Tin dị đoan

2. Tin dị đoan

Bây giờ tới vấn đề gay cấn, vấn đề dị đoan. Tiếng dị đoan hồi xưa có nghĩa là “mối lạ”, trỏ những tín ngưỡng không phải là chính giáo, ngày nay trỏ những tín ngưỡng vô lý. Khoa học càng tiến, càng phổ biến thì dị đoan càng bớt đi mà số người dị đoan cũng bớt đi. Ngày nay ít người ra ngõ, gặp gái thì quay trở vào mà đợi có bóng đàn ông sắp tới mới dám bước ra, đi đâu xa, cũng ít người chọn ngày, nhưng không biết bao giờ khoa học mới có thể giảng hết những cái mà ngày nay ta cho là huyền bí. Tới nhiều nhà khoa học tuy không tin khoa học huyền bí mà cũng chưa dám bác hẳn khoa học huyền bí.

Ông Camille Fammarion và nhiều nhà khác hồi mấy chục năm trước dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu nó; công việc đó còn được tiếp tục và gần đây bác sĩ Alexis Carrel - một vị đã được giải thưởng Nobel - viết cuốn Le voyage de Lourdes để kể những phép màu ở nhà thờ Lourdes: rất nhiều người mắc những bệnh mà Tây y không chữa nổi, lại hành hương ở Lourdes, tắm nước suối ở đó mà khỏi bệnh được, có khi chỉ trong một vài ngày. Những trường hợp đó đều được ghi chép kỹ lưỡng trong hồ sơ của một cơ quan y tế tại Lourdes. Đọc xong cuốn sách đó tôi có cảm tưởng rằng tác giả cho rằng có sức gì huyền bí trị được những bệnh đó. Đức đó là đức tin, nhưng tại sao đức tin lại có kết quả phi thường như vậy, tại sao cơ thể lại biến chuyển đột ngột lạ lùng như vậy thì ông không giảng được. Tôi mới kể qua vài tác giả mà tôi biết, còn rất nhiều nhà nữa có thành tích, có tiếng tăm cũng tin, hoặc nửa tin nửa ngờ.

Trái lại có những vị nhất định không tin mà đả đảo kịch liệt như ông Paul Couderc trong cuốn L'astrologie (Presses universitaire de France - 1957), ông Marcel Boll trong cuốn L'éducation du jugement.

Giữa hai phái đó, ông Alfred Sauvy có thái độ dè dặt hơn. Trong cuốn L'opinion publique ông bảo rằng thời nào cũng có người tin khoa học huyền bí. Có môn mất đi mà cũng có môn lưu truyền từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, tất cả đều có tính cách này là các người theo những môn đó đều hơi dễ tin, không chịu nhận xét một cách khoa học, không chịu lập một thống kê biểu đàng hoàng.

Ông cho rằng khoa học huyền bí đôi khi có đúng chỉ là do sự ngẫu nhiên, nhưng ông không cương quyết đả đảo dị đoan.

Dưới đây tôi chỉ xét hai vấn đề quan trọng là ma quỷ và lý số.

A. Ma quỷ

Mặc Tử trong thiên Thượng quỷ, viết:

“Cái cách để cùng thiên hạ cùng xét xem có hay không, là phải lấy cái sự tai mắt mọi người thật biết là có hay không làm bằng... Nếu thế thì sao không vào một làng xóm mà hỏi. Từ xưa đến nay nếu thời nào cũng đã từng có những người thấy hình quỷ thần, nghe tiếng quỷ thần, thì sao lại bảo không có quỷ thần? Bằng như chẳng có ai nghe thấy, chẳng có ai trông thấy thì sao lại bảo có quỷ thần?”

Rồi ông kể ra mấy chuyện làm chứng:

“Khi vua Tuyên Vương nhà Chu giết bề tôi vô tội tên là Đỗ Bá, Đỗ Bá có nói: “Nếu kẻ chết mà không biết thì thôi. Bằng như kẻ chết còn tri giác, thì trong ba năm, ta sẽ khiến cho vua biết. Ba năm sau, Tuyên Vương họp các nước chư hầu đi săn trong vườn. Giữa trưa Đỗ Bá cưỡi ngựa bạch xe trắng, đội mũ đỏ, mặc áo đỏ, và cầm cung đỏ tên đỏ, đuổi theo Tuyên Vương mà bắn vào xe. Trúng ngực gẫy xương sống. Tuyên Vương gục lên một chiếc túi cung rồi chết.”

