Thuyết Nhưỡng di

8. Thuyết Nhưỡng di

Mũi nhọn của Phái Nhưỡng di hướng về các nhà Tây phương học

Mới đây, ông Ii Kamon-no Kami (Tỉnh-Y Tảo-Bộ-đầu) bị ám sát, tiếp đến là vụ ông Andō Tsushima-no Kami (An-Đằng Đối-Mã- thủ), quan phủ vùng Tsushima, bị các võ sĩ thất nghiệp gây thương tích. Tôi nghe nói, một trong số những kẻ gây bạo loạn đó đã chạy vào Yashiki của lãnh địa Chōshū trốn, nên mới nhận ra rằng Chōshū cũng nằm trong nhóm những lãnh địa Nhưỡng di. Đại thể, vào thời điểm đó, người ta rầm rộ phong trào Nhưỡng di và không thể tác động gì vào đó được.

Về bản thân tôi, mặc dù bên ngoài như vậy, nhưng nhớ là không có nguy hiểm gì đến mình cả. Khi còn học ở Ōsaka, tất nhiên, không thể có nguy cơ bị ám sát. Hơn nữa, bảo là lên Edo cũng không có kẻ thù đáng sợ. Nhưng sau khi ở châu Âu trở về, tình hình không phải như vậy nữa, mà nhốn nháo hơn nhiều. Các thương nhân nước ngoài lo lắng đóng cửa hàng. Những người được gọi là Rōnin (lãng-nhân), bình thường họ ở đâu, làm gì không biết, nhưng cũng như các tráng sĩ thời nay, hễ có chuyện gì là lại thấy họ nhấp nhố kéo ra.

Như thế có nghĩa là, những người đọc sách và bàn luận những chuyện về các nước phương Tây không thể tránh khỏi bị coi là có vấn đề, hèn hạ, chuyên dối lừa thiên hạ, những kẻ vô luật, vô loài, dối trá, những kẻ bán nước hại dân. Và thế là mũi nhọn công kích của các Rōnin hướng về những người theo phái Tây phương học. Đó quả thực là điều đáng sợ, nhưng chúng tôi nào có phạm tội gì đâu? Không biết phải nhún mình đến đâu mới thoát được? Kết cục, không lẽ đến mức phải bỏ cả sách vở của người phương Tây và ngày đêm ca tụng Thuyết Nhưỡng di mới được coi là hành động biết hối cải? Tôi không thể gò lưng làm điều ấy được! Nhưng chúng tôi càng tỏ vẻ làm ngơ thì các Rōnin lại càng ra chiều khó chịu.

Cuộc tao nạn của Tezuka và Tōjō

Trong số những người được Mạc phủ gọi vào làm phiên dịch như tôi có anh Tezuka Ritsuzō (Thủ-Trủng Luật-Tạng). Khi anh này đến Yashiki của lãnh địa Chōshū nói chuyện gì đó về nước ngoài liền bị các thanh niên ở đó rút kiếm ra đâm. Thấy thế, anh Tezuka hoảng quá, định chạy trốn, thì bị các thanh niên này vác kiếm đuổi theo. Anh Tezuka đã chạy thục mạng mà cũng không kịp đành phải nhảy xuống con hào ở Hibiya (Nhật-Hỷ-Cốc) giữa lúc trời lạnh và đã thoát thân.

Một chuyện tương tự cũng xảy ra với anh Tōjō Reizō (Đồng-Điều Lễ-Tạng), võ sĩ lãnh địa Chōshū. Anh Tōjō vốn là bạn đồng liêu với tôi ở trường Ogata. Thường thì anh sống với gia đình Shokusanjin (Thục-Sơn-Nhân) ở Ko'ishigawa (Tiểu-Thạch- Xuyên). Nhưng có một hôm, các Rōnin tụ tập kéo vào làm anh Tōjō phải chạy ra cửa sau để trốn và may thay thoát được.

Tình hình ngày càng trở nên bất lợi cho những người theo Tây phương học như tôi, nên không thể chủ quan được. Nói như thế không có nghĩa là từ bỏ những điều mình tâm niệm hoặc những điều đang làm. Tôi quyết định không tốn thời giờ lo lắng những chuyện như thế và cũng không bỏ việc mình đang thực hiện, mà chỉ làm sao để lời ăn tiếng nói cũng như việc làm của mình nhẹ nhàng, mềm dẻo hơn, không đối lập với người khác. Tôi cố làm sao không nói với những người mình không tin cẩn những điều lợi hại trong xã hội và cẩn trọng giữ mình ở mức có thể. Đồng thời, tôi bắt đầu chuyên chú vào việc dịch sách.

Về các tác phẩm dịch của tôi không có gì đặc biệt phải kể lại. Tôi đã viết chi tiết trong phần tựa của tuyển tập Fukuzawa Yukichi zenshūshogen vừa xuất bản trong năm nay, nên xin không nói thêm ở đây. Trong thời gian tôi dịch các tác phẩm ấy cũng là lúc phong trào Nhưỡng di đang rầm rộ. Nhưng ngược lại, học sinh đến học ngày càng đông. Vì thế, tôi dồn hết sức vào việc giảng dạy. Sinh nhai hàng ngày của tôi, vì được Mạc phủ trả lương, được nhận phần gạo trợ cấp, nên có thể sống đủ mà không cần phải để ý đến những chuyện bên ngoài. Với tôi, những năm tháng ấy một nửa là lo lắng, còn nửa kia là sự thích thú được chứng kiến những biến đổi của thời đại.

Cuộc viếng thăm bất ngờ của anh Harada Suizan

Một hôm, đã có chuyện lạ xảy ra đúng vào thời kỳ tôi ở Shinsenza (không phải ở trường Shinsenza). Chuyện là một hôm chị hầu gái đến báo cho tôi rằng, có ông võ sĩ lạ mặt đến và nói muốn gặp. Tôi liền hỏi: “Trông ông ta thế nào?", thì chị trả lời rằng:

- Một người cao lớn, mắt bị chột và đeo thanh kiếm dài.

Chị bảo như vậy, nên tôi thầm nghĩ:

- Không khéo lại là kẻ bạo loạn cũng nên. Thế ông ta xưng tên là gì?

- Tôi có hỏi, nhưng ông ấy không trả lời, mà chỉ bảo là ông cứ gặp, khắc sẽ nhận ra.

Nghe thấy thế, tôi đoán chừng là một kẻ không mấy tử tế và dè chừng nhòm ra ngoài mới thấy không có gì phải lo lắng đến thế. Trước mắt tôi là cậu Harada Suizan (Nguyên-Điền Thủy-Sơn), học ngành y, người vùng Chikuzen và là bạn thân của tôi khi còn học ở trường Ogata. Tôi không nén được sự ngạc nhiên, thốt lên: “Ngốc thật! Ra là cậu à? Sao không xưng tên cho tôi nhờ? Tôi hoảng quá đấy!”.

Sau đó, chúng tôi vào trong nhà và hàn huyên đủ mọi chuyện trên trời dưới biển. Có lúc cả hai cùng không nén được, cười vang nhà. Trong tình cảnh xã hội rối ren, nên những người theo phái Tây phương học mới có những pha sửng sốt bởi một việc nhỏ nhặt như vậy.

Hạm đội Anh cập cảng

Phong trào Nhưỡng di ngày càng lên cao. Khi tướng quân Tokugawa Yemochi (Đức-Xuyên Gia-Mậu) thượng kinh và lên đường chinh phạt lãnh địa Chōshū thì làn sóng phản đối người nước ngoài lan rộng ra toàn xã hội.

