Tự nhiên xét như là sự cung cấp các mục tiêu

1. Tự nhiên xét như là sự cung cấp các mục tiêu

Chúng ta vừa chỉ ra sự vô ích của việc đặt ra mục tiêu duy nhất của giáo dục - một mục tiêu cuối cùng nào đó mà mọi mục tiêu khác đều phải lệ thuộc vào. Chúng ta đã chỉ ra rằng bởi vì các mục tiêu tổng quát đơn thuần chỉ là những điểm nhìn có tính tương lai để từ đó khảo sát các điều kiện hiện tại và đánh giá các khả năng có thể xảy ra, cho nên chúng ta có thể có bao nhiêu điểm nhìn như thế cũng được, tất cả đều nhất quán với nhau. Trên thực tế, một người bao giờ cũng có nhiều điểm nhìn được phát biểu tại những thời điểm khác nhau, tất cả đều mang giá trị cục bộ lớn. Bởi phát biểu về mục tiêu tức là vấn đề của sự nhấn mạnh tại một thời điểm cụ thể. Và chúng ta không bao giờ nhấn mạnh những điều không cần thiết phải nhấn mạnh - nghĩa là, những điều xét như chúng đang tự lo liệu một cách khá tốt. Đúng hơn, chúng ta có xu hướng trình bày những phát biểu trên cơ sở các khiếm khuyết và nhu cầu của tình huống đang xảy ra; chúng ta coi là điều hiển nhiên, mà không cần có phát biểu rõ ràng bởi điều đó sẽ chẳng có ích gì, bất cứ điều là đúng hoặc có thể coi là đúng. Chúng ta điều chỉnh các mục tiêu rõ ràng tùy theo sự thay đổi nào đó xảy ra. Vậy thì, không phải là ngược đời khi cần phải giải thích rằng một thời đại hoặc một thế hệ nào đó bao giờ cũng có xu hướng đề cao trong những dự phóng hữu thức của nó những điều mà nó thực ra có ít nhất. Một thời đại của sự thống trị bởi uy quyền sẽ gợi ra, xét như là sự phản ứng, nỗi khát khao tự do cá nhân cao cả; một giai đoạn của những hoạt động cá nhân vô tổ chức sẽ gợi ra nhu cầu của sự kiểm soát xã hội xét như một mục tiêu của giáo dục.

Như vậy, hành động trên thực tế và hành động tiềm ẩn, mục tiêu hữu thức hoặc mục tiêu được phát biểu ra, bao giờ cũng cân bằng lẫn nhau. Vào những thời gian khác nhau lại có những mục tiêu phù hợp riêng, chẳng hạn như: cách sinh kế trọn vẹn, các phương pháp học cách diễn đạt ngôn ngữ tinh tế hơn, thay thế sự vật bằng ngôn từ, hiệu quả xã hội, văn hóa cá nhân, sự phục vụ xã hội, sự phát triển trọn vẹn của nhân cách, tri thức bách khoa, kỷ luật, tư duy thẩm mỹ, tính thực dụng v.v.. Sau đây chúng ta sẽ chọn ra ba phát biểu có ảnh hưởng gần nhất để bàn luận; một số phát biểu khác đã tình cờ được bàn tới tại các chương trước, và các phát biểu khác nữa sẽ được xem xét tới trong một phần bàn về nhận thức và giá trị của các môn học. Để bắt đầu, chúng ta chọn phát biểu của Rousseau cho rằng giáo dục là một tiến trình phát triển phù hợp với tự nhiên, phát biểu đó đã đối lập tự nhiên với xã hội (xem Chương VII, phần 4); sau đó, chúng ta bàn tới quan niệm có tính phản đề về hiệu quả xã hội, nó thường coi xã hội là đối lập lại với tự nhiên.