“Mục Công nước Trịnh giữa ban ngày ở trong miếu, thấy có vị thần vào cửa rồi sang phía tả. Vị thần ấy mình chim, áo trắng ba đoạn, khổ mặt vuông vắn. Mục Công hoảng sợ, toan chạy. Vị thần ấy nói: “Đừng sợ! Thượng Đế chứng giám đức sáng của mày, sai ta cho mày thọ thêm được mười chín tuổi nữa, khiến mày nhà nước phồn thịnh, con cháu đông đúc.” Mục Công lạy hai lạy dập đầu và hỏi thần gì. Vị thần ấy đáp là thần “Câu Mang”.

“Bề tôi của Trang Quân nước Tề có Vương Lý Ty và Trung Lý Hạo kiện nhau, ba năm không phân phải trái. Trang Quân không biết xử trí ra sao, giết thì sợ oan, tha thì sợ họ đích thực có tội, mới bảo hai người chung nhau giết một con dê, đem ra thề trước thần xã nước Tề. Hai người xin vâng. Khi thề, Trung Lý Hạo mới khấn hết nửa câu, thì con dê chết vùng dậy, xông vào húc Trung Lý Hạo, anh ta gẫy chân, chết ở chỗ thề[1].”

Ông còn đưa nhiều thí dụ nữa đại loại như vậy cả, mà lần nào ông cũng bảo đó là những “sự thực ở trước tai mắt mọi người”. Ngày nay ta không thể cho những truyện đó là “sự thực ở trước tai mắt mọi người” được. Những việc truyền khẩu lại, ngay như chép lại, mà xảy ra cùng thời với ta - đừng nói là cách ta hàng trăm, hàng ngàn năm trước - cũng vị tất đã đáng tin. Thí nghiệm của Gordon Allport ở trên đã cho ta thấy chỉ trong một buổi, một hoạt cảnh chiếu trên phim do mười người coi rồi kể lại mà đã sai đi biết bao nhiêu. Ta lại biết rằng ngũ quan của ta nhận xét cũng lầm lẫn mà sức ám thị lại rất mạnh: ta tưởng ra sao thì thấy như vậy.

Đáng cho ta suy nghĩ hơn là những truyện của nhóm Camille Flammarion, nhất là của Robert Wallace trong tạp chí Sélection du Reader's Digest số tháng 8 năm 1959. Truyện sau cùng xảy ra ngày 3-2-1958. Trong một gia đình nọ, những ve nước, ve thuốc, ve mực, tượng bắng sứ tự nhiên nhảy lên, di động. Một viên thanh tra cảnh sát lại điều tra mà không tìm ra nguyên nhân. Bác sỹ Gaither Pratt lại nghiên cứu, nhưng chỉ ở có ba ngày và ba ngày đó yên tĩnh, rồi ít bữa sau lại có chén đĩa bay đi. Tác giả bài đó, ông Robert Wallace kết luận:

“Tất cả những chuyện đó phải chăng là một vụ lừa gạt lớn lao khéo xếp đặt? Nếu vậy thì sao ông bà Hermann (tức chủ nhà) không đáng tin sao? Ở xa thì có thể nghĩ như vậy được nhưng ở tại chỗ thì thấy điều đó là vô lý (hai ông bà là người đứng đắn). Vả lại không nên quên rằng ông thanh tra Tozzi đã tới điều tra, mà ông là một người còn trẻ và rất sáng suốt (...). Xưa kia, Galiée nói về trái đất, bảo: “Vậy mà nó quay chứ!”. Nó di động cách nào được và tại sao lại di động, điều đó còn là một bí mật”

Bài đó đăng trong báo Life rồi Sélection du Reader's Digest tóm tắt lại. Xin bạn để ý đến chi tiết này trong truyện: Bác sĩ Gaither Pratt nghiên cứu mà đợi ba ngày không thấy gì cả.