Mùa xuân năm Bunkyū thứ ba (1863-ND), hạm đội của Anh kéo đến. Họ cho rằng, trong vụ Namamugi năm ngoái, các võ sĩ vùng Satsuma của Nhật đã giết người Anh. Đó là tội của chính phủ Nhật! Từ trước đến nay, người Anh đã cố gắng đối xử hòa hiếu với người Nhật, nhưng ngược lại, người Nhật dùng bạo lực và còn giết cả người của họ. Dù thế nào, trách nhiệm đó cũng thuộc về chính phủ Nhật Bản. Đó là tội không thể tha thứ. Họ yêu cầu trong vòng 20 ngày tới phải trả lời rõ ràng và sẽ lấy từ chính phủ Nhật 100.000 bảng, từ lãnh địa Chōshū 25.000 bảng tiền bồi thường. Hơn thế, còn phải đưa những kẻ phạm tội ra xử trước sự chứng kiến của họ.

Tối hậu thư đó được đưa đến Mạc phủ vào ngày 19 tháng 2, là một công hàm khá dài. Khi đó, tôi đảm nhiệm công tác biên dịch, nên nửa đêm bị gọi bật dậy để đến nhà ông Matsudaira Iwami-no Kami (Tùng-Bình Thạch-Kiến-thủ), người chịu trách nhiệm về vấn đề ngoại giao (tương đương với chức Ngoại trưởng ngày nay-ND) ở Akasaka (Xích-Phản). Tôi, anh Sugida Gentan (Sam-Điền Huyền-Đoan), anh Takahatake Gorō (Cao-Đồng Ngũ-Lang), ba người cùng đi dịch đến sáng và lo lắng không biết tình hình sẽ đi đến đâu.

Ngày 21, Tướng quân đã thấy nguy cơ chiến tranh ở nhãn tiền, nhưng vẫn bỏ đấy và thượng kinh. Sau đó, hai mươi ngày theo thời hạn đã đến. Thư của chính phủ Anh đến vào ngày 19 thì đúng ngày mùng 10 tháng sau là hết hạn. Nhưng bên phía Nhật xin họ chờ thêm hai mươi ngày nữa. Tranh luận qua lại xem có chờ hay không thì cuối cùng họ cũng chấp thuận. Nhưng Mạc phủ bàn ra bàn vào mà vẫn không quyết định được có nên trả tiền bồi thường hay không. Tao loạn đó đã làm dấy lên trong nội thị Edo tin thất thiệt chắc chắn sắp có chiến tranh và còn có cả những phán đoán xem chiến tranh sẽ nổ ra vào ngày nào. Và hai mươi ngày gia hạn thêm cũng đã hết. Bên phía Nhật lại xin kéo dài mười ngày nữa. Hai mươi ngày, và lại mười ngày lần nữa trì hoãn thư phúc đáp.

Khi đó, tôi sống ở khu Shinsenza, xung quanh bàn tán rất nhiều rằng chiến tranh sắp nổ ra, rằng như thế thì phải lánh đi chứ không còn cách nào khác. Phải chuẩn bị dần đi là vừa. Thế rồi cũng đến lúc không thể thương thuyết thêm được một ngày nào nữa. Vì tôi ở bộ phận dịch, nên biết rõ điều đó và lo lắng không yên.

Sự ra oai vô lối của tòa công sứ Pháp

Chuyện xảy ra vào thời gian tôi làm công tác dịch thuật cho Mạc phủ. Không hiểu ông Bellecourt, công sứ người Pháp nghĩ thế nào mà viết một lá thư gửi Mạc phủ nói thẳng ra rằng, họ hoàn toàn đồng ý với chính phủ Anh về sự việc lần này. Khi chiến sự nổ ra, họ sẽ cử hạm đội cùng với hạm đội của Anh vào phá tan cảng Shinagawa!

Thật không còn gì để nói nữa. Cách làm đó không khác gì cách mà họ đang dọa nạt người Trung Quốc hiện nay. Chính phủ chỉ nhìn sự tức giận của người Anh và người Pháp mà lo. Tôi hiểu rõ tình hình, mà càng biết thì càng thêm bận lòng.

Tình hình bước vào giai đoạn gay cấn

Đã đến lúc gấp rút phải hành động, mà phía Mạc phủ mãi vẫn chưa quyết được vấn đề gì. Tình hình trở nên phức tạp thì các vị trưởng lão, chuyên cố vấn cho Mạc phủ, viện cớ cáo bệnh để vắng mặt. Bộ phận chủ chốt của chính quyền không biết ở nơi nào, nên nhân viên sự vụ cứ ì ra.

Trước thời hạn mà chính phủ Anh đưa ra chừng hai ngày thì phải dọn dẹp đồ đạc. Bây giờ trong nhà tôi vẫn còn một chiếc tủ bị va đập. Lúc phải dọn đồ đi, tôi chằng tủ bằng dây thừng và nghĩ, nếu chuyển đến vùng Aoyama (Thanh-Sơn) là ổn. Thế nào chắc người ta cũng không có ý làm hại đến người dân thường. Tôi chuyển đến vùng Onden (Ổn-Điền), Aoyama ở nhờ nhà một bác sĩ, vốn xuất thân từ vùng Aki, tên là Kure Kōseki (Ngô Hoàng-Thạch). Cậu Kure vốn là chỗ thân thích của anh Mitsukuri. Tôi cũng biết, nên đến chỗ cậu ta và nói khó cho một chỗ lánh nạn trong ít lâu.

Sau khi đóng gói xong đồ đạc, ghi tên tuổi mình và cho chở đi, tôi ra bãi tập của ông Egawa (Giang-Xuyên) ở phía bờ biển gần Shinsenza và thấy nòng đại bác đã hướng ra biển, chỉ chờ phút lên đạn bắn. Nghĩa là bên phía Nhật đã có ý sẵn sàng chuẩn bị vào cuộc trong nay mai. Trước đó, Mạc phủ ra một tờ lệnh rằng khi chiến tranh bắt đầu, Mạc phủ sẽ đốt lửa ra hiệu từ Hamagoden (Banh-Ngự-Điện), nay là Enryōkan (Diên-Liêu- quán). Mọi người dân phải theo hiệu đó mà chuẩn bị. Thời đó người dân Edo đã xuyên tạc lệnh này thành câu vè: “Mở quả bầu ra làm nước đá”. Qua đó cũng có thể hiểu được tình hình lúc bấy giờ.

Thất sách trong việc dự trữ gạo và tương

Lại có một chuyện buồn cười nữa. Trong dự đoán của tôi, dù thế nào chiến tranh cũng sắp nổ ra nên định đi mua gạo. Tôi nhờ người bán gạo quen để mua 30 Hyō (Biếu), gửi tạm lại đó và mua thêm cả một thùng tương cất vào kho. Nhưng càng đến ngày hết hạn thương lượng thì thứ không giúp ích nhất là gạo và tương. Làm thế nào với 30 Hyō gạo bây giờ? Đó là những thứ khó mang đi nhất. Không thể vác 30 Hyō gạo, cũng như không thể cõng trên lưng cả một thùng tương. Lạ thật! Người xưa thường nói, thời chiến chỉ cần có gạo và tương là sống được, nhưng khi có chiến tranh thì không có gì gây vướng víu như tương và gạo. Thế nên, khi chạy trốn, chỉ còn nước đem bỏ đi mà thôi. Giữa lúc loạn lạc nhất đã có một chuyện nực cười như vậy.

Khi đó, nhà tôi ở Shinsenza còn có mấy cậu học trò. Tôi có khoảng 2 Bu và 100 hay 150 Ryō tiền vàng gì đó. Nhưng một mình tôi cầm cả số tiền đó thì không nên. Mà thời loạn, có thể lạc nhau bất cứ lúc nào, nhưng cứ có tiền là không đói được, chia cho mỗi người một ít để cầm đi tốt hơn là để một mình tôi hay vợ tôi cầm. Chúng tôi chia ra thành bốn năm phần theo đầu người và giắt chặt vào thắt lưng.

