Thói quen xét như là biểu hiện của tăng trưởng

2. Thói quen xét như là biểu hiện của tăng trưởng

Như đã lưu ý ở trên, tính dễ thay đổi là khả năng giữ lại và tiếp tục duy trì những nhân tố kinh nghiệm trước đó để có thể biến đổi các hoạt động đến sau. Nghĩa là, đó là khả năng tập nhiễm những thói quen, hay nói cách khác đó là khả năng phát triển những khuynh hướng rõ ràng. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét tới những đặc tính nổi bật của thói quen. Thứ nhất, thói quen tức là một hình thái của năng lực thực thi, một hình thái của hiệu quả trong hành động. Thói quen nghĩa là một khả năng sử dụng các điều kiện tự nhiên để làm phương tiện thực hiện mục đích. Đó là một sự chủ động kiểm soát môi trường dựa vào việc kiểm soát các phương tiện của hành động. Có lẽ chúng ta có khuynh hướng đề cao sự kiểm soát về thể xác mà bỏ qua sự kiểm soát về môi trường. Chúng ta quan niệm việc đi đứng, nói năng, chơi đàn dương cầm, những kỹ năng chuyên môn đặc trưng của người thợ khắc axít, của bác sĩ phẫu thuật, người xây dựng cầu, như thể chúng đơn giản là sự thoải mái thuần thục, sự khéo léo và chính xác của thể xác. Dĩ nhiên chúng đúng là như vậy; song, giá trị của các năng lực đó phải được đánh giá việc họ kiểm soát môi trường một cách tiết kiệm và hiệu quả. Để có thể bước đi được, chúng ta phải có sẵn [để sử dụng] những thuộc tính nhất định nào đó của bản tính tự nhiên - và cả đặc tính nhất định của mọi thói quen khác nữa.

Giáo dục không hiếm khi được định nghĩa là sự tập nhiễm các thói quen gây tác động tới sự điều chỉnh của một cá nhân và môi trường của anh ta. Định nghĩa này diễn đạt một khâu quan trọng của quá trình tăng trưởng. Song, điều quan trọng là phải hiểu sự điều chỉnh theo nghĩa tích cực như sau: điều chỉnh là sự kiểm soát các phương tiện để đạt được những mục đích. Nếu chúng ta quan niệm thói quen chỉ là một sự thay đổi được tạo ra bên trong thể xác đồng thời quên rằng sự thay đổi đó cốt ở năng lực tác động tới những thay đổi xảy ra sau đó trong môi trường, thì chúng ta sẽ đi đến chỗ quan niệm rằng “điều chỉnh” là một sự tuân phục môi trường giống như sắp bị thay đổi theo con dấu khi bị nó đóng lên. Môi trường bị coi là cái bất biến và bằng tính chất bất biến ấy môi trường quy định mục đích và chuẩn mực cho những thay đổi xảy ra trong thể xác; [khi đó] điều chỉnh chỉ là việc chúng ta tự mình làm cho thích hợp với tính bất biến nói trên của những điều kiện bên ngoài.[1] Thói quen xét như là tập quán quả thực là điều gì đó thụ động một cách tương đối chúng ta trở nên quen với môi trường xung quanh - với cách ăn mặc của chúng ta, đôi giày và đôi găng tay của chúng ta; với bầu khí quyển chừng nào nó thực sự giữ nguyên không thay đổi; với các cộng sự hằng ngày của chúng ta v.v... Nhưng thói quen [được hình thành như thế] có một đặc điểm rõ rệt như sau: sự tuân phục môi trường, một sự thay đổi được tạo ra trong thể xác song nó không liên quan gì tới năng lực làm biến đổi môi trường vật chất. Ngoài việc chúng ta không thể đem các đặc tính của những điều chỉnh như vậy [điều chỉnh trước sự thay đổi của môi trường] (hoàn toàn có thể gọi đó là thích nghi, để phân biệt với những điều chỉnh mang tính chủ động) vào bên trong các thói quen chủ động sử dụng môi trường xung quanh, có hai đặc điểm của thói quen đáng để lưu ý. Thứ nhất, chúng ta quen với sự vật trước hết nhờ vào việc sử dụng chúng.