Ông Marcel Boll kể lại rằng ngày 12-1-1951 đài B.B.C ở Luân Đôn cũng muốn vô tuyến truyền hình một con ma nổi danh, bà vợ thứ năm của Henri VIII, nhưng đã thất bại chua chát, vì ma sợ ánh sáng đèn rọi mà không dám hiện lên. Những thất bại như vậy làm cho đa số các nhà bác học - nhất là trong giới bác sỹ - không tin có ma quỷ, mà riêng tôi, tôi cũng ngờ ngờ. Và tới nay, tôi vẫn giữ quan niệm về ma tôi đã trình với độc giả Bách khoa trong số 61 ngày 15-7-1959. Tôi xin chép lại đoạn văn đó dưới đây:

“Tôi sinh trưởng tại ngõ Phất Lộc, trong một khu nổi tiếng là nhiều ma nhất Hà Nội. Đầu ngõ đó ở ngay sát đường Mã Mây mà người Pháp gọi là Rue des Pavillons noirs (Đường Giặc Cờ Đen). Tương truyền giặc cờ đen hồi xưa đóng trại dọc theo bờ sông Nhị, từ Cầu Đất, gần viện tàng cổ Louis Finot, tới Ô Quan Chưởng ở đầu phố Hàng Chiếu. Nhà tôi gần pháp trường của chúng và theo các ông bà già kể lại, mỗi lần chúng chặt đầu ai thì vùi ngay bên cạnh pháp trường, thành thử ngõ Phất Lộc và phố Bờ Sông nằm trên bãi tha ma của những kẻ bị chúng xử tử. Lại thêm nhà tôi là một nhà cổ cách đây non 100 năm, thấp hơn mặt đường trên một thước, sâu hun hút, có những phòng ngang phòng dọc, những lối đi tối om om và hôi hám, nên hồi tôi còn nhỏ, ai cũng tin là nhà có ma. Một bà cô tôi kể cho chúng tôi nghe rằng chồng bà bị ma khách hành cho tới điên. Sau “nó” chỉ cho chỗ chôn cất hài cốt của nó, bảo phải dời đi cho nó. Đào chỗ dưới giường ông dượng tôi nằm, quả thấy bộ xương, bà cô tôi thuê người nhặt, cho vào một tiểu sành, đem chôn ở Cầu Đất. “Nó” chưa bằng lòng, còn hành ông dượng tôi dữ hơn nữa. Hỏi nó, nó khóc lóc trách móc là độc ác, sao lại đem vùi nó ở bờ sông để tới mùa lụt, nước sông cuốn nó đi. Thế là lại phải đào lên, đem chôn nơi khác. Đó là chuyện trong nhà tôi, chuyện các nhà khác trong xóm còn rùng rợn hơn nhiều.

“Hồi chín tuổi, nghe những truyện đó tôi nổi ốc cùng mình, và tới nay tôi còn nhớ, đã có hai lần trông thấy cái mà người ta gọi là ma: một lần vào khoảng chín giờ tối, một bóng đen vụt qua trước mắt tôi rất nhanh, chỉ một phần mười hay một phần trăm giây, khi tôi bước vào một lối hẻm ở bên cạnh chỗ mà xưa kia đào được hài cốt của “ma khách”; một lần nữa vào khoảng nửa đêm, một người đàn ông bận quần áo trắng ngồi hút thuốc lá trên một cái đôn dưới chân giường tôi.

“Nay (...) tôi nhớ lại chuyện đó, nhưng cho rằng bà cô tôi đã thêm thắt ít nhiều, còn những điều mắt tôi trông thấy thì do ảo tưởng, do “thần hồn nát thần tính”, chứ chưa chắc đã có ma (...). Nhưng tôi cũng không nói quyết là không có ma. Tôi chỉ chưa tin thôi. Vấn đề đó còn là một bí mật mà tôi không có thì giờ, cũng không có phương tiện, cơ hội để dò xét, tìm hiểu, cho nên tạm bỏ ra một bên.”

Vậy tôi không nói quyết là không có ma vì đọc những tài liệu của nhóm Camille Flammarion, của Robert Wallace... (còn rất nhiều nhà khác nữa) tôi không thể cho rằng họ bịa đặt, mà tôi cũng không nghĩ như Marcel Boll cho rằng phải vô tuyến truyền hình hoặc chụp hình được ma thì mới tin có ma, vì ta có chụp hình được điện đâu, ta cũng chẳng biết điện là cái gì cả, mà điện đã làm thay đổi được cả trái đất đấy.

B. Khoa lý số

Khoa này gồm những cách để đoán tương lai: coi chỉ tay, coi tướng, coi chữ viết, dùng khoa chiêm tinh, lấy số, bói. Riêng về số, bói cũng có nhiều cuốn: tử vi, tử bình, hà lạc..., bói dịch, nhâm độn...