Nhưng giữa lúc đó, có một điều rất may. Ở Karatsu (Đường-Tân) có ông Kakurō (Các-Lão) gọi là Ogasawara Iki-no Kami (Tiểu-Lạp-Nguyên Nhất-Kỳ-thủ) và ở Yokohama lại có ông Asano Bizen-no Kami (Thiển-Dã Bị-Tiền-thủ). Họ bí mật bàn với nhau rằng, chỉ trước sau ngày mùng 10 tháng 5 là chiến tranh xảy ra, nên đến trước ngày đó là cáo bệnh.

Sáng hôm đó, ông Ogasawara Iki-no Kami dậy sớm lên chiến hạm của Nhật và rời vịnh Shinagawa. Và thế là pháo hạm của Anh chạy bám ngay sau tàu của ông Iki-no Kami. Ông Iki-no Kami bảo đi đến vùng Kamigata và rời cảng Shinagawa. Theo đúng như ông nói, mà ông lại quay tàu về phía mũi Hommoku (Bản-Mục) thì người Anh sẽ nổ súng bắn. Vì thế, ông không vòng qua đó mà vào phía Yokohama và một mình đưa ra quyết định sẽ trả tiền bồi thường cho người Anh. 10 vạn bảng lúc đó tính ra khoảng 40 vạn đô-la tiền Mexico. Ông trao số tiền đó cho công sứ người Anh là trung tá Edward St. Jonh Neale và sự việc coi như bước đầu được giải quyết.

Chiến sự ở cảng Kagoshima

Khoản tiền bồi thường 10 vạn bảng mà chính phủ Anh đòi Mạc phủ đã được giao hoàn tất vào ngày 10 tháng 5. Tiếp đó, chiến hạm của Anh kéo xuống vùng Kagoshima (Lộc-Nhi-Đảo), yêu cầu bồi thường 25000 bảng để đền bù cho gia đình người bị hại, đồng thời phải xử trảm những người phạm tội ngay trước mặt quân đội Anh. 6 chiến hạm ầm ầm kéo đến cảng Kagoshima và thả neo ở đó. Liền ngay sau có sứ giả của lãnh địa Satsuma ra bái kiến. Đề đốc thủy quân Kuper, tư lệnh trưởng Wilmot, thuyền trưởng Josling trao công hàm cho vị viên chức của lãnh địa Satsuma và nói sẽ đợi hồi âm. Nhưng không phải dễ dàng gì mà phúc đáp ngay được.

Trong khi đó, tàu thiết kế kiểu Âu của lãnh địa Satsuma, tức hai con tàu lãnh địa mua về từ châu Âu trở thành vật làm tin và sẽ phải đỗ ở Sakurajima (Anh-Đảo) và bị tàu của Anh giữ chặt lại. Từ trên bờ, thấy cảnh ấy, người Satsuma liền nổ súng phản đối. Nhưng trên bờ nổ súng thì từ dưới biển cũng phát tiếng đáp lại và tự nhiên thành một chiến sự lớn. Sự kiện đó diễn ra đúng vào hạ tuần tháng 5 năm Bunkyū thứ ba (1863-ND).

Ngày 28, 29, tàu của Anh nghĩ trên bờ không nổ súng nữa nên không nhổ neo thì bỗng nhiên từ trên bờ tiếng súng lại dội xuống. Và tàu của Anh quyết định nhổ neo rời đi. Nhưng đúng lúc ấy, không ngờ cuồng phong dữ dội nổi lên, lại đang ở chỗ biển sâu nhất, không thể nhổ neo được, nên họ đành cắt dây để rời đi. Đó chính là nguyên nhân tại sao chiếc mỏ neo của người Anh mà người ta hay nhắc đến lại rơi vào tay người Satsuma. Hơn thế, súng từ trên bờ dội xuống ngày càng mạnh. Họ nhằm vào chiến hạm lớn nhất mà bắn và bắn khá trúng. Khi đó, một viên đạn tròn, lớn trúng đích làm nhiều người bị thương.

Tư lệnh trưởng và thuyền trưởng gục ngã ngay trong loạt đạn đó làm trên tàu hỗn loạn. Nhưng đạn bắn lên bờ cũng không kém phần quyết liệt. Nhà cửa gần cảng bị cháy trụi. Tổn hại này không dễ gì mà khắc phục ngay được. Kết cục đây là cuộc chiến không phân thắng bại. Mặc dù phía Satsuma có bắn vào tàu của Anh và giết hại được hai vị tướng, nhưng cuối cùng cũng không làm gì được con tàu đó. Ngược lại, phía Anh có đốt cháy nhà cửa, làm tan hoang cả khu cảng, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi, chứ không tiến quân lên đến bờ được. Không bên nào thắng, cũng chẳng bên nào thua.

Sau đó, tàu của Anh quay về Yokohama là vào khoảng ngày mùng 10 tháng 6. Lúc ấy có một chuyện khá thú vị. Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, xem lại mảnh vỡ của con tàu bị bắn, người Anh bảo nhau rằng: “Kiểu đạn tròn này người Nhật không thể tự sản xuất được. Xem kỹ thì ra là của Nga! Chắc đã được gửi từ Nga về Nhật”.

Quan hệ giữa Nga và Anh được ví như “chó với mèo”, một phần vì mối hiềm khích trong chiến tranh Crưm. Vì thế, giữa họ dễ sinh mối nghi hoặc nhau. Cho đến bây giờ, quan hệ giữa Nga và Anh vẫn chưa được cải thiện chút nào.

Matsuki và Godai bị đưa lên tàu của Anh

Chuyện đó xin được tạm gác lại. Khi hai chiếc tàu của lãnh địa Satsuma bị kéo đi thì thuyền trưởng Matsuki Kōan (sau này đổi tên thành Terajima Tōzō và Terajima Munenori) và Godai Saisuke (sau đổi thành Godai Motoatsu) được phong chức Funabugyō (thuyền-phụng-hành), tức là thuyền trưởng của hai chiếc tàu đó. Khi người Anh kéo giữ tàu lại thì tất cả các thủy thủ đều được cho lên bờ, chỉ có hai thuyền trưởng là bị giữ làm con tin trên tàu của Anh. Nhưng trước khi bị giải đi, hai anh này đã ngầm bàn với nhau là sẽ châm lửa vào kho chứa đạn dược để đốt cháy tàu chứ không để rơi vào tay người Anh. Câu chuyện là như thế.

Hai anh không phải là tù binh, nhưng cũng không được coi là khách và chắc chắn đã bị dẫn theo tàu đến Yokohama. Chuyện đó cũng được đăng lên báo của Yokohama. Trước đây, tôi có cùng anh Matsuki đi châu Âu, nhưng trước đó nữa, tôi, anh Mitsukuri và anh Matsuki đã là bộ ba thân thiết. Tôi chỉ nghe người ta kháo nhau về việc anh Matsuki bị đưa lên tàu Anh, chứ không biết hỏi ở đâu cho rõ ngọn ngành. Nếu người Anh trả hai thuyền trưởng đó về Satsuma, chắc chắn sẽ bị các võ sĩ trẻ đem ra xử tử. Nếu người Anh giao cho Mạc phủ thì họ sẽ không giết mà nhốt vào nhà lao điều tra cho ra nhẽ mọi nghi hoặc. Nhưng cho đến hôm đó cũng không thấy họ trả về Satsuma hay giao cho Mạc phủ, không biết chuyện gì đã xảy ra. Thật là khó hiểu.

Tôi với anh Mitsukuri nói với nhau rất nhiều về chuyện này. Nhưng còn đáng ngạc nhiên hơn nữa là sau một năm, bỗng nhiên người ta tìm thấy anh Matsuki.