(1) Bởi không thể chịu nổi tính quy ước và giả tạo của các phương pháp kinh viện, các nhà cải cách giáo dục có xu hướng cầu viện đến tự nhiên xét như một tiêu chuẩn để đánh giá. Tự nhiên được cho là cung cấp quy luật và mục đích của phát triển; sự phát triển của chúng ta chẳng qua chỉ là làm theo và tuân theo những phương pháp của tự nhiên. Giá trị thực sự của quan niệm trên nằm ở cách lưu ý đầy thuyết phục tới sai lầm của những mục tiêu coi nhẹ năng khiếu bẩm sinh của người học. Nhược điểm của quan niệm đó là sự dễ dàng lẫn lộn cái vật chất cụ thể với cái tự nhiên hiểu theo nghĩa cái bình thường. Do đó người ta đã coi nhẹ việc mặc nhiên sử dụng trí thông minh trong dự liệu, và dự tính; chúng ta chỉ đơn thuần đứng dẹp sang một bên và để cho tự nhiên làm công việc của nó. Bởi trong học thuyết nói trên không ai phát biểu hay hơn Rousseau trên cả phương diện đúng lẫn sai, cho nên chúng ta sẽ chọn ông.

Rousseau nói, “Chúng ta nhận được sự giáo dục từ ba nguồn - Tự nhiên, con người và sự vật. Sự phát triển tự phát của các cơ quan thể xác và các năng khiếu của con người, làm thành giáo dục của Tự nhiên. Mục đích sử dụng sự phát triển đó mà chúng ta được dạy, làm thành giáo dục của Con người. Sự hình thành kinh nghiệm cá nhân nhờ những đồ vật xung quanh, làm thành giáo dục của sự vật. Chỉ khi nào ba loại giáo dục trên hòa hợp với nhau và đi tới cùng một mục đích, khi ấy con người mới hướng tới cái đích thực sự của mình... Nếu chúng ta được hỏi rằng cái mục đích ấy là gì, câu trả lời là, đó là mục đích của Tự nhiên. Bởi vì việc xảy ra đồng thời cả ba loại giáo dục nói trên là có tính tất yếu để đem lại tính chất trọn vẹn của chúng, cho nên loại giáo dục nào hoàn toàn không phụ thuộc vào sự kiểm soát của chúng ta thì nó tất yếu phải điều khiển chúng ta trong việc xác định hai loại giáo dục kia”. Sau đó ông định nghĩa Tự nhiên là những năng khiếu và khuynh hướng có sẵn từ khi chúng ta được sinh ra, “xét như chúng tồn tại trước khi có sự thay đổi do chúng ta có thêm các thói quen chế ngự các năng khiếu và khuynh hướng đó và trước khi chúng ta chịu sự ảnh hưởng từ ý kiến của người khác”.

Cách diễn đạt của Rousseau đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng. Khi ông đề cập giáo dục, phát biểu của ông vừa chứa đựng những chân lý căn bản lại vừa có một sự bóp méo đến kỳ cục. Không thể tìm ra chỗ thiếu sót nào ở trong những câu đầu tiên. Ba nhân tố của sự phát triển mang tính giáo dục là (a) cơ cấu bẩm sinh của các cơ quan thể xác và các hoạt động chức năng của chúng; (b) các hoạt động ấy được thực hiện nhằm mục đích gì khi một người chịu sự ảnh hưởng của những người khác; (c) mối quan hệ tương giao trực tiếp giữa các hoạt động ấy và môi trường. Phát biểu trên đã hoàn toàn đề cập được cái nền tảng. Hai ý kiến khác nữa của ông cũng có cơ sở đúng đắn, cụ thể là, (a) chỉ khi nào ba nhân tố nói trên của giáo dục hòa hợp và hợp tác với nhau, khi ấy mới xảy ra sự phát triển đầy đủ của cá nhân, và (b) các hoạt động bẩm sinh của các cơ quan thể xác, bởi chúng mang tính nguồn gốc, cho nên chúng có vai trò cơ bản trong việc hình thành nên sự hòa hợp nói trên.