Tôi không xét những khoa coi chỉ tay, coi tướng, coi chữ viết, vì những khoa đó không có tính cách huyền bí mà có tính cách kinh nghiệm, đặt cơ sở trên những cái cụ thể ta trông thấy, hiểu được, và đã được nhiều tâm lý gia châu Âu, Mỹ nghiên cứu. Nhưng ta phải nhận rằng những nhà bác học này chỉ tìm hiểu để đoán tính tình người chứ không phải để đoán tương lai: họ không bàn tới thuyết tiền định.

a. Thuyết tiền định

Về thuyết tiền định: tôi đã nghe nhiều người hỏi như vầy:

- Nếu ta tin có phép tiền định thì ai giàu sẽ giàu, ai nghèo sẽ nghèo, tới lúc giàu sẽ giàu, tới lúc nghèo sẽ nghèo, vậy còn hoạt động làm gì nữa? Và thuyết tiền định dạy ta cái thói làm biếng rồi.

Lý luận như vậy là sai: đã tin có thuyết tiền định thì phải nhận rằng mỗi hành động của ta không do ý chí của ta nữa, vậy thì làm sao ta có thể lựa sự không hoạt động, mà bảo rằng tiền định dạy ta làm biếng?

Như vậy không đủ đả thuyết tiền định. Dưới đây tôi chỉ xét khoa chiêm tinh, khoa lý số, khoa bói có đúng hay không, nếu đúng thì phải nhận có thuyết tiền định, nếu sai thì ta chưa thể kết luận gì được hết vì có thể rằng luật đó có mà khoa học huyền bí hiện nay chưa tìm ra được một cách đích xác.

b. Khoa chiêm tinh của phương Tây

Trước hết tôi xin bàn về khoa chiêm tinh, người Pháp gọi là Astrologie. Tôi thú thực chưa nghiên cứu khoa này, nhưng ông Paul Couder, nhà thiên văn học của đài thiên văn Paris, trong cuốn L'astrologie (Presses Universitaire de France - 1957) đã để tâm nghiên cứu và bảo nó không có giá trị gì cả.

Ông chứng thực rất công phu rằng những điều mà khoa chiêm tinh nói về các ngôi sao đều sai, phản khoa học; rằng chính các nhà chiêm tinh danh tiếng cũng mâu thuẫn vơi nhau và tính ngày giờ thường sai.

Ông lại bảo rằng khoa đó hoàn toàn vô lý ngay từ căn bản. Đại ý ông bảo: “Tại sao lại cho rằng vị trí của các ngôi sao khi đứa trẻ lọt lòng mẹ có ảnh hưởng tới suốt đời của nó? Tại sao lựa lúc đó mà không lựa lúc hai tinh trùng mới hợp nhau để kết thành thai trong bụng người mẹ? Mà mỗi ngày mỗi giờ, trong mỗi tỉnh lớn sinh ra bao nhiêu trẻ con, gia đình, giống nòi, tổ quốc khác nhau, thì bấy nhiêu đứa số đều như nhau cả sao?”

Ông có thể nói thêm: “Trong những thiên tai như nạn động đất vừa rồi (tháng ba năm 1960) ở Maroc; cả vạn người chết cùng một ngày cùng một nguyên nhân, thì số của họ phải có một điểm nao giống cả sao? Trong những họa chiến tranh như họa bom nguyên tử ở Hiroshima, Nagasaki năm 1945, thì hằng trăm ngàn người cùng một số với nhau sao?”

Ông cũng nhận rằng có khi các nhà chiêm tinh đoán đúng, nhưng một con én không làm nổi mùa xuân, một lần đoán đúng thì biết bao lần đoán sai, mà các nhà chiêm tinh không chịu làm thống kê đàng hoàng; nếu làm thống kê tất sẽ thấy khoa chiêm tinh hoàn toàn sai. Ông đưa một thí dụ: Các nhà chiêm tinh đều bảo rằng trẻ nào sinh vào ngày nào, giờ nào thì sau thành nhạc sĩ. Nhưng làm thống kê, ông thấy ngày nào cũng có nhạc sĩ tương lai ra đời, ít nhất là một nhạc sĩ, nhiều nhất là 17 nhạc sĩ trong số 2.817 nhạc sĩ trong một năm. Có 100 ngày mà 7 hoặc 8 nhạc sĩ ra đời cùng một ngày. Như vậy là hoàn toàn theo luật ngẫu nhiên chứ không có tiền định gì cả.

Sau cùng ông chép lại những lời tiên tri quan trọng mà sai từ hồi trung cổ tới nay. Năm 1179, một người bí mật tên là Jean de Tolède loan tin ở Đức rằng tới năm 1186, các tinh tú sẽ hội họp nhau làm sao đó mà thế giới sẽ bị tai nạn lớn: tháng chín sẽ có động đất, dông tố. Tin truyền đi rất mau làm cho dân chúng châu Âu kinh khủng, vội đào hầm, đào hang, bít cửa sổ, nhịn ăn, cầu nguyện. Nhưng tới tháng chín năm 1186 chẳng có gì cả. Về sau, các tín đồ của Jean de Tolède bảo thiên tai đó là sự lên ngôi của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Sự thực Thành Cát Tư Hãn lên ngôi từ năm 1179 kia.

Tới thế kỷ thứ 16, cũng có một kẻ báo trước rằng tháng hai năm 1524 sẽ có một nạn đại hồng thủy vì các tinh tú gặp nhau ở một “dấu hiệu ẩm thấp”. Dân chúng cuống quít cả lên; bán nhà để tậu thuyền, có kẻ lên núi ở, có kẻ lo quá hóa điên. Kết quả: tháng hai năm đó khô ráo hơn mọi năm.

Cũng trong thế kỷ đó, nhà chiêm tinh nổi danh nhất là Notradamus, viết một bộ sách sấm, nghĩa rất bí hiểm, ai muốn hiểu ra sao cũng được. Hiện nay cuốn đó được tái bản, và mỗi lần tái bản người ta lại giảng thêm những việc xưa mà người ta “gò” vào cho đúng lời sấm. Đây là một thí dụ:

La grande estoile par sept jours bruslera,

Nue fera deux soleils apparoirs;

Le gros mastin toute nuit hurlera,

Quand grand Pontife changera de terroir.

Bốn câu thơ đó có ý báo rằng sẽ có một ngôi sao mới, sáng rực, thành thử như có hai mặt trời làm cho một con chó sợ mà sủa lớn tiếng và một đại giáo trưởng phải xuất ngoại - vào thuở nào thì không biết.

Một cuốn sách xuất bản năm 1947 giảng như vầy: ngôi sao lớn đó là Mussolini, ngôi sao chiếu sáng rực rỡ bảy ngày nghĩa là Mussolini đã thắng trận bảy năm, từ 1935 đến 1942; hai mặt trời trong sấm là Hitler và Mussolini; con chó sủa lớn tiếng đó cũng là Mussolini; và vị đại giáo trưởng phải xuất ngoại đó là Tổng thống Huê Kỳ Roosevelt đổ bộ lên Bắc Phi ngày 8 tháng 11 năm 1942. Cuốn sách dày 216 trang mà từ đầu tới cuối đều một luận điệu đó. Paul Couderc kết luận: “Người ta phải xấu hổ khi nghĩ rằng thời đó (năm 1947), thiếu giấy để in sách cho học sinh dùng, mà có đủ giấy để in những cái nhảm nhí ấy.”

Rồi ông tự hỏi hình luật (điều 479 - Luật ngày 28/4/1832) đã phạt vạ hoặc phạt tù những kẻ làm nghề thầy bói, giải mộng, đoán tương lai, vận mạng, mà sao vẫn còn nhiều kẻ sinh nhai bằng chiêm tinh, vẫn còn những nhật báo và tuần báo đăng đều đều những mục chiêm tinh, và năm 1935, nội Ba Lê có tới 3.460 phòng chiêm tinh có môn bài, không kể vô số phòng mở lậu nữa, và thậm chí đến một nhà chiêm tinh nọ nhận được 5.000 bức thư mỗi ngày, phải mướn 50 người để giúp việc.

c. Khoa số và bói của phương Đông

Tôi xin nhắc lại, tôi không biết chút gì về khoa chiêm tinh của Âu. Riêng tôi, không tin nó, và tôi thấy những lý lẽ của ông Paul Couderc đủ vững, nhưng tôi xin đưa ít ý kiến của tôi về môn lý số và bói mà tôi được biết sơ sài vì trong hai chục năm nay, tôi đã đọc năm bảy bộ sách Hán, Việt về các môn đó, lại được tiếp xúc với ít nhà coi số, coi bói chuyên nghiệp hoặc tài tử.

Heywood Brown, một ký giả nổi tiếng của Hoa Kỳ đã viết: “Tôi đã nhiều khi lầm lẫn, đã viết sai không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng không bao giờ tôi chịu viết một điều gì mà lúc viết tôi không tin là đúng.” Câu đó diễn đúng tâm trạng tôi lúc này. Những điều tôi sẽ bàn dưới đây có thể lầm lẫn; có thể rằng năm mười năm nữa, tư tưởng của tôi sẽ thay đổi; nhưng khi diễn ra, thì tôi tin là đúng.

Tôi đã đọc những sách về số tử vi, số tử bình và bói Dã hạc.

Khoa tử vi và khoa tử bình cũng dùng ngày, giờ, năm, tháng và các ngôi sao như khoa chiêm tinh của Âu, nhưng khác hẳn với lối chiêm tinh, nhất là không liên quan gì với khoa thiên văn cả; vì vậy các nhà khoa học phương Tây có nghiên cứu khoa tử vi và tử bình, cũng không thể chứng minh được nó trái với khoa học, nói đúng hơn, là trái với khoa thiên văn ở chỗ nào. Hai môn khác hẳn, không có điểm để so sánh.

Tôi không bàn đến lý thuyết của tử vi và tử bình. Cả hai môn đều dùng những thuyết âm dương, ngũ hành tương sinh tương khắc... mà ta còn có thể hiểu được; nhưng ngoài ra còn những qui tắc, những phép đặt chỗ cho các ngôi sao. Chẳng hạn về khoa tử vi tại sao lại có 12 cung mà không phải là 16 hay 8? Tại sao cung ách lại nằm giữa cung thiên di và cung quan lộc? Tại sao những người sinh năm Nhâm Tý, Quí Sửu thì mạng lại là mộc? Tại sao những người sanh ngày nọ ngày kia thì sao tử vi lại ở cung này cung khác?...

Có thể rằng những nhà sáng lập ra môn số, bói, khi định những phép tắc đó cũng có lý do riêng; nhưng hiện nay đọc sách về các môn đó, ta phải tin những lời chỉ trong sách là đúng, chứ đừng hỏi tại sao. Mà nếu không tin thì thôi. Tôi tưởng đó là một tính cách chung của các nhà khoa học huyền bí, ở phương Đông cũng như phương Tây.

Đã không thể xét về lý thuyết, thì ta xét về kết quả để định giá trị của những môn ấy. Kể ra như vậy cũng không thật là hợp lý vì hai lẽ:

- Ta không thể tin được những lời đoán của người trước. Chẳng hạn có sách Tử Vi in lá số của Khổng Tử, Hạng Võ, Lữ Hậu, cả của Hitler nữa. Làm sao mà kiểm soát được giờ sinh ngày đẻ của Khổng Tử? Còn Hitler thì sinh ở Đức, mà giờ Trung Hoa với Đức khác nhau 7, 8 giờ, không biết người ta tính ra sao? Dù những ngày giờ đó có đúng chăng nữa thì những lời đoán cũng không có nhiều giá trị vì đoán sau khi việc đã xảy ra.

- Còn những lời đoán của người ngày nay về những việc hiện tại, nếu đúng thì không nói gì, nếu sai thì ta cũng không thể do đó mà bảo rằng những khoa đó sai vì biết đâu thước thì đúng mà vì thợ vụng nên hình vẽ hóa sai.

Nhưng không còn cách nào khác nên tôi phải căn cứ vào lời đoán của người đương thời và đối chiếu với những lời chỉ trong sách để xem khoa lý số đáng tin đến mức nào. Căn cứ vào đối chiếu như vậy, tôi thấy hoang mang.

Xét về đại cương thì các sách số không khác nhau nhiều vì sách đó có lẽ đều do một nguồn gốc. Nhưng về tiểu tiết, nhiều tác giả không đồng ý nhau, ngay trong việc đặt các sao và tính đại hạn, tiểu hạn.

Chẳng hạn, trong khoa tử vi, có sách nói sao Kinh dương đứng trước sao Lộc tồn, sao Đà la đứng sau sao Lộc tồn. Có người nói ngược lại: Kinh dương đứng sau, mà Đà la đứng trước. Đa số đều tính đại hạn (hạn từng mười năm một) từ cung mạng; có sách lại bảo nên tính từ cung ở giáp cung mạng tùy theo là dương nam hay âm nam, âm nữ hay dương nữ. Cách tính tiểu hạn (hạn từng năm một) cũng có hai thuyết. Cách tính tháng còn rắc rối hơn nữa: có đến ba thuyết mà hai thuyết tương phản nhau.

Về tính cách của các sao cũng vậy. Như sao Thiên Lương người thì cho là thuộc mộc, người thì cho là thuộc thổ, có kẻ lại vừa mộc vừa thổ. Những sai biệt đó tuy nhỏ mà rất quan trọng làm thay đổi cả phép đoán.

Và trong những sách tôi đọc, không cuốn nào không chứa một vài chỗ mâu thuẫn: cùng một ngôi sao đó, trang này bảo là ở cung nọ thì tốt, mà trang khác lại bảo ở cung đó là xấu.

Như vậy tôi phải kết luận rằng khoa tử vi, hiện nay có vẻ lộn xộn; không thống nhất, có thể vì cái học nguyên thủy đã sai lạc, hoặc vì người ta tự ý thêm thắt mà không có lý do chính đáng để người khác phải theo. Khoa tử bình cũng có tình trạng đó nhưng ít hơn.

Sách dạy đã khác nhau thì lời đoán tất phải khác nhau và người nào cũng cho cách của mình là đoán đúng, cũng có thể dẫn lời trong sách hoặc của tôn sư ra để bênh vực được.

Cùng một đại hạn đó, người đoán là tốt người đoán là xấu. Khổ một nỗi là trong rất nhiều trường hợp cả hai thuyết tương phản đó đều có lý một phần. Biết tin ai? Đem nhân sự ra đối chiếu thì đôi khi cũng khó quyết định được thuyết nào đúng, thuyết nào sai vì cùng một hạn mười năm đó thường khi có cả tốt, lẫn xấu, cho nên có thể cho là tốt, mà cũng có thể cho là xấu, tùy quan niệm của mỗi người.

Đoán một tiểu hạn, tức họa phúc trong một năm cũng vậy, cũng không có gì là chắc chắn cả. Đó là tôi xét trường hợp mà các nhà đoán số đồng ý nhau về cách đặt những đại hạn hoặc những tiểu hạn vào cung nào, sao nào. Nếu họ đặt khác cung nhau như trên tôi đã nói thì đoán làm sao mà giống nhau được nữa?

Việc đoán họa phúc trong một tháng càng dễ sai hơn vì tháng là một đơn vị nhỏ nằm trong đơn vị tiểu hạn, tiểu hạn lại nằm trong đơn vị đại hạn, đại hạn lại nằm trong toàn thể số mạng của mỗi người. Nói chi đến việc đoán tử vi hàng ngày? Theo tôi, đoán việc hàng ngày chỉ là một câu chuyện đùa, cứ nói mười điều thế nào cũng được dăm điều trúng, theo luật trung bình.

Tuy nhiên, tôi không quả quyết rằng khoa tử vi, tử bình hoàn toàn vô lý. Vì tôi đã thấy những trường hợp đó đúng một cách không phải ngẫu nhiên. Tôi lấy ngay thí dụ một gia đình nọ gồm bốn anh em mà tôi được biết. Khi mới sanh mỗi người đều có một lá số tử vi. Số đoán rằng một người con trai sẽ khá nhất, đi càng xa nhà càng khá, một người con trai nữa sẽ chết yểu, một người con gái được nhờ chồng, một người nữa không được nhờ chồng mà được nhờ con. Hiện nay (sau nửa thế kỷ), tôi nghiệm thấy những lời đó đều đúng, mà đúng tới như vậy thì không thể cho là ngẫu nhiên được.

Từ khi tôi tìm hiểu khoa tử vi, tôi thấy những lời đoán đó không phải vô căn cứ. Tôi lại nghiệm rằng coi qua những số của các bà con, bạn bè cũng có thể đoán ngay được mỗi người vào hạng nào trong xã hội nghĩa là số tốt hay xấu. Mà những lời đoán đó phần nhiều đúng, đúng về đại cương, đúng một cách tương đối. Và vấn đề nhân sự, hoàn cảnh vẫn là quan trọng.

Tôi cần giảng thêm câu tôi vừa viết.

Tôi nói phần nhiều đúng, vì tôi thấy cũng có lá số sai: theo số thì phải vào hạng bác sĩ hay ít nhất cũng cử nhân mà rồi, ngoài 20 tuổi, chưa đậu bằng Trung học đệ nhất cấp mặc dầu gặp hoàn cảnh tốt; hoặc theo số rất thông minh, (chính tinh đắc địa, xương khúc cũng đắc địa) mà học lại ở dưới cái mực trung bình.

Tôi mới coi được độ trăm lá số, không đủ để làm thống kê, nhưng cũng nhận thấy rằng 10 lá số, có thể có tới ba bốn lá hoàn toàn sai. Điều này đáng cho ta chú ý: những lá số đó thì tử vi đoán khác, tử bình đoán khác, trái lại những lá nào tử vi tử bình đều hợp nhau thì thường là đúng hết. Vậy muốn cho chắc chắn phải lấy cả tử vi lẫn tử bình, nếu hai lá không mâu thuẫn nhau thì mới có thể tin là có phần đúng.

Tôi lại nói: đúng về đại cương, nghĩa là chỉ đoán được số người đó tốt hay xấu, tới hạn nào thì khá, hạn nào thì kém; càng đi vào chi tiết (như ốm đau, kiện tụng, lập gia đình, thi đậu, phát tài, có tang...) thì càng dễ sai, mà lời đoán của mỗi nhà càng dễ khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau.

Sau cùng tôi nói: một cách tương đối là nghĩa thế này: một lá số đó, ta đoán được tốt hay xấu, nhưng hai lá số tốt ngang nhau thì ta không thể kết luận rằng hai người đó sau này sẽ có địa vị ngang nhau. Có thể rằng vì hoàn cảnh gia đình, vì chỗ ở, vì sự gắng sức mà một người thành công gấp năm gấp mười người kia, thành một nhà văn nổi danh hoặc một thương gia, trong khi người kia chỉ là một thầy giáo, một chủ tiệm nhỏ ở quận, phủ. Điều đó, chính các người soạn sách lý số cũng công nhận.

Về khoa bói, tôi cũng đã được chút kinh nghiệm, nhận thấy rằng phần sai nhiều hơn phần đúng; nhưng khi gặp một hai quẻ đúng thì đúng một cách kỳ dị, đúng tới những chi tiết nhỏ nhặt làm cho tôi ngờ rằng không thể do sự ngẫu nhiên được.

Tôi xin dẫn hai thí dụ. Năm đó tôi làm việc ở Sài Gòn, thân mẫu tôi ở Vĩnh Yên, đau đã vài tháng, tôi cũng tưởng là bệnh già chưa có gì đáng lo thì bỗng nhiên có điện tín báo rằng người đã mất. Tôi ngờ rằng là chưa mất nhưng muốn tôi về gấp nên báo vậy. Tôi xin một quẻ bói. Đoán rằng chưa mất, nhưng nửa tháng sau, vào ngày đó hoặc ngày đó sẽ mất. Sau quả nhiên như vậy. Lần khác, một bà chị tôi ra bán vải, xin một quẻ bói, quẻ đoán tốt; nhưng công việc làm ăn không bền, tới tháng ba sang năm sẽ phải thôi. Quẻ đó cũng nghiệm nữa. Đoán được chết hay sống, hoặc làm ăn khá hay không thì dù có đúng cũng là chuyện thường, có thể do ngẫu nhiên mà đúng nhưng đoán được ngày nào chết; tháng nào phải dẹp công việc mặc dầu công việc đương phát thì không còn là may mà đúng được nữa. Nhưng tôi xin nhắc lại rất nhiều quẻ đoán sai be bét. Có phải tại tôi ít được gặp những người giỏi về môn đó chăng?

Tóm lại, ý kiến của tôi hiện nay về những khoa lý số bói toán của phương Đông như vầy:

- Những khoa đó không thống nhất, mà số người hiểu kỹ thì rất ít, không ai chịu làm thống kê, nên không biết được nó đáng tin tới mực nào.

- Nhưng hoàn toàn bảo nó sai thì cũng không được: đôi khi nó đúng với những khoa ấy, hiện nay tôi vẫn còn thái độ tìm hiểu, và nếu có ai đoán số cho tôi thì tôi cũng hay vậy, đợi xem có đúng không chứ không tin ngay.

Có nhiều cái huyền bí không thể hay chưa thể dùng lý trí mà hiểu được, thì đành phải hồ nghi. Thiếu tinh thần hồ nghi mà lại vô tình hay cố ý dùng khoa học huyền bí thì thường là có hại. Cho nên cổ nhân rất thận trọng, chỉ truyền những môn học đó cho người đạt quan và có đức.

Chú thích

  1. Mặc Tử - Ngô Tất Tố (Khai Trí - 1959).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Luyện lí trí
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản: Văn hoá thông tin
  • Năm xuất bản: 2003
  • Tạo eBook lần đầu: Trieuhoa
  • Tạo lại: Goldfish
  • Nguồn: thuvien-ebook.com

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!