Hãy xem xét điều xảy ra khi một người làm quen với một thành phố xa lạ. Thoạt đầu có sự kích thích thái quá và sự phản ứng thái quá và không phù hợp. Dần dần, có những kích thích nào đó được chọn lọc bởi chúng phù hợp, và những kích thích khác bị yếu đần đi. Có thể nói chúng ta không còn phản ứng lại các kích thích đó nữa, hay nói đúng hơn, chúng ta đã tạo ra một phản ứng bền bỉ trước những kích thích ấy - một trạng thái cân bằng của điều chỉnh. Nghĩa là, thứ hai, sự điều chỉnh bền bỉ đó cung cấp cái nền để cho người ấy thực hiện những điều chỉnh cụ thể khi cơ hội nảy sinh. Chúng ta không bao giờ quan tâm tới việc thay đổi toàn bộ môi trường; chúng ta coi phần lớn mọi sự đều là đương nhiên và chấp nhận như chúng có sẵn. Khi muốn đưa ra những thay đổi cần thiết, hoạt động của chúng ta tập trung vào những chi tiết nào đó, dựa vào cái nền nói trên. Như vậy, thói quen [thích nghi bị động] là sự điều chỉnh của chúng ta trước một môi trường song vào thời điểm đó chúng ta không quan tâm tới việc biến đổi môi trường, và sự điều chỉnh ấy có tác dụng như đòn bẩy cho những thói quen mang tính chủ động.

Thích nghi, nói một cách chính xác, có sự giống nhau hoàn toàn giữa sự thích nghi của môi trường với các hoạt động của chúng ta và sự thích nghi của các hoạt động của chúng ta với môi trường. Một bộ lạc dã man có thể sống được trên một đồng bằng - sa mạc. Nó tự thích nghi. Nhưng sự thích nghi ấy đòi hỏi một sự chấp nhận, tha thứ, chịu đựng tối đa sự vật như chúng đang tồn tại, một sự phục tùng thụ động tối đa và một sự chủ động kiểm soát tối thiểu, một sự nhượng bộ mục đích tối thiểu. Một dân tộc văn minh [thì] tham gia vào hoàn cảnh. Họ cũng tự thích nghi. Họ xây dựng hệ thống tưới tiêu; họ tìm kiếm trên Trái đất những cây cối và động vật nào có thể phát triển khỏe mạnh trong những điều kiện như thế [sa mạc]; bằng việc chọn lọc cẩn thận, họ cải tạo những loài cây đang sống tại đó. Kết quả, loài cây hoang dại đã trổ hoa như một loài hoa hồng. Người dã man đơn thuần bị nhiễm phải các thói quen; người văn minh [thì] có những thói quen làm biến đổi môi trường.

Tuy nhiên, tầm quan trọng của thói quen không dừng lại ở giai đoạn thực hiện và vận động [của cơ bắp]. Nó [còn có nghĩa] sự hình thành xu hướng trí tuệ và tình cảm cũng như sự thoải mái, tiết kiệm và hiệu quả của hành động. Mọi thói quen đều biểu lộ một ý thích - tức một sự chủ động ưu tiên và lựa chọn những điều kiện liên quan đến việc thực hiện ý thích ấy. Không bao giờ một thói quen lại chờ đợi, giống như phương châm của Micawber[2], một kích thích xuất hiện để cho nó được đem ra sử dụng; nó chủ động tìm kiếm cơ hội để chuyển sang giai đoạn vận hành đầy đủ. Nếu sự bộc lộ của nó bị cản trở một cách không chính đáng, ý thích biến thành trạng thái khó chịu và thèm khát dữ dội. [Ngoài ý thích], thói quen còn biểu lộ một xu hướng trí tuệ. Hễ khi nào có một thói quen, khi ấy có sự hiểu biết về chất liệu và thiết bị được sử dụng cho hành động. Khi ấy có một cách hiểu rõ ràng về những tình huống trong đó thói quen vận hành. Các lối suy nghĩ, quan sát và suy tưởng đi vào thói quen xét như những dạng năng lực và mơ ước để chúng ta phân biệt người này là một kỹ sư, người kia là một kiến trúc sư, bác sĩ hoặc nhà buôn. Ở các hình thức lao động thô sơ, các nhân tố trí tuệ tồn tại ở mức ít nhất chính bởi vì các hình thức lao động ấy không đòi hỏi những thói quen ở trình độ cao. Nhưng có những thói quen phán đoán và suy luận cũng đích thực là thói quen không khác gì thói quen sử dụng một công cụ, vẽ một bức tranh hoặc giả thực hiện một thí nghiệm.

Tuy nhiên, những phát biểu như vậy là chưa đầy đủ so với sự thật. Nhờ có thói quen của trí óc tham gia vào thói quen của con mắt và bàn tay, nên thói quen của con mắt và bàn tay mới có ý nghĩa. Quan trọng hơn cả, yếu tố trí tuệ trong một thói quen giúp cho thói quen ấy có mối quan hệ ổn định với mục đích sử dụng khác nhau và linh hoạt, và do đó với cả sự tăng trưởng liên tục. Chúng ta đang nói tới những thói quen bất biến. Vâng, câu nói này có thể nghĩa là các năng lực đã được thiết lập quá vững chắc đến nỗi người sở hữu luôn có chúng như là nguồn lực khi cần. Song, câu nói này còn hàm ý những đường mòn, những cách làm đơn điệu ở đó sự tươi mới, sự cởi mở và độc đáo đã bị đánh mất. Tính bất biến của thói quen còn có thể nghĩa là cái gì đó gây ảnh hưởng cố định đối với chúng ta thay vì chúng ta chủ động gây ảnh hưởng đối với sự vật. Sự kiện này cắt nghĩa hai điểm trong một quan niệm phổ biến về thói quen: [điểm thứ nhất], thói quen được đồng nhất với các phương thức cơ giới và mang tính bề ngoài của hành động, đến nỗi người ta không chú ý đến những thói quen trí tuệ và đạo đức; [điểm thứ hai], người ta có khuynh hướng trao cho thói quen một nghĩa xấu, đồng nhất chúng với “những thói xấu”. Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi năng lực của anh ta trong nghề nghiệp do anh ta chọn lại bị gọi là một thói quen, và anh ta đương nhiên coi việc anh ta hút thuốc lá, uống rượu hoặc nói tục là thói quen theo nghĩa điển hình của từ đó. Đối với anh ta, thói quen là cái gì đó gây ảnh hưởng tới anh ta, cái gì đó không dễ vứt bỏ ngay cả khi lương tri lên án nó.

Các thói quen tự biến đổi thành những cách hành động đơn điệu, hoặc chúng thoái hóa thành những cách hành động mà chúng ta bị nô lệ vào chỉ trong chừng mực mà trí tuệ bị tách rời khỏi các thói quen đó. Những thói quen đơn điệu là những thói quen thiếu suy nghĩ: những thói quen “xấu” là những thói quen bị cắt đứt khỏi lý trí đến nỗi chúng chống lại những kết luận đến từ sự cân nhắc và quyết định có tính hữu thức. Như chúng ta đã thấy, sự hình thành thói quen xảy ra nhờ tính dễ thay đổi trong bản tính tự nhiên của con người: nhờ việc chúng ta có khả năng thay đổi sự phản ứng cho tới khi tìm ra cách hành động phù hợp và hiệu quả. Những thói quen bất biến và những thói quen chiếm hữu chúng ta thay vì chúng ta chiếm hữu chúng, là những thói quen kết liễu tính dễ thay đổi. Chúng được phân biệt ở sự chấm dứt khả năng thay đổi. Không thể phủ nhận rằng tính dễ thay đổi của cơ thể sống, của nền tảng sinh lý học, có khuynh hướng giảm đi theo năm tháng trưởng thành. Hành động dễ biến đổi theo bản năng và tính dễ di chuyển sự háo hức của tuổi ấu thơ, sự ưa thích những kích thích mới mẻ và những sự phát triển mới, đã quá dễ dàng chuyển thành một “trạng thái nguội dần”- tức thái độ không thích thay đổi và dựa dẫm vào những thành tựu của quá khứ. Chỉ có môi trường nào đảm bảo được việc sử dụng trọn vẹn trí tuệ trong quá trình hình thành các thói quen, môi trường ấy mới có thể ngăn chặn được khuynh hướng nói trên. Dĩ nhiên chính trạng thái xơ cứng của thể xác [theo năm tháng] nói trên gây tác động tới các cấu trúc sinh lý tham gia vào quá trình tư duy. Song, sự kiện này lại càng cho thấy sự cần thiết phải có mối quan tâm bền bỉ để sao cho chức năng của trí tuệ được sử dụng tối đa. Cái phương pháp thiển cận phải cầu viện đến sự khuôn sáo và sự bắt chước một cách cơ giới để tạo ra hiệu quả bề ngoài của thói quen, để tạo ra năng lực vận động cơ bắp không đi kèm tư duy thì bao giờ cũng cố tình thu hẹp ảnh hưởng của môi trường tới sự tăng trưởng.

Chú thích

  1. Dĩ nhiên quan niệm này là một hệ đề hợp logic của những quan niệm về mối quan hệ bề ngoài giữa kích thích và phản ứng, được xem xét tại chương trước (Chương II), và được rút ra từ những quan niệm coi tình trạng non nớt là sự phủ nhận của tình trạng trưởng thành và tính dễ thay đổi được trình bày tại chương này. [J.D]
  2. Micawber: tên một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết David Copperfield của nhà văn Anh nổi tiếng Charles Dickens. Tên của nhân vật này đồng nghĩa với kiểu người sống bằng sự kỳ vọng vào những điều sẽ xảy ra.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org