Cuộc đàm phán giữa lãnh địa Satsuma và người Anh

Câu chuyện về anh Matsuki thì tôi xin được tạm dừng ở đó. Sau khi hạm đội Anh quay trở lại Yokohama, người của lãnh địa Satsuma lên Edo để đàm phán. Đó là Iwashita Sajiemon (Nham-Hạ Tá-Thứ-Hữu-Vệ-Môn), Shigeno Kōnojō (sau đổi tên thành Yasutsugu) và ngoài ra còn có người đứng sau hậu trường là Ōkubo Ichizō (sau đổi tên là Toshimichi). Ba người đó lên Edo và theo họ nói thì nguyện vọng lớn nhất của lãnh địa Satsuma là muốn trì hoãn cuộc chiến, nhưng đang phân vân không biết nhờ ai đứng ra làm trung gian cho cuộc đàm phán này. Họ chỉ biết nhờ vào anh Shimizu Usaburō (hay còn gọi là Muzuho'ya Usaburō). Anh vốn là một nhà buôn, nhưng kiên tâm học Tây phương học và có đọc được chút tiếng Anh. Vào thời đó, anh bị coi là một chí sĩ không hợp với đẳng cấp của mình.

Lần đầu tiên, khi người Anh chuẩn bị kéo xuống Satsuma thì họ tính rằng, nếu khi đó phía Satsuma đưa ra văn bản gì bằng tiếng Nhật họ sẽ không biết làm thế nào để đọc được. Họ cũng có người phiên dịch tên là Alexander George Gustav von Siebold, cũng không phải lo lắng nhiều, nhưng không có ai đọc được lưu loát tiếng Nhật, nên người Anh đã nhờ anh đi cùng. Anh Shimizu bình sinh vốn là người can đảm, thích đương đầu với những sự khó khăn và sẵn lòng nhận lời ngay. Sau khi xin giấy phép của Hải quan Yokohama, anh lên tàu đi và đã chứng kiến cận cảnh cuộc giao chiến.

Khi ba đại diện của Satsuma lên Edo để đàm phán với bên Anh, thì người chuyên lo việc “hậu trường” Okubo Ichizō đến gặp anh Shimizu Usaburō, nhờ anh nói với ông John Neale, công sứ Anh tại Yokohama hồi đó, để xin trì hoãn cuộc chiến thêm một thời gian.

Sau khi nhận lời, anh Ōkubo, anh Shimizu đi đến Tòa công sứ Anh và xin được tiếp kiến với công sứ. Nhưng người văn thư bảo rằng, với một việc trọng đại như vậy thì một thương nhân không đủ tư cách, mà phải tìm một người quan trọng hơn. Anh Shimizu mới lý luận lại rằng: “Con người không có ai lớn, nhỏ, nặng, nhẹ hơn ai. Cứ nhận lời ủy nhiệm đi đàm phán là đủ. Nếu như thế mà ông công sứ vẫn coi là người không đáng nói chuyện thì ông thử giải thích xem tại sao?”

Nghe thấy thế, công sứ không còn cách nào, liền đồng ý cho vào gặp. Khi anh Shimizu đề cập đến chuyện ngừng chiến, ông công sứ ra chiều không thèm nghe. Ông bảo, chính phủ Anh đã điều phái thêm quân hạm từ biển Ấn Độ Dương và mấy ngàn lính đang ở trong tư thế sẵn sàng. Thế nên, việc hoãn lại thời điểm bắt đầu cuộc chiến là điều không thể. Ông ta cứ khăng khăng không chịu nghe lời nào. Vì vậy, anh Shimizu xin cáo lui và về báo lại với mấy người Satsuma về kết quả cuộc nói chuyện. Nghe xong, anh Shigeno bảo, tình hình có vẻ căng, chỉ còn cách là tự những đại diện của lãnh địa Satsuma đến xin tiếp kiến thử xem sao.

Cuối cùng, cuộc đàm phán giữa Tòa công sứ Anh và lãnh địa Satsuma cũng được thực hiện. Sau nhiều lần chất vấn, trao đi đổi lại, cũng đưa ra được một thảo thuận rằng, lãnh địa Satsuma sẽ phải trả khoản bồi thường 25000 bảng, tính theo thời giá lúc đó là vào khoảng 7 vạn Ryō. Số tiền này thực ra là vay của Mạc phủ và được trả theo chứng từ tên của Shimazu Awaji-no Kami (Đảo-Tân Đạm-Lộ-thủ), chứ không phải theo danh nghĩa của ông Shimazu Satsuma-no Kami (Đảo-Tân Tát-Ma-thủ).

Còn về hung thủ giết ông Richardson, hiện giờ không biết trốn ở đâu, nếu tìm ra được nhất định sẽ đem ra xử bắn. Tham gia cuộc hội đàm đó không có anh Ōkubo Ichizō mà chỉ có anh Iwashita và anh Shigeno. Ngoài ra, còn có các quan sát viên như ông Ugai Ya'ichi từ Bộ phận chuyên trách về ngoại giao của Mạc phủ và ông Saitō Kingo (Tề-Đằng Cẩn-Ngô), người của Bộ phận chuyên trách về mặt an ninh. Sau đó, mọi văn bản được ký kết vào ngày mùng một hay mùng hai tháng 11 năm Bunkyū thứ ba (1863-ND).

Matsuki và Godai ẩn náu ở Saitama

Tiếp theo, tôi xin được kể về tình hình anh Matsuki, tức là anh Terashima, người bạn mà tôi vẫn lo lắng, không biết ra sao. Khi người ta đưa anh Matsuki và Godai từ tàu của Satsuma lên tàu của Anh, anh Shimizu đã có mặt ở đó, làm anh Matsuki rất ngạc nhiên. Anh Shimizu là người mà khi ở Edo đã có nhiều lần mang sách sang hỏi anh Matsuki những chỗ không hiểu. Hai người vốn rất thân thiết, nên việc anh Matsuki ngạc nhiên khi thấy anh Shimizu ở trên tàu của người Anh là điều có thể lý giải được. Họ mừng vui khôn xiết khi gặp được nhau và câu đầu tiên họ hỏi nhau là: “Sao cậu lại ở đây thế?”. Người còn lại trả lời bằng một câu hỏi: “Thế sao cậu cũng ở đây vậy?”.

Sau đó, tàu đưa họ đến Yokohama, nhưng không thể cứ ở mãi trên tàu thế này được. Anh Matsuki mới bảo với anh Shimizu Usaburō rằng, muốn được lên bờ. Nghe thấy thế, anh Shimizu đồng ý giúp ngay. Nhưng cả anh Matsuki và Godai đều là những người phải ẩn náu, chỉ có anh Shimizu có thể đi giữa thanh thiên bạch nhật. Anh Shimizu phải lên Yokohama trước nói chuyện với một người Mỹ tên là Eugene M. Van Reed. Nghe xong, anh ta đồng ý lo liệu giúp ngay. Tạm thời cứ lên thuyền nan đi về phía Kanagawa, anh ta sẽ lo cho cả thuyền nan và những việc khác nữa, nhưng có điều phải hỏi xem đề đốc hải quân có đồng ý hay không. Ông đề đốc là người hết sức quảng đại, nghe xong liền đồng ý ngay. Sau đó, Eugene M. Van Reed và anh Shimizu bàn bạc cụ thể với nhau là phải chuẩn bị cho hai người bỏ trốn vào ban đêm, lên thuyền nan, từ bờ biển phía đông Kanagawa.

Thời đó, suốt dọc từ Yokohama đến Edo, cứ cách độ một hai huyện là lại có một điếm canh. Thấy người khả nghi là họ giữ lại, không cho thông hành, dù chỉ là một người. Không thể đeo hai thanh kiếm nhỏ mà đi qua đó được, nên kiếm, ô, cùng tất cả đồ đạc phải gửi lại chỗ anh Van Reed. Cả mấy người đều ăn mặc mà trông qua thì người ta tưởng là lái tàu hay người thường và lên thuyền đi về hướng đông.

Cuối cùng, họ lên bờ từ bãi biển Haneda (Vũ-Căn-Điền) và vào đến Edo, nhưng vẫn sợ mật thám của Mạc phủ. Không thể nghỉ lại ở những nhà trọ bình thường, nên anh Shimizu đã phải tìm đến ông Suzuki, chủ tàu khách ở Horidome (Quật-Lưu) và hẹn nhau ở đó. Hai người lên bờ giữa đêm khuya, lần tìm trong bóng tối đường đi thế nào mà mãi tận đến lúc trời hửng sáng mới đến được Edo. Cứ như thế mà đi thì nguy hiểm, nên họ phải thuê võng tre để có thể che được mặt.

Trưa hôm sau, họ đến được nhà trọ ở Horidome. Anh Shimizu đón đợi ở đó từ hôm trước và mọi chuyện đều diễn ra suôn sẻ. Họ dừng chân, bí mật nghỉ lại hai đêm, sau đó anh Shimizu dẫn cả hai về tận làng của anh ở Hanyū-mura (Vũ-Sinh-thôn), Saitama-go'ori (Kỳ-Ngọc-quận), Bushū (Vũ-châu). Ở đó, vẫn chưa hoàn toàn cảm thấy yên tâm. Bên làng Naramura (Nại-Lương-thôn) có một người tên là Yoshida Ichiemon (Cát-Điền Thi-Hữu-Vệ-Môn), họ hàng của anh Shimizu, nên họ chuyển đến đó. Đó là một nơi vắng vẻ và anh Shimizu yên tâm là sẽ không bị phát hiện. Sau khoảng năm, sáu tháng, anh Godai bí mật đi Nagasaki, còn anh Matsuki phải ở đó thêm một năm.

Lãnh địa của anh cũng lo lắng và cố công tìm chỗ anh ở. Ông Ōkubo, Iwashita, Shigeno và những người đang trong nhiệm kỳ làm việc ở Yashiki của lãnh địa Satsuma đóng tại Edo như Higo Shichizaemon (Bỉ-Hậu Thất-Tả-Vệ-Môn) và Nambu Yahachirō (Nam-Bộ Di-Bát-Lang) đều bủa đi hỏi han xem có ai biết anh Matsuki ở đâu không. Cuối cùng, sau nhiều lần dò hỏi, họ đoán rằng, có thể anh Shimizu biết và đến tìm. Nhưng ban đầu, anh Shimizu sợ không dám nói ra. Chỉ cần sơ ý một chút là anh Matsuki có thể bị bắt và bị chém đầu như chơi, nên anh cố không để lộ ra sự thật mà chỉ trả lời qua loa rằng, không biết.

Tuy thế, phía những người của lãnh địa Satsuma vẫn bán tín bán nghi. Không những người của lãnh địa Satsuma mà cả người của Mạc phủ cũng đến dò la, làm anh Shimizu hoang mang không biết nên làm thế nào. Nếu họ không có ý định đem anh Matsuki ra xử tử thì rất muốn để anh ra. Nếu họ có ý định giết thì vì đã giúp một thời gian dài, nên anh không muốn nộp anh Matsuki cho họ. Anh Shimizu đã rất phân vân. Ở Edo có thầy Kawamoto Kōmin (Xuyên-Bản Hạnh-Dân), đại gia về Tây phương học, đồng thời là thầy dạy ân nhân cũ của anh Matsuki. Anh Shimizu nghĩ nên theo lời khuyên của thầy và đã đến hỏi ý kiến. Theo thầy: “Nên đưa cậu ấy ra trình diện thì hơn. Người vùng Satsuma đã nói như vậy thì cứ như thế mà làm. Chắc họ không đem ra xử tử đâu!”.

Anh Shimizu nghe theo lời thầy và tự anh thông báo với người của lãnh địa Satsuma rằng, thực ra anh có giúp đỡ anh Matsuki từ lúc đầu và biết mọi chuyện xảy ra trên tàu. Anh hứa sẽ trao trả lại anh Matsuki cho lãnh địa ngay, với điều kiện không được giết anh Matsuki. Sau đó, anh Matsuki gặp lại những người trong lãnh địa và đổi tên thành Terashima Tōzō. Chuyện đó được cả phía lãnh địa Satsuma giữ kín. Anh Shimizu nghe họ bảo: trong lãnh địa cũng chỉ có bảy người biết được chuyện này mà thôi. Trong số đó, có lẽ có cả anh Ōkubo và anh Iwashita.

Lần đầu gặp lại anh Matsuki

Đó là năm Bunkyū thứ tư (1864-ND), tôi không nhớ rõ tháng mấy, nhưng không phải mùa lạnh mà là mùa hè hay mùa thu gì đó. Một hôm, bỗng nhiên ông Higo Shichizaemon (Phì-Hậu Thất-Tả-Vệ-Môn) đến hỏi tôi:

- Cậu Matsuki đang ở đây, có thể vào nhà được không?

Nghe thấy thế, tôi ngạc nhiên lắm, nhưng vẫn từ tốn hỏi:

- Từ năm ngoái đến giờ tôi vẫn lo về anh Matsuki. Cứ khi nào gặp anh Mitsukuri là chúng tôi chỉ toàn nói về chuyện này. Nhưng có thật là anh ấy còn sống không?

- Chắc chắn là vẫn còn sống!

- Thế bây giờ anh ấy đang ở đâu?

- Đang ở Edo này thôi, nhưng vấn đề là có thể dẫn đến nhà cậu được không?

- Được chứ! Được quá đi chứ! Không có gì phải băn khoăn cả. Không hề gì! Tôi nóng lòng muốn được gặp anh ấy ngay là đằng khác ấy chứ.

Ngày hôm sau, anh Matsuki đến. Tôi mừng như gặp được người từ thế giới bên kia trở về. Tôi hỏi han đủ chuyện, biết được việc anh đã cùng anh Shimizu di chuyển thế nào và cả những chuyện khác nữa. Khi đó, nhà tôi vẫn ở Shinsenza. Đã lâu mới được gặp lại nên chúng tôi cùng nhau dùng cơm. Tôi hỏi: “Bây giờ anh đang ở đâu?”, thì được trả lời rằng, đang ở trọ nhà một bác sĩ tên là Sō (Tào) gì đó, ở khu Shiroganedai-machi (Bạch-Ngân-Đài-đinh). Đó chính là quê vợ anh, nên họ cho anh nương náu nhờ. Hôm đó chúng tôi tạm chia tay. Và tôi đến chỗ anh Mitsukuri kể lại mọi chuyện.

Hôm sau, anh Mitsukuri đến ngay nhà tôi và hai chúng tôi đồng hành đến nhà họ Sō ở Shirogane. Ba chúng tôi hàn huyên đủ mọi chuyện suốt từ trưa đến tối, trong đó nói cả về chiến sự ở Kagoshima. Về cuộc giao chiến đó còn nhiều điều thú vị, nhưng nếu viết hết ra sẽ rất dài, nên cho phép tôi được lược đi, mà chỉ xin được nói về tình hình của riêng anh Matsuki. Về phía lãnh địa Satsuma, có lẽ không có vấn đề gì, nhưng vẫn chưa biết ý của Mạc phủ ra sao. Chỉ có một điều chắc chắn là, anh khác với các phạm nhân khác của Mạc phủ, nên không phải lo lắng nhiều.

Chúng tôi mới hỏi hiện nay anh làm gì để sống, anh trả lời, đang làm công việc dịch cho lãnh địa. Anh bảo với tôi: “Tớ ngán tiếng súng lắm rồi! Bây giờ, cứ nghe thấy tiếng súng là đầu óc tớ giật lên đùng đùng. Ngán lắm, ngán lắm rồi! Chỉ nhớ lại thôi mà tớ còn cảm thấy run người. Lại còn chuyện châm lửa vào kho thuốc súng đốt tàu nữa chứ. Đấy là một việc không hay ho gì. Khi thoát khỏi tàu, trong túi tớ còn những 25 Ryō và mang cả lên bờ. Thế và lại còn chuyện trong lúc tàu của người Anh đậu ở cảng Satsuma, có người kêu muốn ăn trái cây, nên người của lãnh địa đã phải dâng vào. Khi đó, tớ định cởi dây trói chạy trốn mà không được!". Ngoài những chuyện đó, anh còn kể rất nhiều chuyện khác nữa, nhưng tôi xin tạm dừng ở đây để chuyển sang chuyện về mỏ neo.

Vội vàng trả lại mỏ neo

Việc người Anh phải vội vàng cắt mỏ neo để chạy thoát là do chính mắt anh Shimizu Usaburō nhìn thấy, còn người của lãnh địa Satsuma thì không biết. Sau đó, khi gặp người của lãnh địa, anh đã nói lại với họ như vậy và bảo họ nên tìm cách trục vớt lên. Nói thế, nhưng có vẻ họ không lưu tâm về chuyện này. Mỏ neo đó được những ngư dân vớt lên. Và thế là nó nằm trong tay người Satsuma. Sau khi đã trao 25000 bảng tiền bồi thường và quan hệ trở nên hòa hiếu, người Anh khéo yêu cầu người Satsuma trả lại mỏ neo cho họ. Người Satsuma bảo đó là thứ rẻ tiền như sắt vụn nên trao trả mất.

Như tôi đã nói ở phần trước, trong cuộc giao chiến đó không phân người thắng kẻ bại. Không bên nào thắng cả. Phía Anh thì phải cắt mỏ neo, hai vị tướng cao cấp bị thiệt mạng và thủy quân không tiến được lên bờ, đành rút lui. Như thế cũng tạm gọi là kẻ bại trận được. Về bên Satsuma thì có làm náo loạn trên bờ và cũng rút lui, bỏ mặc, chứ không đuổi theo được con tàu đã bị kéo đi. Buổi sáng hôm sau, súng từ dưới hạm đội Anh bắn lên mà phía Satsuma cũng không bắn trả. Như thế có nghĩa Satsuma cũng là kẻ thua trận. Nói là thắng thì hai bên đều thắng, mà nói là thua thì hai bên đều thua. Cả hai bên đều có phần thắng và phần thua. Nhưng dù sao chiếc mỏ neo mà phía Satsuma vớt được cũng là chiến lợi phẩm đáng quý. Thế mà họ lại phải cúm rúm đem trả cho người Anh! Thật là một chuyện hết sức dại dột!

Qua đó, các bạn có thể phần nào mường tượng ra được tình trạng thiếu hiểu biết về luật quốc tế của người Nhật lúc đó. Vốn chỉ vì sự kiện xảy ra ở làng Namamugi làm một người Anh thiệt mạng mà chính phủ Anh yêu sách với chính phủ Nhật đến như vậy. Cuối cùng, đòi những 125.000 bảng! Chuyện đó có đúng luật hay không, còn phải xem xét lại.

Đó là câu chuyện của hơn 30 năm trước mà mãi cho đến tận bây giờ, người Nhật vẫn phải chịu sự bất bình đẳng. Khi người Satsuma lên xin trì hoãn chiến tranh, công sứ người Anh nửa như đe dọa nửa như không, đại khái là thái độ hết sức khó chịu. Nói thẳng ra là người Nhật đã phải ngậm đắng nuốt cay với thái độ thiếu lịch sự đó của ông công sứ và cho qua mọi chuyện. Như thời nay, chắc không thể có chuyện nực cười đến thế được. Khi đó, người Mỹ cho rằng, thực ra người Nhật không phải trả khoản bồi thường này. Nhưng vì bị công sứ Anh dọa nạt, lại thêm sự ra oai, hống hách của công sứ Pháp, làm phía Nhật cuống lên, không còn hiểu ra thế nào. Bây giờ, mọi chuyện cũng đã qua, không có lý do gì để bình luận thêm nữa.

Thầy Ogata lâm bệnh và sự thay đổi của Murata Zōroku

Ở Kyōto, ngày mùng 10 tháng 5 năm Bunkyū thứ ba (1863-ND) là thời hạn cuối cùng để bài trừ nước ngoài. Hôm đó, một con tàu của người Hà Lan qua cảng Shimonoseki liền bị súng bắn theo. Cũng may là họ chạy thoát nên không bị chìm. Sự kiện đó đã gây xôn xao và tình hình xã hội trở nên đáng sợ.

Cùng năm đó, ngày 10 tháng 6, thầy Ogata Kōan tuyệt mệnh. Trước đó, thầy lên Edo, ở khu Shita'ya (Hạ-Cốc). Có tin báo thầy đột ngột lâm bệnh, ho ra rất nhiều máu làm tôi bàng hoàng. Trước đó chừng hai, ba ngày tôi còn đến đó thăm thầy và xem xét tình hình, nhưng khi nghe tin bệnh nguy cấp thì tôi vơ vội những thứ vơ được và đi ngay tức khắc. Thời đó, không có xe người kéo nên từ Shinsenza đến Shita'ya tôi phải chạy bộ không nghỉ. Khi tìm được đến nơi, thầy đã không còn nữa. Không biết nên phải làm gì, hoàn toàn như trong mơ vậy.

Những người học trò ở gần đã đến từ trước, người ở xa dần dần cũng tụ họp rất đông. Có đến ba mươi hay năm mươi người tập trung lại mà không có việc gì làm. Đêm nay là đêm niệm, tất cả mọi người đều thức. Nhưng nhà chật, người lại đông, không có chỗ để ngồi, trời hôm đó lại nóng nực. Từ trong nhà ra ngoài hàng hiên xuống đến bếp, chỗ nào cũng đông kín người. Nửa đêm, tôi cúi lưng đi xuống dưới hiên bếp thì thấy cậu Murata Zōroku (sau đổi tên thành Ōmura Masujirō) ở gần chỗ mình. “À, Murata đấy à? Cậu từ Chōshū về bao giờ vậy?”. “Tôi mới về thôi!”. “Ở dưới Bakan người ta vừa gây ra một chuyện ầm ĩ. Thật đúng là những kẻ khùng! Tớ thấy thật chẳng ra làm sao cả!”. Nghe xong, Murata quay ra liếc xéo tôi:

- Cậu nói cái gì? Làm thế thì sao nào?

- Chẳng sao với trăng gì, nhưng việc bài xích người nước ngoài là hành động điên khùng!

- Điên khùng là thế nào? Cậu đừng có lắm chuyện! Chōshū đã có quy định đàng hoàng. Bọn chúng ngang ngược như thế hỏi có chịu được không? Còn bọn Hà Lan nữa. Nước nhỏ lại còn ra mặt hoành bạo. Đuổi đi là phải rồi, còn gì nữa! Từ quan đến dân của Bōshū và Chōshū có phải chết cũng không tha thứ! Dù thế nào cũng phải làm đến cùng!

Thái độ này của cậu Murata rất khác trước đây. Thật là điều không ngờ, lạ lùng và cũng thật khó hiểu. Tôi trả lời cậu Murata qua loa cho xong chuyện, rồi ra chỗ anh Mitsukuri và bảo với anh rằng: “Chết thật! Chết thật! Thái độ của cậu Murata khiến tôi ngạc nhiên quá đỗi". Trước đó, bạn bè có nghe nói cậu Murata đi Chōshū và ai cũng lo lắng. Đang trong lúc phong trào Nhưỡng di ở vào giai đoạn nước sôi lửa bỏng mà cậu Murata lại đi đến đó thì thật nguy hiểm cho tính mạng, cầu sao cho cậu ta không bị thương tích gì. Mỗi khi gặp nhau, mọi người đều lo lắng, nhưng khi nghe chuyện từ chính miệng cậu Murata nói ra, không biết phải hiểu thế nào. Có thể là cậu Murata đi Chōshū sợ quá, nên mới phải gắng mà đội mặt nạ Nhưỡng di, chứ thực tâm không hề có ý nghĩ ngu ngốc như thế.

Cuối cùng anh Mitsukuri bảo tôi: “Thế à? Tớ cũng chẳng hiểu ra làm sao cả, nhưng thôi, cậu đừng bao giờ nói chuyện với cậu ta nữa. Nói lỡ miệng, không biết sẽ thành chuyện gì đâu. Cậu đi tìm việc gì khác mà làm đi!”. Tôi với anh Mitsukuri nói với nhau như vậy và cũng bảo cả với những người khác rằng Murata rất kỳ, có nói chuyện thì phải cẩn thận giữ miệng vì không lường được cậu ta sẽ làm gì đâu.

Đó là chuyện thật mà đến bây giờ tôi vẫn chưa thể cắt nghĩa được. Không hiểu lúc đó để phòng thân mà cậu Murata phải khoác chiếc mặt nạ bài trừ người nước ngoài hay là ở Chōshū cậu ta nếm phải thuốc độc gì ngấm tận trong máu mà thành một người theo Phái Nhưỡng di thực thụ như vậy. Dù có thế nào thì trước hết là tôi, anh Mitsukuri và những người khác đều có một đêm bàng hoàng, nhưng cũng để mặc cho qua.

Sao chép tài liệu ngoại giao cơ mật

Năm Quý Hợi, tức năm Bunkyū thứ ba (1863-ND), là năm có nhiều biến động nhất. Ở Nhật, phong trào bài trừ nước ngoài lên cao, lại thêm sự kiện hạm đội Anh kéo đến đòi một khoản tiền bồi thường lớn và gây sức ép với chính phủ Nhật về việc một doanh nhân người Anh bị giết ở làng Namamugi.

Vấn đề nan giải trong quan hệ ngoại giao là điều đáng sợ và khủng khiếp. Khi ấy, tôi làm phiên dịch cho Bộ phận chuyên trách về ngoại giao của Mạc phủ, nên được biết và hiểu rất rõ về các văn bản trao đổi với nước ngoài. Nghĩa là các công hàm từ Anh, Pháp hay các nước khác gửi đến thì Mạc phủ sẽ phải phúc đáp. Sau khi nhận được thư phúc đáp, bên kia sẽ trả lời lại. Như thế là tôi không thể không biết các bí mật ngoại giao. Tôi có thể hiểu được điều đó.

Tất nhiên, những tài liệu cơ mật như vậy, không được đem về nhà mà phải đến công sở hoặc tư dinh của những quan chức phụ trách về ngoại giao. Vì vậy, trong lúc dịch, tôi cố gắng nhớ để về nhà tóm tắt lại. Ví dụ sự kiện xảy ra ở làng Namamugi, đại ý công hàm mà công sứ người Anh gửi đến là thế này và để trả lời lại, Mạc phủ viết thế kia. Tất cả đại ý của những văn bản trao đổi qua lại về ngoại giao sau khi dịch về, tôi đều ghi chép lại vào một loại giấy mỏng. Tất nhiên, những điều ấy không phải là thứ có thể dễ dàng đem ra cho người khác xem được, mà chỉ nói với những người bạn thật thân mới thú vị. Nhưng rất tiếc là có một hôm tôi đành phải tự tay đem đốt hết những ghi chép này.

Wakiya Usaburō tự mổ bụng

Về việc đốt cháy những ghi chép tài liệu ngoại giao cơ mật cũng có lý do riêng. Lúc đó đã xảy ra một chuyện khủng khiếp không tả được bằng lời. Có ông Kanagawa Bugyō Kumigashira (Thần-Nại-Xuyên phụng-hành-tổ-đầu), tương đương với chức phó tỉnh trưởng hiện nay, tên là Wakiya Usaburō, thuộc đẳng cấp khá cao trong xã hội. Ông này có người họ hàng ở Chōshū và thường liên lạc thư từ qua lại. Nhưng vô tình thư của ông lọt vào tay mật thám.

Đó chỉ là một lá thư hỏi thăm người thân bình thường, không có vấn đề gì. Trong thư có câu đại khái là: Năm nay thời khí không thuận hòa, lòng người bất an. Phải có một vị minh quân hiền tướng đứng ra mới được. Người của Mạc phủ đọc đoạn này lại luận ra rằng: Xã hội đang nhốn nháo và ông Wakiya muốn có một vị minh quân đứng ra gánh vác. Như thế nghĩa là ngầm ý lật đổ tướng quân hiện nay và thay vào đó là một vị minh quân khác. Đại thể ông Wakiya bị cho là kẻ phản nghịch và lập tức bị bắt nhốt trong thành của Mạc phủ.

Đúng hôm ông Wakiya bị bắt lại là ngày tôi đến Bộ phận chuyên trách về ngoại giao của Mạc phủ và nghĩ thế này là nguy to. Tôi không thấy người ta trói gô ông Wakiya mà chỉ thấy có mấy người lính giải đi qua hàng hiên. Khi biết tin ông Wakiya bị bắt tất cả mọi người đều sửng sốt. Đến như ông Kumigashira (tổ-đầu) của Kanagawa mà còn bị bắt, thì thật không hiểu ra chuyện gì nữa. Ít ngày sau tôi mới biết, ông bị bắt chỉ vì điều bị tình nghi đó.

Đồng thời với việc bắt ông Wakiya, người ta còn tiến hành khám cả tư dinh của ông và sau đó đưa thẳng đến nhà lao ở Demma-chō (Truyền-Mã-đinh). Sau hồi điều tra qua quýt, ông bị ép phải tự mổ bụng trong nhà ngục. Người được giao tiến hành giám sát vụ đó là anh Takamatsu Hikozaburō (Cao-Tùng Ngạn-Tam-Lang), vốn là Okobito Metsuke (ngự-tiểu-nhân mục-phó) và là người quen của tôi. Anh đến Demma-chō để giám sát và sau đó kể với tôi rằng, cảnh đó rất thương tâm.

Nợ Mạc phủ chiếc đầu

Tôi được nghe kể ông Wakiya đã bị giết và cũng rất sợ. Ông Wakiya chỉ vì nói chuyện đến minh quân thế này, thế kia mà đã bị tống vào nhà lao Demma-chō và phải tự xử. Thế mà thứ tôi ghi chép lại là một thứ quan trọng hơn, liên quan đến tài liệu ngoại giao cơ mật. Ngộ nhỡ người ta mà biết, chắc chắn sẽ bị tống vào nhà lao và cũng sẽ bị chém đầu. Khi đó, tôi đang sống ở khu Teppōzu, liền vội vàng đem đốt hết. Nhưng dù sao như thế vẫn chưa yên tâm, vì có lần tôi đã gửi cho người họ hàng bản sao. Sau đó, tôi còn cho một người ở lãnh địa Hosokawa (Tế-Xuyên) mượn bản sao và lo không biết họ có sao tiếp ra bản khác nữa không?

Bây giờ lật lại vấn đề mà viết thư đi hỏi lại thì chính lá thư đó sẽ gây phiền hà. Tôi đã đốt bản gốc đi. Nếu người ta không đưa bản sao ra thì được, chứ bản sao đó lộ diện thì sẽ gay go. Tôi nghĩ vậy và rất lo lắng. Nhưng cũng may là chưa có chuyện gì xảy ra thì chính quyền mới được thành lập và tôi rất an tâm. Bây giờ, tôi mới có thể nói ra điều đó để người thư ký viết lại giúp một cách dễ dàng, chứ cuối thời Mạc phủ, không thể có chuyện đó. Đó là cái họa do chính tôi tạo ra cho mình.

Từ năm Bunkyū thứ ba (1863-ND) đến năm Minh Trị thứ nhất (1868-ND), tức là trong khoảng 6 năm, tôi mang nợ chiếc đầu mình với chính phủ đương thời, nhưng không thể nói ra điều đó với người khác, không kể chuyện cho vợ, chỉ một mình tự giày vò. Tâm trạng quả thực rất nặng nề. So với ông Wakiya thì “người tám lạng, kẻ nửa cân”, nhưng kẻ làm lộ bí mật ngoại giao sẽ phải chịu tội nặng hơn.

Chính kẻ mang tội nặng hơn đó lại nhẹ nhàng thoát, mà người chỉ gửi thư bình thường cho người thân lại phải tự xử, há chẳng phải đáng thương, thê thảm hay sao? Hạnh phúc hay đau khổ của con người ở đâu không ai biết được. Đó có lẽ là bởi tại nhân duyên của mỗi người. Chỉ nói riêng chuyện này thôi thì việc thay đổi chính quyền đối với tôi là một điều đáng mừng. Nhưng chuyện đó xin tạm gác lại. Ngày hôm nay, nếu được đọc lại những ghi chép vắn tắt đó của tôi, các bạn cũng có thể hiểu được thực tế tình hình trong năm Bunkyū thứ ba. Nếu còn giữ được, những ghi chép đó sẽ trở thành tài liệu về lịch sử ngoại giao thú vị, nhưng tiếc rằng tôi đã đốt cháy đi để khỏi phải bị đổi lấy chiếc đầu mình. Nếu ai đó đã sao lại và còn giữ được, tôi cũng rất muốn được xem lại.

Phong trào Nhưỡng di ở Shimonoseki

Bên ngoài xã hội vẫn lan truyền thuyết Nhưỡng di. Ở Shimonoseki của Chōshū, người ta không chỉ bắn tàu của người Mỹ, mà sau đó còn nổ súng vào tàu của người Anh. Cuối cùng, chính phủ bốn nước gồm Anh, Pháp, Mỹ và Hà Lan gây sức ép với Mạc phủ, bắt phải nộp 3 triệu yên. Sau nhiều tranh cãi, cuối cùng Mạc phủ cũng phải trả số tiền bồi thường đó.

Nhưng trong nước, phong trào Nhưỡng di ngày càng không thể kìm lại được. Người ta không nói “tỏa quốc Nhưỡng di“ nữa, mà chuyển sang tên gọi mới là “tỏa cảng”. Vì thế, đã có một sự kiện ầm ĩ là Mạc phủ đã phải cử ông Ikeda Harima-no Kami (Trì-Điền Bá-Ma-thủ), người phụ trách những vấn đề về nước ngoài, làm sứ tiết sang Pháp để đàm phán về chuyện tỏa cảng này. Tất cả đều rối ren, các vụ ám sát xảy ra như cơm bữa, xã hội trở nên bất ổn. Thời thế như vậy, nên tôi chỉ còn biết cẩn trọng giữ mình, dù thế nào cũng chỉ cần thoát khỏi hiểm họa là may.

Kiếm thuật thịnh hành trở lại

Trước và sau năm Quý Hợi (1863-ND), dường như cả xã hội đều đua nhau phô trương vũ lực. Tình hình này cũng có nguyên nhân riêng của nó. Chính quyền Tokugawa là cơ quan đại diện về ngoại giao, đáng lẽ phải phát ngôn chủ trương mở nước, khai thông cảng biển và phải thực thi. Nhưng nếu nói về tình trạng của toàn thể Mạc thần, có thể nói đó như một sào huyệt của những người theo phái tỏa quốc. Quay ra bốn hướng, tám phương, thấy đây không phải là thời để các nhà Tây phương học lộ diện.

Những người hợp thời lúc đó là phải đeo hai thanh kiếm lớn và nhỏ. Và các nhà gươm thuật trong nội thành Edo được Mạc phủ Edo vời vào, tỏ ra uy thế và tạo nên một xã hội lan tràn trào lưu kiếm thuật. Cơn gió đó lan truyền ra tám hướng, làm cả những Bōzu (phường-chủ) cũng thay đổi thái độ.

Bōzu vốn là những người chỉ ở trong thành, chuyên hầu hạ cho các lãnh chúa, nói chung là người chuyên việc trà nước. Thường thường họ đeo một thanh gươm ngắn, mặc chiếc áo cánh nhận từ lãnh chúa và loẹt xoẹt đi lại. Nhưng khi xã hội trở nên coi trọng vũ lực thì những người này cũng đua đòi theo thói rất kỳ quặc là đeo gươm dài và lắc lắc đầu làm bộ. Còn áo cánh được thịnh hành thời đó trong tầng lớp các lãnh chúa thuộc hàng Hatamoto là áo Kibira (Hoàng-bình), có in hình hoa văn bằng sơn dầu. Đó là kiểu áo xưa kia Tướng quân Tokugawa Ieyasu đã mặc trong khi xung trận Sekigahara-gassen. Người ta đồn rằng, vị Rōkō của lãnh địa Mito đã mua chiếc áo này và sau đó đã trở thành một thứ mốt trong toàn thể giới võ sĩ.

Hơn thế, ở Edo, khi trang trí cho ngày lễ Tanabata (thất-tịch), người ta đính những mẩu giấy ghi lời nguyện ước vào một cành tre, sau đó xiên những xơ mướp, những miếng dưa hấu hay những cánh quạt để trang trí. Đó là phong tục của Edo. Nhưng vì là thời của phong trào Nhưỡng di, nhất nhất võ đạo, nên người ta chuyển sang treo những thanh đao lớn làm bằng xơ mướp hay những chiếc mũ giáp, toàn thể phong khí nhuốm hơi hướng võ sĩ ngày xưa. Tình hình như vậy, nên tôi không thể lại gần được.

Bán kiếm

Hồi đó, mặc dù tôi luôn cẩn trọng giữ mình, nhưng thiết nghĩ gươm đao chỉ là trò ngớ ngẩn, không cần thiết, nên quyết định bán đi. Nhà tôi không nhiều, nhưng cũng có khoảng năm, mười thanh gì đó. Tôi gọi người hàng gươm là ông Tanaka Jūbē (Điền-Trung Trọng-Binh-Vệ) ở Shinmeimae (Thần-Minh-Tiền) đến và bán luôn.

Nhưng vì thời đó vẫn phải đeo hai thanh kiếm, nên tôi giữ lại một thanh kiếm nhỏ mà trước đây cha tôi thường đeo khi người mặc lễ phục, sau đó đem đi gia công cho dài ra một chút cùng với thanh kiếm mua ở hàng kiếm Shinmeimae làm thanh nhỏ. Tôi đeo như vậy để làm vì, còn thì bán hết. Bây giờ, tôi vẫn nhớ tiền bán kiếm hai lần cả thảy được những 60 hay 70 Ryō gì đó.

Và tôi phải thu mình lại. Từ nhỏ cũng như đến khi học ở trường Ogata, tôi có biết thuật I'ai (cư-hợp) và khá thích, nhưng khi trong xã hội võ nghệ lan tràn, tôi lại giấu biệt đao kiếm vào trong góc nhà như thể người từ khi cha sinh mẹ đẻ chưa biết đến việc tháo kiếm ra hay chưa từng nghe đến thuật đấu kiếm bao giờ. Chỉ có điều là lúc nào tôi cũng chú ý và chú ý, không bao giờ đi ra khỏi nhà vào đêm khuya. Trong những năm niên hiệu Bunkyū đến năm Minh Trị thứ năm, thứ sáu, tôi không một lần ra khỏi nhà vào lúc đêm khuya. Công việc tôi làm trong thời gian ấy chỉ là dịch sách và sống qua những ngày đầy lo âu.

Tấm chữ "Độc lập tự tôn" do F. Yukichi viết. Nguồn: Phòng bảo tồn tư liệu quý, Trung tâm thư viện, Đại học Keiō-gijuku Daigaku cung cấp.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha