Thơ buông và thơ tự do

6. Thơ buông và thơ tự do

Xét về hình thức, thơ Việt chia làm 3 loại:

+ Thơ hoàn toàn của mình:

- Lục bát

- Song thất lục bát

- Và những biến thể của 2 thể ấy như Hát nói, Hát xẩm...

+ Thơ mượn của Trung Hoa:

- Thơ cổ phong: Tứ tuyệt, bát cú hoặc trường thiên.

- Thơ luật: Tứ tuyệt, bát cú.

+ Thơ mượn của Pháp:

- Thơ mới (thơ buông).

- Thơ tự do.

a) Thơ buông:

Hai loại trên, bạn nào cũng hiểu rõ; vả lại đã có nhiều sách vạch kỹ những qui tắc của nó như “Quốc văn cụ thể” của Bùi Kỷ, “Việt thi” của Trần Trọng Kim, “Thi pháp” của Diên Hương, “Để hiểu thơ Đường luật” của Hư Chu..., nên chúng tôi chỉ xét về loại cuối.

Thơ mới xuất hiện vào khoảng 1930 còn thơ tự do thì có từ ít năm nay. Chưa tác giả nào xét kỹ về hai thể ấy vì các thi nhân còn đương thí nghiệm nó.

Hai tiếng thơ mới vừa không đúng vừa mơ hồ: không đúng vì mười lăm năm trước, những bài của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... là mới chứ bây giờ là cũ rồi. Mơ hồ vì nó không chỉ rõ được cái thể của thơ ra sao.

Người ta thường dùng danh từ ấy để chỉ hết thảy những bài thơ của thi nhân lớp mới, trong đó có những bài chỉ nội dung là mới còn hình thức là cũ, như bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu. Từ số chữ của mỗi câu, đến cách gieo vần, âm điệu trong bài đó đều như in những bài tứ tuyệt thể luật.

Lại có những bài thơ mỗi câu 8 chữ như bài Nhớ Hà Nội của T. Tòng[1] mà nhiều thi nhân cho mà một biến thể của song thất lục bát. Thể 8 chữ ấy, ta không mượn của Pháp, nên trả nó về loại thứ nhất (thơ không hoàn toàn của mình).

Sau cùng, còn những bài mà số câu không nhất định, cách gieo vần thì tuy cứ tiếng cuối cùng của câu trên vần với tiếng cuối cùng của câu dưới, song thi nhân có thể gieo như trong thơ Pháp, nghĩa là gieo những vần liên tiếp, hoặc những vần chéo, vần gián cách...[2]

Thể này ta nên gọi là thể thơ buông và bỏ hẳn danh từ thơ mới đi.

Thi sĩ khi dùng thể thơ buông, không cần theo đúng bố cục trong thể thơ luật, cũng không cần theo luật bằng trắc, không cần ngắt ý ở cuối mỗi câu; cứ theo cảm hứng mà cho nhạc điệu phát ra hoặc dài hoặc ngắn, hoặc trầm hoặc bổng, lúc nhanh lúc chậm, miễn là phô diễn được tình cảm, ý nghĩ một cách thành thực và chân xác.

Kể ra thể buông ấy cũng không mới mẻ gì. Loại từ khúc, nhạc phủ của Trung Hoa, loại ca trù của ta đã dùng nó. Nội dung và hình thức tất nhiên có chỗ khác, nhưng chẳng qua chỉ là tiểu dị. Tuy nhiên những thi sĩ gần đây đã chịu ảnh hưởng của Pháp mà dùng thể ấy, đưa nó lên một địa vị quan trọng, nên tôi sắp vào loại thơ mượn của Pháp.

Bài MưaTiếng thu của Lưu Trọng Lư tôi đã trích trong cuốn Luyện văn là những bài thơ buông khá hay.

b) Thơ tự do

Trong thể tự do, không cần có vần. Tuy nhiên, thi sĩ không phải hoàn toàn là tự do, vẫn phải trọng luật của âm điệu. Hễ nói đến nghệ thuật, phải nghĩ đến qui tắc, đến sự câu thúc, vì “Nghệ thuật phát sinh là do sự câu thúc”. Đến văn xuôi cũng còn có qui tắc, huống hồ là thơ. Tôi tin rằng các nhà thơ tự do còn đương thí nghiệm, dò dẫm, tìm những qui tắc nhất định, và một ngày kia, những qui tắc đó đã kiếm ra rồi thì người ta sẽ phải theo nó như hồi trước và bây giờ người ta theo qui tắc của thể luật. Vì thơ tự do chưa có qui tắc nên làm được một bài thơ tự do là việc rất khó mà hiểu được nó cũng không dễ gì. Người làm phải có tài, có sáng kiến mới thành công; người đọc phải biết thẩm âm mới lãnh hội được cái hay.

Tôi xin trích dẫn dưới đây ít bài thơ tự do được nhiều người khen là khá để bạn thấy nó cũng có nhiều đặc sắc: ý thơ linh hoạt, dồi dào, nhạc điệu mới mẻ, hợp với tình cảm. Nhưng đọc lên cho một người dân quê nghe thì chắc không sao họ nhận được giá trị của nó, họ rất thích điệu lục bát, song thất lục bát hơn.

Sắt đá tình không núng

Những người dựng ngày mai

Hẹn về giữa độ Hoàng hoa

....(kiểm duyệt)...

Lệ rưng ướt mấy đầu xanh

....(kiểm duyệt)...

Con về đây

Thân bé bỏng

Lòng hiên ngang

(Hoàng Tuấn)

Bến đò Sài Gòn

...(kiểm duyệt)...

Anh Hai mấy bữa qua còn đùa cợt đâu đây

Nay đà vắng mặt.

Chị hàng thoáng buồn,

Thầy tướng ngẩn ngơ

Vài tiếng sì sào ướt vì nước mắt,

Rồi nhìn trước nhìn sau,

Im bặt.

(Ninh Huấn)

Tôi không bảo rằng thơ tự do không hợp với Việt Nam, hoặc không bao giờ được hạng bình dân thưởng thức. Nó còn mới mẻ quá, phải để các thi nhân thí nghiệm lâu rồi mới quyết đoán được. Nhưng tôi nghĩ chỉ khi nào tìm được qui tắc cho nó rồi thì mới nói được là thành công vì chỉ tới lúc đó nó mới phổ thông trong quần chúng.

Chú thích

  1. Coi tuần báo “Mới” số 57.
  2. Tôi không xét thể thơ mỗi câu 12 cước vận mà Nguyễn Vỹ đã thử dùng và gọi là thơ Bạch Nga vì thể ấy không hợp với tính cách của Việt Ngữ và thí nghiệm của ông đã thất bại.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tự học - Một nhu cầu của thời đại
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nguồn: Bản scan do Townguyen cung cấp (e-thuvien.com)
  • Đánh máy: Trieuthoa
  • Tạo eBook lần đầu và tạo lại: Goldfish (10-06-2013)