Song, chỉ cần một chút đọc giữa hai hàng chữ, kết hợp với những phát biểu khác nữa của Rousseau, chúng ta có thể nhận thấy thay vì coi ba điều nói trên là những nhân tố bắt buộc phải phối hợp cùng nhau ở mức độ nào đó để cho bất kỳ một nhân tố nào trong đó cũng đều có thể tiếp tục duy trì tính chất giáo dục, thì Rousseau lại coi chúng là những hoạt động tách rời và độc lập với nhau. Nhất là ông lại tin rằng có tồn tại một sự phát triển độc lập, “tự phát”, như theo lời của ông, của các cơ quan thể xác và năng khiếu bẩm sinh. Ông cho rằng sự phát triển đó có thể tiếp diễn bất chấp mục đích sử dụng của chúng. Và sự giáo dục của mối tiếp xúc xã hội phải lệ thuộc vào chính sự phát triển tách rời đó. Vậy thì, có sự khác biệt vô cùng lớn giữa sử dụng các hoạt động bẩm sinh đúng như bản thân chúng - để phân biệt với việc ép buộc và làm biến đổi chúng - và việc cho rằng chúng có một sự phát triển bình thường độc lập với mọi mục đích, và sự phát triển này cung cấp tiêu chuẩn và quy tắc đánh giá của mọi quá trình học tập dựa vào thực hành. Trở lại ví dụ minh họa ở phần trước, quá trình học nói là một mô hình gần như hoàn hảo của sự tăng trưởng có tính giáo dục đích thực. Khởi đầu là các hoạt động bẩm sinh của bộ máy phát âm, của các cơ quan thính giác v.v... Nhưng thật vô lý khi cho rằng các hoạt động ấy là sự tự tăng trưởng độc lập mà nếu bị bỏ mặc thì sự phát triển đó vẫn sẽ biến thành khả năng ngôn ngữ hoàn hảo. Hiểu theo nghĩa đen, nguyên lý của Rousseau sẽ có nghĩa là, người lớn nên chấp nhận và lặp lại những tiếng bi bô và âm thanh phát ra của trẻ em không chỉ đơn thuần như là những khởi đầu của sự phát triển tiếng nói có cấu âm - trong khi đúng ra là như vậy - mà như là sự cung cấp chính bản thân ngôn ngữ - tức tiêu chuẩn đánh giá của mọi việc dạy ngôn ngữ.

