hội: Nền kinh tế ở Ấn độ cổ đại có kết cấu đặc biệt mà C.Mác gọi là phương thức sản xuất Châu Á. Quyền chiếm hữu ruộng đất thuộc về nhà vua nhưng vẫn còn chế độ công xã nên chế độ chiếm hữu nô lệ ở châu Á không điển hình. Nô lệ đa số là nô lệ gia đình, còn lực lượng sản xuất chủ yếu là dân công xã. Cho nên xã hội không phân chia giai cấp điển hình mà có sự phân chia đẳng cấp. Có 4 đẳng cấp: tăng lữ, quý tộc, bình dân (dân tự do), nô lệ (gia nô, người cùng đinh). Ngoài ra xã hội Ấn độ cổ đại còn phân chia chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo.Xã hội như vậy làm cho con người rất đau khổ nhưng trong thực tế họ không thể thoát ra được, nên về tư tưởng họ đành phải đi tìm đường để giải thóat mà chủ yếu là sự giải thoát của tâm linh.
  • Có thể nói Ấn Độ cổ đại là xứ sở đã xây dựng được văn hoá và văn minh rất sớm trong lịch sử. Từ thế kỷ thứ XV trước công nguyên, người Ấn Độ đã phát hiện ra trái đất hình tròn và xoay quanh trục của nó, đã tìm ra chữ số làm tiền đề cho môn số học và tìm ra phép làm lịch để đoán thiên văn, hoá học và y học cũng phát triển rực rỡ. Nét nổi bật của văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại là thường mang dấu ấn sâu đậm về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh và có yếu tố thần bí.

Chính các tiền đề này đã làm cho nền triết học Ấn Độ ra đời và phát triển.

b. Đặc điểm tư tưởng Triết học Ấn Độ cổ đại

  • Thứ 1: Triết học Ấn Độ cổ đại kế thừa tư tưởng văn hoá dân gian của người Ấn Độ tối cổ biểu hiện ở kinh Vêđa. Mỗi trường phái triết học thường kế tục và tìm cách làm sáng tỏ một học thuyết đã có mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước. (C. Mác nhận định rằng do đặc điểm này của triết học Ấn Độ mà dẫn đến sự trì trệ của xã hội Ấn Độ. Sách” Triết học Mác-Lênin.t1. Học viện Nguyễn Ái Quốc. nxb.Tư tưởng vh1991. tr57)
  • Thứ 2: Nền triết học Ấn Độ cổ đại có nội dung cốt yếu là bàn về nguồn gốc của thế giới và mối quan hệ giữa linh hồn và thề xác, về sự giải thoát của tâm linh. Điều này cho thấy xu hướng “hướng nội” rất rõ.
  • Thứ 3: Ở Ấn Độ, tư tưởng tôn giáo rất phát triển nên triết học chịu ảnh hưởng lớn của tôn giáo, triết học và tôn giáo đan xen nhau.

2. Các tư tưởng triết học cơ bản của các trường phái

  • Theo cách phân chia truyền thống thì các tư tưởng của triết học Ấn Độ cổ đại gồm 6 trường phái chính thống (Tiêu chuẩn chính thống là sự thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của kinh Vê Đà, thực chất là theo Upanisad) và 3 trường phái không chính thống. Trường phái chính thống gồm: Samkhuya, Mimànsà, Vêdànta, Yoga, Nyàya và Vaisesika.Trường phái không chính thống gồm: Jaina, Lokàyata và Đạo Phật.Tư tưởng của các trường phái này bao gồm những tư tưởng duy vật vừa có những tư tưởng duy tâm. Có thể coi Mimànsà và Vêdànta có khuynh hướng duy tâm mà tiêu biểu nhất là Vêdànta. Có tính nhị nguyên luận là phái Samkhuya. Chứa đựng nhiều yếu tố duy vật có phái Lokayata, Nyàya và Vaisesika. Trong đó học thuyết duy vật của phái Lokayata (Cha-rơ-vac) là triệt để nhất, nó đối lập với thuyết Vedenta (kinh Vê đà) của đạo Bàlamôn.

b. Trường phái chính thống

  • Samkhya: Tư tưởng trung tâm của phái này là vấn đề bản nguyên của vũ trụ. Phái Samkhya sơ kỳ cho rằng mọi vật có nguyên nhân vật chất. “Vật chất đầu tiên” là thể thống nhất của 3 yếu tố bao hàm sự đối lập. Đó là: Sattva (nhẹ, sáng, tươi vui). Rajas (kích thích, động), Tamas (nặng, ỳ). Ba yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì “vật chất đầu tiên” chưa biểu hiện - tức là trạng thái không thể trực quan được. Nhưng khi trạng thái cân bằng đó bị phá vỡ thì đây là lúc khởi đầu của sự sinh thành vạn vật. Tuy nhiên phái Samkhya hậu kỳ có khuynh hướng nhị nguyên luận.
  • Mimansa: Vạn vật có nguyên nhân của nó. Thế giới là một quá trình liên tục của các sự vật hình thành và tiêu diệt. Tri thức của con người dựa vào cảm giác mà cảm giác không thể nhận ra thần. Do vậy không có chứng cứ nào để nói rằng có thần hay thượng đế sinh ra vạn vật. (Phái Mimansa rất tôn trọng nghi lễ và thừa nhận sự đúng đắn của kinh Vêda,mà Vêda gồm nhiều tập nói về thần, nhưng Mimansa phủ nhận thần vì họ cho rằng tên các thần trong Vêda chỉ là những âm thanh cần thiết để đọc thần chú trong nghi lễ mà thôi). Tuy nhiên phái Mimansa hậu kỳ thừa nhận có thần.
  • Vedànta: Vedànta có nghĩa là kết thúc Vêda, mà tác phẩm kết thúc Veda là Upanisad. Đây là học thuyết của đạo Bà la Môn. Thuyết này cho rằng “Tinh thần thế giới “là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Linh hồn con người là hiện thân của tinh thần thế giới và tồn tại vĩnh viễn theo luật luân hồi. Muốn sống được hạnh phúc thì linh hồn con người phải được siêu thoát, nghĩa là linh hồn con người phải hòa nhập với tinh thần thế giới. Để đạt được như vậy thì con người phải từ bỏ cuộc sống trần tục xấu xa, phải dựa vào sự linh báo của kinh Vêda.
  • Yoga: Thừa nhận có thần nhưng cho rằng thần cũng là một dạng linh hồn cá thể mà thôi. Phái Yoga, Minansa, Vedanta đều có xu hướng giải quyết vấn đề nhân sinh quan theo mục đích đạt tới sự giải thoát “hoà đồng cái tôi“, tiểu ngã” với cái “đại ngã, vũ trụ”. Bằng phương pháp luyện tập và tu luyện,con người có thể làm chủ mình và đạt được sự giải thoát.
  • Trường phái Nyàya - Vaisesika: Phái Nyaya -Vaisesika cho rằng thế giới được hình thành từ nguyên tử, nguyên tử là bản nguyên của vũ trụ. Nguyên tử gọi là Anu. Linh hồn nằm bên ngoài vật chất và phụ thuộc vào vật chất, linh hồn được thể hiện ra như ước vọng, ý chí, tình cảm vui buồn. Về mặt nhận thức trường phái triết học này cho rằng sự nhận thức của con người bao giờ cũng lấy thế giới khách quan làm đối tượng; đề cao vai trò của kinh nghiệm. Hơn nữa phái này còn cho rằng cần kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức bằng thực tế. Về lôgic, họ đã nêu được cách suy luận qua ngũ luận đoạn. (1/ Đồi có lửa cháy; 2/ Vì bốc khói; 3/ Tất cả cái gì bốc khói đều có lửa cháy; 4/ Đồi bốc khói thì không thể không có lửa cháy; 5/ Do đó đồi có lửa cháy.). Đây là một trường phái triết học duy vật trong nền triết học Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên phái này còn thừa nhận có thần linh làm cầu nối giữa nguyên tử và linh hồn. Thần cũng là một nguyên tử để xây dựng nên thế giới.

c. Trường phái không chính thống

  • Jaina: Tư tưởng căn bản của phái này là thuyết tương đối: thế giới vừa biến đổi, vừa không biến đổi. Cái vĩnh hằng là vật chất, cái không vĩnh hằng là các dạng của vật chất. Nhưng phái này cũng thừa nhận mọi vật có linh hồn. (Có thể xem tư tưởng của họ là nhị nguyên luận)
  • Phật giáo (Buddha): Người sáng lập Phật giáo tên là Buddha (Trung Quốc dịch là Phật). Tên thật là Siddharta (Tất Đạt Đa) là người sáng lập nên Phật giáo, Siddharta sinh năm 623 và mất năm 543 trước CN, sống khoảng 80 năm.
    • Kinh điển của Phật giáo gồm 3 bộ, gọi là Tripitaka (Tam Tạng).

+ Kinh là bộ sách mà học trò của Thích ca ghi chép những lời truyền giảng của Thích ca.

+ Luật là bộ sách hàm chứa những điều giới của nhà Phật mà những người tu hành phải tuân theo.

+ Luận là sự tổng hợp tư tưởng của các bậc cao tăng bàn luận về những nguyên lý căn bản của Phật.

    • Bản thể luận (vũ trụ quan, thế giới quan): Về mặt bản thể luận tư tưởng của Phật đã vượt ra khỏi những quan điểm của tư tưởng đương thời. Phát triển học thuyết về mối quan hệ nhân quả nên Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của Brahman.

+ Tư tưởng biện chứng: Phật nhìn thế giới trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng nên Phật cũng phủ nhận “cái Tôi”. Từ đó Phật giáo nêu hai khái niệm vô thường, ngô ngã.

  • Vô thường: “là không thường còn”, mà vạn vật đều biến đổi trong từng giây từng khắc theo chu trình sinh - trụ - dị - diệt, không có bất kì một thực thể nào vĩnh hằng không sinh diệt.
  • Vô ngã: là không có cái gọi là “ta”, vì vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay cả bản thân con người cũng là do ”ngũ uẩn” hội tụ lại (sắc-vật chất, thụ-cảm giác, tưởng-ấn tượng, hành-suy lý, thức- biết) Từ các quan niệm trên cho thấy rằng về mặt vũ trụ quan thì tư tưởng của Phật là vô thần và biện chứng.
  • Nhân sinh quan của Phật giáo: Tư tưởng bao trùm trong nhân sinh quan Phật giáo là tư tưởng “giải thoát” được thể hiện trong “tứ Diệu đế”.
(i) Khổ đế: chân lý về sự khổ. Phật cho rằng kiếp người là khổ, nỗi khổ ấy được biểu hiện ở quy luật sinh - lão - bệnh - tử. Ngoài ra, nỗi khổ của kiếp người còn được biểu hiện ở các khái niệm sau:
  • Ái biệt ly: nỗi khổ của sự chia xa, thương nhau mà phải xa nhau.
  • Oán tăng hội: nỗi khổ được hình thành từ chỗ ghét nhau mà chung sống với nhau.
  • Sở cầu bất đắc: muốn mà không được.
  • Thủ ngũ uẩn: khổ do thân xác con người tạo nên (Sắc, thụ, tưởng, hành, thức).

Nói một cách khái quát theo triết học Phật giáo thì nổi khổ của con người là do con người tạo ra, quan điểm này là đúng nhưng chưa thoả đáng bởi con người có quan hệ với thiên nhiên và với xã hội và chính thiên nhiên cũng như quan hệ xã hội là nguyên nhân làm cho con người khổ.

(ii) Nhân đế: Về nguyên nhân của sự khổ. Theo Phật sự khổ của kiếp người là do 12 nguyên nhân tạo nên (gọi là thập nhị nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử). Trong các nguyên nhân ấy thì “Vô minh”, tức sự ngu tối là nguyên nhân đầu tiên. Ngoài ra có những nguyên nhân rất hiện thực, cụ thể trong đời sống hằng ngày, nhưng cũng có những điều rất thần bí.
(iii) Diệt đế: Cho rằng sự khổ của kiếp người là có thể diệt đi được.
(iv) Đạo đế: là chân lý về con đường giải thoát. Đó là thực hiện bát chánh đạo.
  • Chánh kiến: nhìn cho đúng, thấy cho đúng, hiểu cho đúng về sự thật nhân sinh.
  • Chánh tư duy: suy nghĩ đúng.
  • Chánh ngữ: nói năng cho đúng.
  • Chánh nghiệp: bỏ tà nghiệp đi theo con đường chân chính.
  • Chánh mệnh: phải biết tiết chế dục vọng.
  • Chánh định: phải biết định tâm hướng về sự giải thoát.
  • Chánh niệm: phải luôn tâm niệm, có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát.
  • Chánh tinh tiến: phải hăng say truyền bá tư tưởng của Phật, để đạt được sự tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

Thực hiện đúng tám chánh Đạo thì sẽ đến được cõi Niết Bàn. Niết Bàn là trạng thái thanh thản của tâm linh, mục đích cuối cùng của sự giải thoát.

+ Phật giáo không thừa nhận thượng đế sáng tạo ra thế giới nhưng vẫn thừa nhận linh hồn bất tử, độc lập với thể xác, trải qua nhiều kiếp luân hồi do nghiệp báo. Phật cũng hướng con người đến niết bàn - một trạng thái tâm linh thanh thản. Muốn vậy con người phải khổ hạnh tu luyện. Có thể nói rằng triết học phật giáo là triết học hướng nội,chú trọng đến đời sống tâm linh của con người. Triết học Phật giáo là một trường phái triết học có địa vị lớn trong lịch sử tư tưởng của Ấn Độ và của nhân loại nói chung, dù nội dung của nó có những mặt hạn chế như bi quan, thoát tục. Tuy nhiên có những luận điểm triết học của nó giàu tính minh triết, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về thế giới có tác dụng trực tiếp trong quá trình con người điều chỉnh hành vi để đạt được chân, thiện, mỹ.

  • Lokàyata.
    • Bản thể luận:

+ Đại biểu rõ rệt nhất của đường lối duy vật trong Triết học Ấn Độ cổ đại là học thuyết Lokayata. Những người theo học thuyết này cho rằng thế giới là vật chất. Họ khẳng định rằng mọi cái trên thế giới đều do 4 yếu tố là lửa, không khí, nước và đất hợp thành. Các sinh vật, kể cả người cũng là từ những yếu tố vật chất ấy mà ra. Nói về vật chất là cơ sở của mọi cái tồn tại, thuyết này có câu “Sự sống đã sinh ra từ vật chất “. Phái này giải quyết vấn đề quan hệ giữa ý thức và vật chất một cách duy vật mộc mạc. Họ hiểu ý thức là một thuộc tính cố hữu của cơ thể; ý thức sinh ra do sự phối hợp tất cả 4 yếu tố ấy trong cơ thể con người. Người không phải là gì khác mà chỉ là cơ thể có ý thức. Như thế, đối với phái Lokayata, không có linh hồn tách khỏi cơ thể, không có linh hồn đạt tới thế giới thiên đình hay là năng lực siêu thoát, không có linh hồn bất tử.

+ Họ phủ nhận sự tồn tại của thần và thừa nhận thế giới vật chất là đối lập với ý chí của thần mà tuân theo quan hệ nhân quả nội tại của nó: “Lửa nóng; nước lạnh và cái mát mẻ của gió sớm mai. Sự khác nhau ấy đã được tạo ra như thế nào? Nó xuất phát từ bản chất riêng của chúng “

    • Nhận thức luận: Phái này đã chú ý đến những vấn đề của nhận thức luận và lôgic học. Nguồn gốc của sự nhận thức chân lý là tri giác, cảm giác. Tri thức chân thực sinh ra từ tri giác. Họ cho rằng sự suy lý để đi đến kết luận, dù rằng không xác thực hoàn toàn nhưng vẫn có ích cho hoạt động thực tiễn.
    • Về nhân sinh quan: Phái này cũng phê phán tôn giáo cả trên lĩnh vực đạo đức. Họ cho rằng tuyên truyền cho sự chấm dứt đau khổ bằng cách kiềm chế mọi dục vọng thực ra là tuyên truyền cho cái chết. Họ coi sự hưởng thụ những thú vui của cuộc sống là quyền tự nhiên của con người.

3. Một số nhận định về triết học Ấn độ cổ đại

  • Đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề của triết học, đã thể hiện tư tưởng biện chứng đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triết học của nhân loại.
  • Quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh nhưng nghiêng về góc độ tâm linh, tôn giáo. Hướng con người đến sự hoà đồng giữa cái “tiểu ngã” với “đại ngã”.
  • Tuy nhiên hầu hết những tư tưởng triết học này thường ban đầu ít nhiều duy vật, vô thần,về sau lại biến đổi theo chiều hướng duy tâm, hữu thần.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang