Tiền công

Chương mười một: Tiền công

I. Các thuyết về tiền công.

1. Thuyết của Adam Smith

2. Thuyết trả theo vật giá

3. Thuyết trả theo cung cầu

4. Thuyết của Ricardo.

5. Một thuyết công bình.

II. Các lối trả tiền công.

1. Trả công giờ hoặc công nhựt.

2. Trả khoản

3. Trả thêm tiền thưởng.

a) Tiền thưởng tính khoá

b) Lối Halsey

c) Lối York

d) Lối Rowan

4. Tiền công sai biệt.

a) Lối Taylor

b) Lối Gantt

5. Tiền thưởng chung

6. Thưởng người chỉ huy

7. Các lối thưởng khác

8. Cách lựa lối trả công.

III. Những lối trả công mới mẻ nhất.

1. Lối chia tiền công cho từng kíp tự quản.

2. Lối chia tùy theo số sản xuất.

a) Lối Schueller

b) Lối Rucker

IV. Chính phủ với thợ thuyền.

I. Các thuyết về tiền công

Từ mấy ngàn năm nay người ta vẫn chưa giải quyết một cách ổn thoả vấn đề tiền công, bao giờ cũng sôi nỗi và hiện nay sôi nỗi nhất. Sở dĩ thế giới chia làm 2 khối, nhân loại phập phồng lo sợ chiến tranh thế giới thứ ba, căn do sâu xa là nó.

Vì vấn đề gay go nhất cho nên từ trước tới nay đã có nhiều người đặt ra thuyết này thuyết khác để rán giải quyết:

1. Thuyết của Adam Smith

Adam Smith ở thế kỉ thứ 18 nói: Khi trả công phải xem xét:

- Công việc có khó nhọc không, có hại đến sức khỏe không?

- Công việc có cần một sự học nghề lâu, khó và tốn tiền không?

- Công việc làm vĩnh viễn hay tạm thời.

- Nghề có làm mất danh giá người ta không? Nghề đao phủ chẳng hạn, ai cũng khinh, cho nên phải trả công nhiều mới có người chịu làm.

- Và phải kể sự khéo léo, tài đặc biệc của mỗi người.

2. Thuyết trả theo vật giá

Có người lại cho rằng công việc càng ích lợi hoặc hoá vật bán ra càng đắt thì tiền công càng phải cao. Thuyết đó sai, vì giá hoá vật đâu phải chỉ tùy theo nhân công, nó còn tùy theo giá nguyên liệu, tùy theo vốn và lời nữa.

3. Thuyết trả theo luật cung cầu

Thuyết này cho rằng tiền công cũng theo luật cung cầu như một hoá phẩm. Luật đó tóm tắt lại như sau này: nếu có 100 người mua mà chỉ có 99 người bán thì giá hàng phải tăng lên cho tới khi người mua thứ 100 phải bỏ, không mua nữa. Trái lại, nếu có 99 người mua và 100 người bán thì giá hàng phải sụt xuống cho tới khi người bán thứ 100 phải thôi không bán nữa. Thuyết trả công đó không hoàn toàn đúng vì nếu nhiều hàng quá, người bán có thể hạ giá bán xuống bao nhiêu cũng được, còn người làm công không thể xin làm việc với bất kỳ một số tiền công nào được. Ít nhất họ cũng phải lãnh tiền cho đủ sống, dù là sống một cách khốn khổ. Họ không thể làm không công được.

4. Thuyết của Ricardo

Ricardo cho rằng số tiền công tự nhiên (salaire naturel) của người thợ phải đủ cho người đó sống và nuôi con để cho nòi giống họ truyền lại sau, không tăng mà cũng không giảm. Như vậy, một người thợ có vợ phải lĩnh tiền công sao cho đủ 2 vợ chồng sống và nuôi được 2 đứa con sau này thay thế cho họ. Nhưng như vậy là không muốn cho người làm công có trên hai đứa con nào? Muốn cho dân số trong nước không tăng lên sao? Và nếu người thợ có 5, 6 đứa con thì họ phải nhịn cho con họ ăn sao? Và lại sống cách nào? Với hai nắm cơm và hai con mắm như thợ ta hồi trước, hay với xe hơi, máy lạnh, máy thâu thanh như thợ thuyền bên Mỹ bây giờ? Thuyết này cũng sai nữa.

5. Một thuyết công bình

Tiền công thợ phải đủ sống và thoả mãn những nhu cầu cần thiết của họ. Trong những nhu cầu này có sự học hỏi thêm, sự nghỉ nghơi và sự tiêu khiển. Những nhu cầu đó cùng với những kết quả của khoa học mà tăng lên. Rồi nếu họ gắng sức nhiều thì phải trả cho họ nhiều, hãng có lời thì phải thưởng cho họ bằng cách cho họ hưởng một phần lời. Như vậy, không những công bình mà còn có lợi cho ta nữa vì tiền công của thợ có cao, thợ mới có tiền mua hoá vật, và hoá vật có bán chạy ta mới có lời. Cho nên nguời Mỹ thường nói “Không phải vì chúng tôi bán được nhiều xe hơi mà có thể trả lương cao được, chính vì chúng tôi trả lương cao mà thiên hạ có tiền mua và xe hơi chúng tôi mới bán chạy.”

II. Các lối trả tiền công

Ở dưới đây, chúng ta sẽ xét những lối trả tiền công từ trước tới nay ra sao để xem lối nào giản tiện, có lợi cho chủ và thợ.

1. Trả công giờ hoặc công nhật

Lối này cổ, thông dụng và dễ tính nhất, nhưng chẳng những làm cho thợ mất tinh thần ganh đua, lại còn sinh ta tật cố ý làm “rềnh ràng” cho qua giờ nữa. Từ trước người ta đều cho sự “rềnh ràng” đó là do thợ làm biếng. Taylor là người đầu tiên xét một cách rành rọt những nguyên nhân của nó, vì chính ông đã làm thợ, nên rõ lòng người thợ. Những nguyên nhân đó thuộc về tâm lý.

Trong xưởng tất có thợ giỏi và thợ vụng, thợ chăm và thợ lười. Nếu họ lãnh tiền công như nhau thì người giỏi tội gì làm mau, người chăm tội gì làm nhiều? Đó là nguyên nhân thứ nhất.

Thợ không muốn cho chủ biết rõ sức làm việc của họ là bao nhiêu vì nếu chủ biết thì chủ sẽ bắt làm nhiều lên mà không tăng tiền công. Đó là nguyên nhân thứ nhì.

Còn nguyên nhân nữa là thợ sợ nếu ai cũng gắng sức làm cho mau thì trước cần 10 người thợ, nay chỉ cần 6, 7 người, tất sẽ có 3, 4 người bị đuổi, bị thất nghiệp.

Vậy sự “rềnh ràng” không do thợ làm biếng mà do thợ cho rằng quyền lợi của họ bắt họ phải như vậy.

2. Trả khoán

Mỗi công việc trả một số tiền công nhất định, thợ muốn làm bao lâu cho xong thì làm.

Lối trả công này có nhiều điều hại:

- Chủ muốn trả rẻ, thợ muốn làm cho mau, cho nên công việc cẩu thả. Nhưng nếu họ làm nhanh quá, chủ rút giá xuống, họ càng phải làm nhanh hơn nữa, chủ lại càng rút giá xuống. Ví dụ: đóng một cái tủ, chủ tính phỏng chừng 10 công thợ thì xong, mỗi công 50 đ, vị chi 500 đ. Nhưng khi giao khoán cho thợ, chủ muốn trả rẻ, chỉ trả 45 đ thôi. Thợ biết vậy là rẻ nhưng cũng lãnh, vì hy vọng làm mau, độ 8 công thì xong. Khi tủ đóng rồi, chủ thấy thợ làm có 8 công thôi, cho rằng mình đã tính hớ, lần sau tụt xuống, trả độ 37 đ thôi. Thợ nếu không có việc khác làm, tất nhiên phải lãnh và lại hết sức làm cho mau để độ 7 ngày xong. Thành thử nếu không làm khoán, cứ làm công nhật thì làm chầm chậm cũng được một ngày 50 đ, nay lãnh khoán, tiền công thêm được vài ba chục mà phải làm mau gấp rưỡi. Cho nên lối lãnh khoán không khác một cái thòng lọng tròng vào cổ họ, họ càng kéo dài càng bị thắt chặt.

- Lại thêm, người lãnh việc ít khi làm lấy, mà kiếm thợ bạn giao cho và bóc lột bọn này, cho nên công việc làm càng tệ hơn, chủ càng thiệt.

- Sau cùng vì thợ muốn làm cho thật mau cho nên họ lao lực, đồ dùng mau hư và chủ luôn luôn phải coi chừng họ.

3. Trả thêm tiền thưởng

Tiền thưởng phải cho thợ biết trước và ít nhất cũng bằng 20 phần 100 tiền công thợ. Phải trả cùng với tiền công.

Có nhiều cách tính tiền thưởng.

a) Tiền thưởng tính khoán - Định tiền công giờ, mỗi giờ 10 đ chẳng hạn. Thợ làm 10 giờ thì trả 100 đ. Rồi trong 10 giờ đó thợ đóng được một cái ghế thì thưởng thêm một số tiền nào đó, ví dụ 3 đ. Đóng được 2, 3, 4 cái ghế thì thưởng 2, 3, 4 số tiền đó nghĩa là 6, 9, 12 đ.

b) Lối Hasley. Thợ làm nhanh thì phí tổn về nhân công rút đi. Ví dụ: trước làm 10 giờ mới xong một việc, nay làm 6 giờ, rút đi được 4 giờ, mỗi giờ tiền công là 10 đ thì bốn giờ là 40 đ. Vậy phí tổn về nhân công rút được 40 đ. Số 40 đó chủ lấy một nửa, hoặc 2 phần 3, còn bao nhiêu thưởng cho thợ.

c) Lối York. Một công việc tính ra, làm mất 10 giờ và trả công là 100 đ. Nay giao công việc đó cho thợ và trả công người thợ đó 60 đ nhưng mỗi giờ làm việc thì trả thêm cho người đó 4 đ nữa. Nếu họ làm 8 giờ xong, họ sẽ lãnh 60 đ + 32 đ = 92 đ. Nhưng, nếu họ làm trên 10 giờ thì cũng chỉ trả thêm 40đ thôi, nghĩa là họ không được lãnh quá 60 + 40 = 100đ.

d) Lối Rowan. Lối này, tính ra, hơi rắc rối, thợ khó hiểu, nên người ta làm giản tiện đi như sau này cho thợ hiểu được.

Một công việc định cho 10 giờ thì xong, mỗi giờ 10đ. Nay thợ làm mất 7 giờ lợi 3 giờ nghĩa là 3 phần 10 số giờ đã định. Vậy tiền công mỗi giờ cũng tăng lên 3 phần 10 nghĩa là: 10đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-24.jpg một giờ.

Thợ thường không chịu lối này vì họ muốn họ làm lợi giờ được bao nhiêu thì phải trả cho họ bấy nhiêu. Lối này có lợi là tiền thưởng mới đầu tăng lên nhiều, nhưng thợ càng làm mau thì tiền thưởng càng bớt tăng đi, nên nó tựa như hãm thợ lại không cho làm quá sức.

4. Tiền công sai biệt

Sai biệt nghĩa là khác nhau. Cũng một việc nếu làm mau thì tiền công nhiều, làm chậm thì tiền công ít, tiền công khác nhau như vậy nên gọi là sai biệt.

a) Lối Taylor. Chuẩn bị kỹ càng công việc định rõ mỗi ngày mỗi người thợ trung bình phải làm được bao nhiêu. Nếu làm mau hơn thì thưởng, làm chậm hơn thì rút tiền công xuống.

Ví dụ trước kia mỗi người thợ mỗi giờ đóng được 5 cuốn sách và công mỗi cuốn là 2đ50. Bây giờ ta thấy họ có thể đóng được 10 cuốn mỗi giờ nên định lại như vầy: nếu đóng được từ 5 đến 9 cuốn thì trả mỗi cuốn 1đ25, nếu đóng được từ 10 cuốn trở lên thì trả mỗi cuốn 1đ75. Thành thử:

Tiền công hồi trước: 5 cuốn = 2đ50 x 5 = 12đ50

Bây giờ 9 cuốn = 1,25 x 9 = 11,25 khác nhau

10 cuốn = 1,75 x 10 = 17,5 tới 6đ25.

Lối này vừa bất công vừa tàn nhẫn vì bắt thợ làm quá sức.

b) Lối Gantt. Ta định truớc mỗi công việc phải mất mấy giờ và mỗi giờ tiền công là bao nhiêu. Nếu thợ làm đúng thì giờ đó hoặc ít hơn thì thưởng cho họ từ 20 đến 30 phần công tiền công đó. Nếu thợ làm chậm hơn thì không trả công giờ nữa mà trả công ngày, ít hơn tiền công giờ.

Trong lối này, không có gì khuyến khích thợ làm mau hơn số giờ đã định, cho nên thợ chỉ giữ cho đúng số giờ đó thôi.

c) Lối của ông Chevalier dẫn trong cuốn Organisation: Một việc hiện làm mất 3 giờ, mỗi giờ trả 10đ. Sau khi nghiên cứu cử động, ta thấy có thể làm trong 2 giờ được, chỉ tốn 29đ thôi, tiết kiệm được 10đ. Vậy trong 3 giờ hồi trước, làm tiết kiệm được 10đ.

Trong 1 giờ, tiết kiệm được 10:3 = 3đ33

Ta định lối trả sau này: công việc làm xong thì trả 20đ, rồi mỗi giờ làm việc trả thêm 3đ33 nữa.

Nếu thợ làm mất 3 giờ thì lãnh 20 + (3.33x3) = 30 đ, nghĩa là mỗi giờ 10đ như cũ. Nếu làm mất 2 giờ thì lãnh 20đ + (3.33 x 2) = 26.66 đ nghĩa là mỗi giờ 13đ33. Lối này công bằng, rất giản dị, thợ dễ hiểu.

5. Tiền thưởng chung

Mỗi người thợ lãnh một số tiền công riêng, còn tiền thưởng thì phát chung cho cả bọn rồi tự ý chia nhau.

6. Thưởng người chỉ huy

Ta có thể thưởng tùy theo sức sản xuất tăng nhiều hay ít, tùy theo số thời giờ và nguyên liệu tiết kiệm được nhiều hay ít.

Còn lối này do Gantt đặt ra nữa. Một người chỉ huy cai quản một số thợ. Mỗi lần có người thợ trong bọn được thưởng thì người chỉ huy cũng được thưởng. Hễ càng nhiều thợ được thưởng thì số tiền thưởng người chỉ huy càng tăng. Ví dụ có từ 9 người thợ trở xuống được thưởng thì người chỉ huy được thưởng thêm 2đ về 1 người thợ. Như có 5 người thợ được thưởng thì người chỉ huy được thưởng 2đx25 = 10đ. Có 9 người thợ được thưởng thì người chỉ huy được thưởng 2x9 = 18đ. Nhưng nếu có từ 10 người thợ trở lên được thưởng thì người chỉ huy được thưởng 3đ về một người thợ. Như có 10 người thợ được thưởng thì người chỉ huy được thưởng 3đ x 10 = 30đ. Có 12 người được thưởng thì người chỉ huy được thưởng 3x12 = 36 đ.

7. Các lối thưởng khác

Người ta nghiệm thấy rằng sự cho thêm tiền thưởng chỉ có hiệu nghiệm lúc đầu thôi. Lần lần thợ quen đi, bớt hăng hái. Cho nên lại phải đặt những lối thưởng khác như khen, thăng chức v.v...

8. Cách lựa lối trả lương

a) Lối trả công giờ hay công nhật nên dùng khi nào thợ dở và nhiều quá mà chủ có đủ người để coi chừng họ luôn luôn hoặc khi chủ đã định rõ được công việc của thợ mỗi ngày là bao nhiêu, có đủ cách phạt thợ nếu họ không làm đúng số công việc đã giao cho.

b) Lối trả khoán chỉ có thể dùng trong những hãng sản xuất nhiều từng lô một.

c) Về những công việc nhỏ mà ta không đủ thì giờ để chuẩn bị kỹ thì nên dùng lối Rowan.

d) Trái lại, công việc nào ta đã chuẩn bị kỹ, định rõ một cách chắc chắn số giờ cần thiết để làm, nên dùng lối Chevalier rất giản tiện hoặc lối Gantt để cho sự sản xuất được đều, không lúc nào mau, không lúc nào chậm.

e) Khi dùng từng nhóm thợ một thì nên theo lối phát tiền thưởng chung cho cả nhóm.

g) Đừng dùng chính sách thăng chức theo thâm niên. Chỉ những người đủ tài mới được thăng chức. Nếu làm lâu mà không đủ tài thì thưởng một món gọi là phụ cấp thâm niên.

III. Những lối trả công mới mẻ nhất

1. Lối chia tiền công cho từng kíp tự quản

Mỗi xí nghiệp chia ra nhiều kíp cai quản. Những kíp đó chẳng khác những xí nghiệp nhỏ, độc lập trong một xí nghiệp lớn, tự kiếm người làm, tự phát tiền công, tự đuổi thợ. Lối đó cũng như lối khoán và cũng có thể có những tệ hại như lối làm khoán.

2. Lối chia tùy theo số sản xuất

a) Lối Schueller. Ông Schueller, trong cuốn Cách mạng kinh tế (La revolution de l'économie) cho rằng tình trạng kinh tế hỗn loạn từ đầu thế kỉ này do sự ích kỉ và sự ngu muội của các nhà tư bản. Nhờ máy móc tinh xảo, loài người đã tăng sức sản xuất lên bội phần, không những đủ thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt của loài người, mà còn dư nhiều nữa. Vậy mà những nhà sản xuất vẫn tiếp tục trả cho thợ một số tiền công chỉ vừa đủ cho họ sống. Họ tưởng như vậy là lợi cho họ, không ngờ vì trả lương ít cho thợ, thợ không đủ sức mua nhiều cho nên những hoá vật họ sản xuất ra bán không hết, đọng lại sinh ra nạn kinh tế khủng hoảng. Lúc đó họ phải bán lỗ hoặc đỗ xuống biển và đuổi thợ đi. Năm 1932, ở Mỹ, người ta đổ cà phê xuống biển, ở Pháp người ta nhổ những cây nho đi. Trong lúc ấy ở Mỹ có 18 triệu thợ thất nghiệp. Nhưng thợ không có việc làm càng không mua được hoá vật, hoá vật càng dư thì thợ lại càng thất nghiệp. Cho nên người ta phải chuẩn bị chiến tranh ở Đức, Ý để cho thợ có việc làm, và chiến tranh phải bùng nổ.

Vì vậy ông Schueller biểu phải trả công thợ tùy theo sức sản xuất. Phải định số tổng thu mỗi tháng của xí nghiệp là bao nhiêu để cho xí nghiệp khỏi lỗ: 600.000đ chẳng hạn. Ta định một số lương cho các người làm công là bao nhiêu phần trăm của số tổng thu đó, ví dụ: 30%. Vậy số tiền tối thiểu để trả những người làm công phải là:

600.000 x 30% = 180.000 đ.

- Số đó chia một cách công bằng cho từng hạng thợ thầy. Nếu thu được dưới số 600.000 đ thì ta cũng phải phát cho thợ thuyền số 180.000đ đó. Nếu thu được nhiều hơn thì cứ tính lấy 30% mà phát. Ví dụ thu được 900.000đ thì phát cho thợ:

900.000 x 30% = 270.000đ

Như vậy có sự cộng đồng lợi hại giữa chủ và người làm công: người làm công có cảm tưởng rằng công việc của chủ là công việc của mình, không có sự chia rẻ, bóc lột giữa chủ và người làm công. Tóm lại, không có giai cấp làm công nữa vì người làm công lúc đó cũng như ông chủ nhỏ, và có lẽ sẽ không có giai cấp đấu tranh nữa.

Thuyết Schueller có vẻ nhân đạo, công bằng nhưng khi thực hiện có được hoàn mĩ không? Số lương tối thiểu cho thợ là bao nhiêu? Nếu mỗi xí nghiệp định số đó một cách khác thì sẽ ra sao? Ta chưa biết.

b) Lối Rucker.

Mới rồi, ông Rucker, trong công ty làm giấy “Continental Paper Co” ở Mĩ, tìm được một lối trả lương như sau này, có lẽ là phỏng theo lối Schueller.

Ông tính toán 50 năm, thấy số tiền trả thợ, tuy mỗi năm nhiều ít khác nhau, nhưng số đó so với số tiền bán được trừ tiền nguyên liệu đi, thì luôn luôn thành một tỉ lệ nhất định. Ông lấy 5 năm sau cùng (1936-1940) mà tính thì thấy tỉ lệ đó là 30/100 nghĩa là nguyên liệu giá 30.000 đ, bán được 130.000 đ, trừ đi còn 100.000đ, thì số tiền trả công cho thợ vào khoảng 100.000 x 31% = 31.000đ. Rồi ông nghĩ: năm nào cũng mất công bàn cãi với thợ về tiền lương, năm nào cũng có vụ làm “reo”, phải có nghiệp đoàn và chính phủ can thiệp để rồi rốt cuộc năm nào cũng phải trả cho thợ thuyền một số tiền nhất định bằng 31% số tiền bán được trừ tiền nguyên liệu, thì tại sao không đem sổ sách cho thợ coi rồi định với họ một lần rằng dù luật lao động cho tăng tiền công hay hạ nó xuống cũng mặc, dù sản xuất nhiều hay ít cũng mặc, cứ lấy 31% số tiền đó mà phát cho thợ v.v...

Kết quả mĩ mãn. Những sự bất bình giữa chủ và thợ gần như hết hẳn, thợ hăng hái làm việc hầu tăng sức sản xuất lên để chia được nhiều lời.

Giữa thợ với nhau có tinh thần đoàn kết hơn trước nhiều, họ tự đặt kỉ luật cho nhau, không cần có chủ ở bên để đốc thúc họ làm việc nữa. Một đêm, một cái máy hư; người thợ đang ngủ ở nhà, nghe tin đó, tung mền, chạy lại xưởng để chữa liền, không cần đợi tới chủ tới bảo. Người đó hiểu rằng máy ngưng, sản xuất kém thì không những người đó thiệt, mà bạn bè cũng thiệt, chủ cũng thiệt nữa.

Nhờ lối trả lương đó mà chủ và thợ cùng kiếm tiền chung với nhau, chứ không tìm cách bóc lột, bắt nhau nữa. Do đó, một phần sự rắc rối trong xã hội được giải quyết một cách ổn thoả.

IV. Chính phủ với thợ thuyền

Trở lên trên là những sự cố gắng của các nhà doanh nghiệp và các học giả để giải quyết vấn đề tiền công.

Tất nhiên các chính phủ cũng đã tìm nhiều cách để cải thiện đời sống thợ thuyền. Kể những luật lao động ra, e dài quá, ở đây tôi chỉ tóm tắt những quyền lợi mà thợ được hưởng ở Pháp năm 1946.

Mỗi tuần lễ thợ làm 40 giờ. Có vợ, không con thì thợ lãnh ít nhất mỗi giờ 20f, một tuần lễ 800f. Người đó phải đóng 6% (tức 48f), cho quỹ bảo hiểm xã hội và 45f20 tiền đánh thuế vào tiền công, cộng là 48 + 45,20 = 93,20, còn lại 706f80.

Người chủ phải trả 800f đó rồi lại phải đóng thêm

a) Bảo hiểm xã hội 10% b) Phụ cấp gia đình 11.8% c) Bảo hiểm tai nạn 9% d) Thuê dạy nghề 0.2%

e) Tiền cho thợ nghỉ ăn lương 4% số tổng cộng

Cộng[1]

=

=

=

=

=

=

80,0

134,4

72,0

1,6

41,8

1.129,8

Vậy thợ tuy lãnh có 706f8 nhưng thực ra được hưởng số tiền 1.129f80 mỗi tuần. Nếu người thợ đó có con thì được thêm 12% tiền công cho mỗi đứa và 30% kể từ đứa thứ 3 trở đi.

Những con số kể tên từ 1946 đến nay chắc đã thay đổi nhiều, quyền lợi của thợ chắc đã được tăng, nhưng tôi không đủ tài liệu để nghiên cứu.

Ở Pháp, thợ được hưởng nhiều lợi như vậy mà vẫn chưa đủ sống. Ở Anh, thợ các hãng công hay tư hễ đau, lại y sĩ khám bệnh khỏi trả tiền và mang toa lại nhà thuốc mua cũng khỏi trả tiền nữa.

Còn tình cảnh bên ta sao, chắc các bạn đã rõ. (Những số liệu từ năm 1949)

Chú thích

  1. Gồm cả 800f đã nói trên. (Goldfish)

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tổ chức công việc theo khoa học
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish (12/05/2012, e-thuvien.com)