Thuế khóa

THUẾ KHOÁ

Thuê khóa vê các dân làng, xưa kia mỗi năm chia làm hai vụ nộp thuế, hoặc nộp tiền hoặc nộp thóc, hoặc nộp sản vật, kể tiếng không mây, nhưng cách thu bổ của dân chí lôi thôi, có làng thu lươm nhươm đến hai ba tháng không xong, mà lúc nộp cũng rầy rà khó chịu, nào lỗ cửa này, nào lạy cửa khác, có khi chò chực đến hàng tháng mới nộp được.

Từ khi nhà nước bảo hộ đôi cách cũ mà thi hành cách mới, trừ ra các thuế ngoại ngạch, còn ở dân làng chỉ phải nộp thuế đinh, thuế điền thô gọi là thuế chính ngạch.

Thuế đinh chia làm hai hạng:

1. Nội tịch đinh là những hạng đinh tráng từ 18 tuối trở lên cho đến 59 tuổi.

2. Ngoại tịch đinh là những kẻ nghèo khó, không có sản nghiệp ở trong làng.

Thuế điền chia làm ba hạng, thuế thổ chia làm bôn hạng, tùy theo chỗ ruộng tôt ruộng xâu và đất trồng hoa màu nhiều lợi ít lợi mà định.

Thuế khóa thì tùy theo mỗi năm chi tiêu mà tăng gia một chút, nhưng từ năm Thành Thái thứ chín đến nay thì nội tịch một năm phải nộp ba đồng, ngoại tịch phải năm cắc, thuế điền thì'đại để từ tám cắc cho đến một đồng rưỡi một mẫu, thuê" thổ thì đại để từ ba cắc cho đến hai đồng một mẫu.

Mỗi năm về độ tháng tư tháng nảm An Nam, nhà nưốc phát chỉ bài về cho các làng làm thuế, lý trưởng tiêp nhận được chỉ bài, trước hết phải trình với tiên thứ chỉ kỳ mục rồi định ngày vào quân bổ, phải cho mõ reo suốt dân làng được biết. Đên hôm bô thì đánh trông hội họp dân làng, nhiều nơi phải mô lợn làm rượu cho dân làng ra đông.

Hội họp đông đủ rồi thì lý trưởng đưa chỉ bài ra cho công dân xem xét, rồi hàng kỳ mục chiếu sổ đinh ra mà bổ.

Xã nào có thôn riêng, có lệ đồng cư biệt nạp, thì tính chia lấy một phần đem về đình riêng mà san bổ với nhau.

Kỳ mục chiếu sổ điền thổ của ai có bao nhiêu thì phải đóng chừng ấy, còn đinh thì trừ hêt các hạng được miễn trừ, rồi chiếu trong chỉ bài ra, cả thảy các thứ tiền thuế, tiền ngoại phí chia cho nội tịch và ngoại tịch, có làng chia bổ theo như cách thức của nhà nước đã định, có làng theo tục riêng của làng mà bổ, có làng đinh điền thổ hợp cả làm một mà quân san cho cả dân đinh.

Ngoài sô tiền thuế của nhà nước, nhiều nơi lại bô thêm ra một hai chục bạc để chi tiền phí tổn cho lý trưởng và để dự bị đóng đậy cho kẻ nào nhỡ ra không đóng được. Bổ xong giao cho một vài người kỳ mục hiệp trợ với lý trưởng mà thu. Lý trưỏng kỳ mục lại chia giao cho mỗi họ một người đôb thu. Nếu ai thiếu thì người đốc thu phải chịu trách nhiệm.

Dân làng dầu ai nghèo kiết thế nào mặc lòng, đến tiền thuế là phải lo đóng tươm tất. Nếu ai thiếu từ vài ba hào trở lên thì họ bắt đem ra điếm, cùm trói khô sở, cho tuần đinh vào nhà bắt đến cả đồ thờ, hoặc bắt đến giường đến ghế làm cho phải đủ tiền mới nghe.

Chánh phó tổng thường thường cũng phải đi xem xét và đốc thúc các lý dịch trong hàng tống. Làng nào khó khăn thì có khi quan phủ huyện sỏ tại phải phái người về làng ấy hiệp với lý dịch mà thu. Đến gần hạn đổ thuê thì lý dịch phải đem sô" bạc thu trình với quan trưóc rồi mói đem nộp tại tỉnh đường hoặc tại kho bạc, làng nào thiếu hoặc chậm trễ thì lý dịch làng ấy phải phạt.

Nộp thuế xong thì nhà nước phát cho mỗi người một cái giấy tùy thân. Nếu ai không có giấy hoặc cho nhau mượn thì phải cữu.

Việc thuế khóa là một việc rất hệ trọng trong cách cai trị của nhà nước. Mà nộp thuế thì là một nghĩa vụ của người ta. Vì người ta không có thê tự nhiên mà ngồi yên ăn ngon được, tất phải có quan cai trị, tất phải có quan binh và lính để xử đoán lẽ phải trái cho ta, để trông nom kẻ gian phi mà giữ cuộc yên ổn cho ta thì ta mới làm được công này việc khác, ta mới cày cấy được mà ăn, ta mới buôn bán được mà dùng huống chi nhà nước lại còn phải sửa sang những sự ích lợi, chỉnh đôn mọi việc cho được mở mang tấn hóa thì sự nộp thuế tưởng ai là người đã hiểu nghĩa vụ không nên còn oán hận gì nữa.

Duy còn hiềm vì trong thôn xóm và xã nhiều thói đường ngang ngoắt ngoéo, nhà nước cũng chưa có thể soi thấu mà chỉnh đôn lại cho hết mà những hạng có quyền thế trong làng thì phần nhiều chỉ cứ câu nệ lối cổ, đôi khi có người kiến thức muôn cải lương lại để cho hợp cách công bằng và tiện lợi cho đàn em thì họ không nghe. Cô" mà làm ra thì mất lòng bọn họ, mà cứ để vậy thì thói hủ bại chưa bao giờ bỏ được.

Đại đê như thuế đinh, nhà nước chia làm hai hạng nội tịch và ngoại tịch cho đỡ những người khổ sở nhưng về đến làng thì làng nào theo tục riêng làng ấy, có làng quân bổ, có làng san bổ, có làng chia làm hai ba hạng mà bổ, có làng thì bổ suôt từ đứa trẻ con mới vào làng trở lên. Song các cách ấy thì tùy tiện của làng người ta, cũng không hại gì, miễn là đủ đưbc thuế mà dân tình thỏa thuận cả là xong. Nhưng còn lắm cách trái với đạo công bằng mà nói ra không xiết, nói qua mấy điều như sau này:

Ví dụ như kỳ mục chiêu sổ đinh mà bổ thuế cho lý trưởng nhưng con cháu nhà mình, dẫu đến tuổi cũng ấn lậu đi không nói đến, dân làng thì kẻ vì nể, người sợ hãi, ai là kẻ dám hé răng, mỗi người kỳ mục lại ẩn lậu đi một người thành ra dân làng phải đóng nặng ấy là một điều tệ.

Kỳ mục mỗi khóa thuế làm thế nào cũng bô dư cho lý trưỏng một vài chục bạc đế làm tiền chi phí vê việc đi nộp thuế. Dân làng ai là chang bằng lòng, nhưng vì sô" dư ấy mà kỳ mục ai cũng muôn chấm mút, hoặc người thì phần thuế của mình không đóng mà có đóng cũng bớt lại được dăm ba hào, đồng bạc mới nghe, hoặc người lại kéo thêm tiền thuế một vài đồng, thành ra tiếng là để cho lý trưởng mà kỳ thực thì lý trưởng không được mấy, nhỡ ra có kẻ cùng đinh trôn tránh thì lý trưởng lại phải phụ thêm. Các làng khó khăn mỗi năm đến vụ thuế, lý trưởng làm thế nào cũng phải phụ thêm tiền nhà dăm ba chục. Cho nên lắm nơi lý trưởng phải mât cơ nghiệp vi thuê, mà thành ra ai cũng sợ không muôn ra làm việc nữa ấy là hai điều tộ.

Lúc bổ thì cứ chiếu sô đinh ra mà bổ, ai là dám rằng không đóng, song đến lúc thu, nào là những kẻ cùng khổ, dẫu dỡ cả nhà nó xuống cũng không đủ tiền thuê của mấy bô" con nó, nào là những anh ngang ngược, cứng đầu cứng cổ thu nó hãy chịu, khi nào có tiền nó đưa mà biêt bao giờ nó có tiền, bắt nó thì lý dịch bắt không nổi, thưa kiện nó thì lại sợ lôi thôi về sau, đó cũng thiệt hại đến lý trưởng, ấy là ba điều tệ.

Thuê điền nhà nước đã có phép nhất định, nhưng các hạng có thê lực thì ruộng hạng nhất cũng xuống hạng ba, người nào kém vai vê thì ruộng hạng ba cũng lên hạng nhâ"t. Mà nhất là những ruộng phụ canh, lý dịch thường lấy nặng gấp hai gấp ba lần, những người biết lý luật thì bọn họ còn e ít nhiều, còn người hiền lành thì họ bảo sao cũng phải chịu, ấy là bốn điều tệ.

Các làng chia nhau làm hai ba thôn, cứ lệ tiền cổ thì làm nơi đồng cư biệt nạp, nghĩa là ở lẫn với nhau, nhưng mà nộp thuê thì phận thôn nào thôn ấy nộp. Giá cứ nhân sô" các thôn đểu nhau thì dẫu biệt nạp cũng chẳng sao, nhưng mà khi trưốc đều nhau, mà nay thì có thôn thêm nhiều đinh, có thôn giảm bổt đinh, nêu cứ chiếu lệ thôn nào xưa nay phải chịu bao nhiêu, bây giờ lại phải chịu bấy nhiêu, thì nhiều nơi cùng trong một xã mà thôn này đóng nhẹ thôn kia đóng nặng hơn tất phải phân bì ta oán. Nếu hợp lại cả hàng xã mà đóng đều với nhau thì bên kia chẳng qua mỗi người thêm lên dăm xu một hào mà bên này mỗi người đỡ được dăm bảy hào bạc, chẳng lợi hại là bao nhiêu mà trong một xã đều được quân bình. Nhưng bọn kỳ mục bên đóng nhẹ mấy người chịu nghe, họ chỉ được lợi dăm ba xu, họ cũng cô" chết mà giữ, chớ họ có nghĩ gì đến chuyện công bình, ấy là năm điều tệ.

Nói rút lại thì các điều tệ tục, nhâ"t là hay ở bọn kỳ mục mà ra, mà lý trưởng thì thường phải chịu phần thiệt thòi. Song lý trưởng cũng không hại; ứng hiện ra lúc này rồi lấy lại lúc khác, chỉ dân đinh cùng khổ, nhà nước đã có gia ân cho đóng vào hạng ngoại tịch mà vẫn phải gánh chung vối hạng chính đinh và những người phu canh là thiệt thòi mà thôi.

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!