Có thể tóm tắt ý kiến của Rousseau bằng việc nói rằng ông đã đúng khi đưa ra một sự cải cách vô cùng cần thiết trong lĩnh vực giáo dục, khi ông tin rằng cấu trúc và hoạt động của các cơ quan thể xác cung cấp các điều kiện của toàn bộ việc dạy cách sử dụng các cơ quan đó; song, [ông đã] hết sức sai lầm khi gián tiếp nói rằng chúng không chỉ cung cấp các điều kiện, mà còn cung cấp cả các mục đích cho sự phát triển của chúng nữa. Trên thực tế, các hoạt động bẩm sinh bao giờ cũng phát triển nếu chúng được sử dụng có mục đích, tương phản với sử dụng tùy tiện và tùy hứng. Và trách nhiệm của môi trường xã hội, như chúng ta đã xem xét, là điều khiển sự tăng trưởng dựa vào sự lợi dụng triệt để các năng khiếu bẩm sinh. Có thể coi hoạt động bản năng là mang tính tự phát, hiểu theo nghĩa ẩn dụ, hiểu theo nghĩa rằng các cơ quan thể xác có khuynh hướng thiên về một loại hoạt động nào đó - xu hướng ấy mạnh đến nỗi chúng ta không thể làm trái lại, cho dù để cố gắng làm trái lại, chúng ta có thể làm cho chúng biến đổi, cằn cỗi, và xấu đi. Nhưng coi các hoạt động nói trên là sự phát triển bình thường và tự phát thì là điều hoàn toàn hoang đường. Dù là tại kiểu giáo dục nào đi nữa thì các năng khiếu tự nhiên hoặc bẩm sinh chỉ cung cấp những ảnh hưởng ban đầu và có tính giới hạn; chúng không cung cấp các mục đích hoặc mục tiêu. Việc học tập không thể xảy ra bên ngoài các năng khiếu bẩm sinh ngu muội, nhưng học tập không có nghĩa là các năng khiếu bẩm sinh dốt nát tự động bộc lộ ra ngoài. Rõ ràng, quan điểm mâu thuẫn của Rousseau có nguyên nhân từ việc ông đã đồng nhất Thượng đế với Tự nhiên; đối với ông, các năng khiếu bẩm sinh là hoàn toàn tốt đẹp, chúng bắt nguồn trực tiếp từ một Đấng Sáng tạo sáng suốt và nhân từ. Để nhắc lại câu châm ngôn về người nông thôn và người thành thị theo cách khác: Thượng đế đã làm ra các cơ quan thể xác và năng khiếu bẩm sinh của con người, con người làm ra các mục đích sử dụng cho các cơ quan và năng khiếu ấy [tức ẩn dụ về Tự nhiên và xã hội]. Do đó, sự phát triển của cái thứ nhất cung cấp tiêu chuẩn đánh giá mà cái thứ hai phải phụ thuộc vào. Khi con người có ý định kiểm soát mục đích sử dụng của các hoạt động bẩm sinh, họ can thiệp vào một kế hoạch siêu phàm. Các hình thức tổ chức xã hội đã can thiệp vào Tự nhiên, can thiệp vào công trình của Thượng đế, đó chính là nguồn gốc đầu tiên của sự đồi bại cá nhân. Sự khẳng định mãnh liệt của Rousseau về tính thiện có sẵn trong mọi xu hướng tự nhiên, là một phản ứng chống lại quan điểm thịnh hành về sự đồi bại tuyệt đối của bản tính bẩm sinh của con người, và sự khẳng định của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thay đổi thái độ đối với những hứng thú của trẻ em. Nhưng hầu như chẳng cần thiết phải nói rằng các động năng bẩm sinh tự chúng là không tốt cũng chẳng xấu, mà chúng trở nên như thế nào là tùy vào mục đích sử dụng của chúng. Không ai có thể nghi ngờ điều cho rằng sự coi nhẹ, đàn áp, và cưỡng ép một số những bản năng này trong khi hi sinh các bản năng khác là nguyên nhân của nhiều điều hại lẽ ra có thể tránh khỏi. Song, bài học rút ra là, không được bỏ mặc các bản năng, không được để chúng phát triển “tự phát”, mà phải cung cấp một môi trường để tổ chức chúng.

Quay trở lại những yếu tố đúng đắn trong các phát biểu của Rousseau, chúng ta thấy rằng, sự phát triển tự nhiên, xét như một mục tiêu, đã cho phép ông nêu bật những biện pháp sửa chữa rất nhiều điều tai hại trong thực tiễn giáo dục hiện hành, và chỉ ra một số những mục tiêu cụ thể đáng có. (1) Sự phát triển tự nhiên, xét như một mục tiêu, hướng sự chú ý vào các cơ quan thể xác và sự cần thiết của sức khỏe và sự cường tráng. Đối với các bậc cha mẹ và thầy giáo, mục tiêu của sự phát triển tự nhiên nghĩa là: Hãy coi sức khỏe là mục tiêu; không thể có được sự phát triển bình thường nếu không đề cao sự cường tráng thể xác - một sự thật rất hiển nhiên, song một sự thật mà việc thừa nhận thích đáng trong thực tiễn sẽ gần như lập tức làm thay đổi rất nhiều thực tiễn giáo dục. Quả thực, “Tự nhiên” là một từ ngữ mơ hồ và mang tính ẩn dụ, song có thể cho rằng “Tự nhiên” nói lên một điều sau đây: có những điều kiện đem lại hiệu quả giáo dục, và chừng nào chúng ta chưa biết được những điều kiện đó là gì và chưa học được cách làm cho các hoạt động thực tiễn của chúng ta trở nên phù hợp với các điều kiện ấy, chừng đó các mục tiêu của chúng ta dù cao quý và lý tưởng nhất cũng nhất định trở nên tồi tệ đi - chúng chỉ là lời nói suông và đầy cảm tính hơn là mang lại hiệu quả.

(2) Mục tiêu của sự phát triển tự nhiên thể hiện thành mục tiêu của sự đề cao tính vận động thể xác. Theo lời của Rousseau: “trẻ em luôn ở trong tình trạng vận động; một cuộc sống ít hoạt động là có hại.” Khi ông nói rằng Ý định của Tự nhiên là làm cho thể xác trở nên mạnh mẽ sau đó mới đến huấn luyện trí óc, ông hầu như chưa phát biểu sự kiện đó một cách rõ ràng. Song, giá như ông nói rằng “ý định” của tự nhiên (để dùng hình thức ngôn ngữ đầy chất thơ của ông) là phát triển trí óc riêng bằng cách luyện tập các cơ bắp của cơ thể, thì ông có lẽ đã phát biểu một sự kiện chắc chắn. Nói cách khác, mục tiêu của việc tuân theo tự nhiên nghĩa là, nói một cách cụ thể, sự tôn trọng vai trò có thực của việc sử dụng các cơ quan thể xác vào những cuộc thám hiểm, vào việc xử lý vật liệu, vào các trò chơi và thi đấu.

(3) Mục tiêu tổng quát của giáo dục được thể hiện thành mục tiêu của sự tôn trọng những khác biệt cá nhân của trẻ em. Bất cứ ai coi trọng nguyên tắc của sự quan tâm tới các năng khiếu bẩm sinh đều phải chú ý tới sự kiện rằng các khả năng đó khác biệt nhau ở những cá nhân khác nhau. Sự khác biệt không chỉ đơn thuần thể hiện ở trình độ cao thấp về khả năng, mà thậm chí còn thể hiện rõ rệt hơn về đặc tính và cấu trúc. Như Rousseau đã nói: “Mỗi cá nhân sinh ra với một tính khí riêng biệt... Chúng ta áp dụng bừa những bài tập giống nhau cho trẻ em có những xu hướng tính cách khác nhau; giáo dục kiểu đó tiêu diệt khuynh hướng riêng biệt và để lại sự đơn điệu buồn tẻ. Do đó, sau khi chúng ta phí sức vào việc làm còi cọc các năng khiếu bẩm sinh đích thực, thì chúng ta lại chứng kiến sự xuất sắc ngắn ngủi và hão huyền được chúng ta thay thế dần dần chết hẳn, trong khi đó các khả năng tự nhiên bẩm sinh bị chúng ta tiêu diệt thì không thể hồi sinh.”

Cuối cùng, việc tuân theo tự nhiên xét như là mục tiêu có nghĩa là nhận ra nguồn gốc, lúc thịnh suy của những sở thích và mối hứng thú. Năng khiếu xuất hiện và nảy nở không theo một quy tắc nào cả; thậm chí không hề có sự phát triển cùng một lúc bốn năng khiếu. Chúng ta không được bỏ lỡ cơ hội. Thời kỳ ban đầu của khả năng bẩm sinh là đặc biệt quý giá. Chúng ta khó lòng hình dung nổi một điều rằng, cái cách các khuynh hướng của thời thơ ấu bị đối xử sẽ định hình các khuynh hướng cơ bản và tác động nhiều tới sự thay đổi sau này của các năng lực. Sự quan tâm có tính giáo dục tới những năm tháng thơ ấu - để phân biệt với việc dạy những kiến thức nghề nghiệp thực tế - đã xuất hiện hầu như rõ rệt vào thời Pestalozzi và Proebel, trước đó là Rousseau, đã đề cao các nguyên tắc của tăng trưởng tự nhiên. Tính bất quy tắc của tăng trưởng và ý nghĩa của điều ấy đã được chỉ ra trong đoạn văn dưới đây của một nhà nghiên cứu về sự phát triển của hệ thần kinh. “Trong khi sự tăng trưởng diễn ra liên tục, có sự không cân xứng giữa các quá trình của thể xác và các quá trình của tâm trí, bởi tăng trưởng không bao giờ mang tính chung chung, nó được nhấn mạnh lúc này hoặc lúc khác... Trước sự tồn tại của những khác biệt to lớn về khả năng thiên phú, phương pháp nào thừa nhận ý nghĩa động lực của những sự tăng trưởng tự nhiên bất đồng đều, và lợi dụng chúng, ưa thích tính bất quy tắc hơn là sự tròn trịa bằng cách xén tỉa bớt những cái thừa, thì phương pháp ấy sẽ bám sát nhất cái đang diễn ra trong thể xác và do đó chứng tỏ đó là phương pháp hiệu quả nhất.”[1]

Quan sát các khuynh hướng tự nhiên trong những điều kiện bị ép buộc, là điều khó khăn. Các khuynh hướng tự nhiên dễ dàng bộc lộ nhất trong những câu nói và hành động bột phát của một đứa trẻ - nghĩa là, trong khi đứa trẻ tham gia vào công việc mà nó không bị áp đặt nhiệm vụ và khi nó không biết mình đang bị quan sát. Kết luận được rút ra không phải là các khuynh hướng đó thảy đều là đáng mong muốn bởi chúng là tự nhiên; mà kết luận là, bởi vì chúng luôn tồn tại sẵn ở đâu đó cho nên chúng gây tác động và chúng cần phải được tính đến. Chúng ta phải đảm bảo cung cấp một môi trường để duy trì sự tồn tại của những khuynh hướng đáng mong muốn, và hoạt động của chúng phải kiểm soát được chiều hướng xảy ra của các khuynh hướng khác và bằng cách ấy làm cho chúng không được sử dụng đến bởi chúng không dẫn đến kết quả nào cả. Rất nhiều khuynh hướng khi bộc lộ ra ngoài thường gây cho các bậc cha mẹ sự lo lắng có khi lại chỉ mang tính chất nhất thời, và đôi khi việc chú ý quá nhiều tới chúng sẽ chỉ khiến một đứa trẻ cố định sự chú ý vào những khuynh hướng ấy. Trong mọi trường hợp, người lớn quá dễ dàng coi các thói quen và nguyện vọng của họ như là các tiêu chuẩn để đánh giá, và coi mọi động lực của trẻ em đi chệch ra khỏi các tiêu chuẩn đánh giá đó đều là những điều sai trái cần phải loại bỏ. Sự giả tạo này, chống lại nó mạnh mẽ nhất là quan niệm về sự tuân thủ tự nhiên, là kết quả của những cố gắng ép buộc trực tiếp trẻ em phải tuân theo những tiêu chuẩn của người lớn.

Để kết luận, chúng ta lưu ý rằng quan niệm về sự tuân thủ tự nhiên, ở giai đoạn phát triển ban đầu của nó, đã kết hợp hai nhân tố hoàn toàn không có mối liên hệ cố hữu nào. Trước thời đại của Rousseau, các nhà cải cách giáo dục có khuynh hướng đề cao tầm quan trọng của giáo đạc bằng cách gán cho nó quyền năng gần như vô giới hạn. Người ta cho rằng các dân tộc, các giai cấp và những con người của cùng một dân tộc là khác nhau chẳng qua là do sự khác biệt về đào tạo, rèn luyện và thực hành, trên thực tế, tất cả mọi người khi sinh ra đều có trí tuệ, lý trí, khả năng nhận thức như nhau. Sự đồng nhất căn bản về trí tuệ có nghĩa là sự bình đẳng căn bản của tất cả mọi người và khả năng làm cho tất cả có chung một trình độ. Xét như là một sự phản đối lại quan điểm trên, học thuyết về sự hòa hợp với tự nhiên có nghĩa là một cách nhìn ít hình thức và ít trừu tượng hơn rất nhiều về trí óc và các khả năng của trí óc. Nó đã thay thế các khả năng trừu tượng của phân biệt, ghi nhớ, và tổng quát hóa, bằng các bản năng và động lực cụ thể và các khả năng sinh lý học - chúng khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác (hệt như chúng khác biệt, như Rousseau đã chỉ rõ, ngay cả ở những con chó thuộc cùng một lứa đẻ). Trên phương diện này, học thuyết về sự hòa hợp của giáo dục với tự nhiên đã được củng cố sức mạnh nhờ sự phát triển của sinh vật học cận đại, sinh lý học, và tâm lý học. Trên thực tế, sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác có nghĩa là, dù việc nuôi dạy, điều chỉnh, và biến đổi bằng nỗ lực giáo dục trực tiếp có ý nghĩa lớn lao đến thế nào đi nữa, thì tự nhiên, tức những năng khiếu chưa được giáo dục, vẫn cung cấp nền tảng và những nguồn lực cơ bản cho sự nuôi dạy ấy.

Mặt khác, học thuyết về sự tuân thủ tự nhiên là một giáo điều chính trị. Nghĩa là nó là sự nổi loạn chống lại các thiết chế xã hội, tập quán, và những lý tưởng hiện hữu (xem Chương VII, phần 4). Phát biểu của Rousseau cho rằng mọi thứ đều là tốt đẹp khi nó xuất phát từ bàn tay của Đấng Sáng tạo chỉ có ý nghĩa khi phát biểu ấy đối lập lại với phần kết luận của câu nói sau đây: “Tất cả mọi thứ đều trở nên đồi bại do bàn tay của con người.” Và ông lại nói: “Con người tự nhiên có một giá trị tuyệt đối; nó là một đơn vị số lượng, một số nguyên trọn vẹn và không có bất kỳ mối quan hệ nào khác ngoài mối quan hệ với bản thân nó và đồng loại của nó. Con người văn minh chỉ là một đơn vị tương đối, là tử số của một phân số mà giá trị của nó phụ thuộc vào mẫu số, nó phụ thuộc vào mối quan hệ của nó với xã hội xét như một khối nguyên vẹn. Các thiết chế chính trị tốt là các thiết chế biến một người trở thành trái với tự nhiên.” Xuất phát từ quan niệm nói trên về tính chất giả tạo và có hại của đời sống xã hội có tổ chức xét như nó đang tồn tại lúc này[2], ông đã quan niệm rằng Tự nhiên không chỉ cung cấp những ảnh hưởng quan trọng bậc nhất để khởi xướng sự tăng trưởng, nó còn cung cấp cả kế hoạch và mục đích của tăng trưởng. Nói rằng các thiết chế và phong tục xấu xa hầu như đương nhiên đem lại một sự giáo dục sai trái mà giáo dục nhà trường dù chu đáo nhất cũng không thể bù đắp được, là hoàn toàn đúng; song, kết luận không phải là, giáo dục phải tách rời khỏi môi trường, mà giáo dục phải cung cấp một môi trường ở đó các khả năng bẩm sinh được đem ra sử dụng vào mục đích tốt đẹp hơn.

Chú thích

  1. Donaldson, Sự phát triển của bộ não, trang 356. [J.D]
  2. Chúng ta không được quên rằng Rousseau có quan niệm về một loại xã hội khác biệt căn bản, một xã hội đầy tình huynh đệ mà mục đích của nó phải đồng nhất với lợi ích của mọi thành viên, ông cho rằng xã hội đó tốt đẹp hơn rất nhiều so với các nhà nước hiện hữu bởi đó là những nhà nước tồi tệ hơn so với tình trạng của tự nhiên. [J.D]

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org