Tự học là một sự cần thiết

3. Tự học là một sự cần thiết

a) Bổ khuyết nền giáo dục ở trường

Trong cuốn Thế hệ ngày mai, tôi đã chỉ trích nền giáo dục hiện thời của ta. Nó có nhiều khuyết điểm mà hai khuyết điểm lớn là:

- Quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục. Ở ban tiểu học, trong 26 giờ, có tới 23 giờ rưỡi để luyện trí; ở năm thứ 4 ban cao tiểu cũng vậy; còn ở lớp Tân Đệ nhất(1e moderne) để thi Tú tài phần nhất, mỗi tuần học sinh học 23 giờ thì có tới 22 giờ về trí dục, thể dục được 1 giờ, đức dục tuyệt nhiên không có. Tuỳ từng ban, số giờ dạy khoa học chiếm từ 35 tới 56 phần trăm số giờ tổng cộng. Người ta muốn cho trẻ biết gần đủ các ngành của khoa học; nhưng vì biển học mênh mông, mỗi ngày sự hiểu biết của loài người càng tăng tiến, dù học suốt đời cũng chưa được bao nhiêu, huống hồ chỉ mới học trong mươi năm, nên ở ban Trung học ra, học sinh chỉ mới biết qua được ít đại cương, ít thường thức về mỗi ngành mà thôi.

Ở ban Đại học ra thì cũng vậy: về thường thức đã chẳng biết gì hơn mà về ngành chuyên môn thì cũng chỉ mới học được những điều căn bản. Một bác sĩ y khoa, một dược sư, một tấn sĩ luật khoa chẳng hạn, nếu không học thêm thì khi mới ở trường ra có biết gì về sử ký, địa lý... hơn một cậu Tú đâu, và sự học chuyên môn của họ đã có thể giúp ích gì được nhiều đâu.

Vậy họ phải tự học để mang trí tuệ, trau giồi nghề nghiệp và nhất là tu thân luyện tính, tức bổ một chỗ khuyết lớn trong nền giáo dục họ đã hấp thụ được trên ghế nhà trường.

- Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ. Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý.

Từ đầu thế kỷ này, biết bao giáo sự và học giả ở Pháp, từ Taine tới Gustave Le Bon, A. Carrel, Gaston Viaud, Paul Labérenne... đã mạt sát lối bắt nhớ nhiều mà không tập cho suy nghĩ ấy.

Mười nhà doanh nghiệp tiếp xúc với thanh niên thì 9 người phàn nàn rằng “số trung bình những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.

Ông Stanley còn nói ba phần tư những thanh niên Anh người ta gởi qua châu Phi cho ông, ngạc nhiên và luýnh quýnh khi ông bảo họ suy nghĩ lấy. Tại nước Anh còn vậy, nói gì đến nước mình!

Trường học bây giờ đào tạo những con người máy như vậy đó. Nếu ta muốn làm con người chứ không chịu mãn đời làm cái máy thì tất nhiên ta phải tự học.

b) Có tự học mới làm tròn nhiệm vụ của ta được

Trong gia đình ta có bổn phẩn dạy con, săn sóc sức khoẻ cho mọi người, làm hàng chục những công việc lặt vặt mà trường có dạy ta chút gì về những chức vụ đó đâu.

Trong xã hội ta phải giao thiệp với mọi hạng người, phải biết ăn nói, biết dò xét tâm lý, chỉ huy, tổ chức... mà những môn ấy, trường không hề dạy cho ta biết.

Rồi nhiệm vụ làm công dân ở thời đại này nữa, mới nặng nhọc làm sao! Không thể trông cậy vào sự học ở nhà trường để làm trọn nó được.

Từ khi có bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của các nhà cách mạng ở Pháp, lần lần dân trong mỗi nước văn minh được quyền tham gia chính trị. Quốc gia không phải là riêng của một nhóm nào nữa và ai cũng có bổn phận lo việc nước. Thực đúng như lời cố nhân: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Một lá thăm của ta, mỗi sự quyết định của ta có thể ảnh hưởng lớn tới sự thịnh suy của cả dân tộc.

Nhiệm vụ quan trọng như vậy mà phần đông chúng ta chẳng hiểu chút gì về chính trị, kinh tế.

Nhờ khoa học, sự giao dịch, thông tin, truyền bá tư tư tưởng phát triển rất mạnh, không một quốc gia nào ở thời này không chịu ảnh hưởng gần hay xa của các biến cố trong những quốc gia khác. Chiến tranh ở Triều Tiên, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, sức khoẻ của Staline, tình hình đình công ở Pháp, nổi loạn ở Ba Tư, sự tái võ trang nước Đức..., nhất nhất đều định đoạt trong một phần nào chính sách ngoại giao kinh tế của ta. Cho nên khoa chính trị và kinh tế phức tạp, khó khăn hơn hồi xưa vô cùng. Ta phải biết sử ký, địa lý của mỗi nước, phải biết đời sống và tư tưởng các nhà cầm quyền của các cường quốc, chính sách ngoại giao của mỗi nội các, tình hình các đảng phái quan trọng ở Pháp, Anh, Mỹ..., tóm lại biết bao nhiêu điều mà ở trường ra, ta chẳng hiều mảy may gì cả. Đành phải học lấy.

c) Cần biết dùng thì giờ rảnh

Tự học còn là một sự cần thiết ở thế kỷ này vì chúng ta có rất nhiều thì giờ rảnh. Hồi xưa anh em lao động phải làm 12 có khi 14 giờ một ngày. Mới cách đây độ 100 năm, thợ thuyền ở Pháp có khi luôn 5-6 tháng không được biết ánh sáng mặt trời. Họ dậy từ lúc còn tối, tới hãng làm việc trong hầm luôn tới trưa, được nghỉ tay 1 giờ để ăn uống ngay tại hãng rồi làm việc tiếp tới khi mặt trời lặn mới được về nhà, ăn xong, lăn ra ngủ để sáng sớm hôm sau sống cuộc đời hắc ám như vậy tháng này qua tháng khác.

Từ khi luật lao động được áp dụng, chúng ta chỉ phải làm 48 hoặc 40 giờ một tuần. Khoa học càng ngày càng tiến, số giờ đó sẽ còn rút nữa. Biết đâu đấy, trong vài chục năm nữa, điện tử và nguyên tử lực chẳng cho ta được nghỉ mỗi ngày thêm vài giờ nữa. Nếu không học thêm thì làm gì cho hết thì giờ rảnh đó? Goethe đã nói: “Vấn đề dùng những lúc rảnh là vấn đề khó giải quyết nhất của loài người”. Lời đó rất chí lý. Dù có đặt thêm nhiều món tiêu khiển hữu ích cho anh em lao động thì cũng không đủ, vì chơi hoài sẽ chán; chỉ còn cách là khuyến khích họ tự học. Nhờ học thêm mà anh em lao động sẽ thấy mình khỏi bị nô lệ máy móc, vì có dịp suy nghĩ để tránh những công việc quá chuyên môn.

Ông Fourastié trong cuốn Les 40.000 heures bảo hiện nay trí thức của loài người tăng tiến rất mau mà trong ít chục năm nữa, chúng ta sẽ chỉ còn phải làm việc 30 giờ một tuần, 40 tuần một năm, lúc đó sự học thêm, sự tự học sẽ là một nhu cầu khẩn thiết. Hiện nay ở Âu, Mỹ người ta đã cảm thấy nhu cầu đó rồi.

d) Tự học là một nhu cầu của thời đại - Vừa làm vừa học - Còn sống còn học

Ở Pháp, mới trong khoảng mười năm nay, xuất hiện một quan niệm mới càng ngày càng được nhiều người lưu ý tới: quan niệm “giáo dục thường xuyên” (éducation permanente).

Trước hết, người ta thấy trong mọi ngành, tri thức của loài người tăng tiến rất mau. Chẳng hạn trong ngành Y khoa, một bác sĩ chuyên trị các bệnh ngoài da bảo tôi: “Năm nào cũng có nhiều phát minh mới trong ngành chuyên môn của tôi, thành thử sách mới phát hành, khi bầy ở tiệm sách thì đã hoá cũ rồi. Phải đọc đều đều nhiều tạp chí Y khoa thì mới theo dõi được những tấn bộ trong nghề”. Những ngành khác cũng gần như vậy.

Rồi người ta lại nghiệm rằng trong mọi ngành hoạt động, một nhân viên trong bất kỳ một cấp bực nào, càng hiểu biết rộng bao nhiêu thì làm việc càng đắc lực bấy nhiêu. Tất nhiên họ phải hiểu biết về nghề nghiệp của họ; nhưng bấy nhiêu chưa đủ, họ còn cần biết ít nhiều về trào lưu tư tưởng trên thế giới, về văn chương, nghệ thuật, chính trị, kinh tế, xã hội học, tâm lý học nữa. Cho nên trong một hãng nọ, viên Giám đốc mời một vị thạc sĩ văn chương lại diễn thuyết cho nhân viên nghe về tác phẩm: “Ngư ông và biển cả” của Hemingway rồi cùng thảo luận về nguyện vọng của loài người trong thời đại này; lần khác mời một thạc sĩ triết học lại nói chuyện về “thân phận con người trong kịch của Jean Paul Sartre”.

Vậy tri thức chuyên môn tuy vẫn là cần thiết mà tri thức phổ thông càng ngày càng có giá trị vì nó bổ túc cho cái trên.

Nhưng ở trường học, dù là những trường cao đẳng, đại học, cũng không thể nào dạy đủ được; mà ở trường ra vài ba năm, nếu sinh viên không theo dõi những tấn bộ trong ngành của mình, thì tri thức cũng hoá ra lỗi thời cho nên cần có một tổ chức giáo dục thường xuyên.

Ở Pháp, có người đã nghĩ nên rút bớt số giờ làm việc trong mỗi tuần để bổ túc sự giáo dục về nghề nghiệp và về trí thức phổ thông cho các hạng nhân viên (Bản báo cáo của Rueff Armand - 1960, Tạp chí Hommes et Commerce 1963); có người lại mong rằng vài chục năm nữa người ta có thể cho các nhân viên cao cấp trong mọi ngành cứ làm việc năm sáu năm lại được nghỉ một năm, trở lại Đại học, sống đời sinh viên trong một năm để trau dồi thêm kiến thức mà theo kịp những tấn bộ về ngành của mình (Louis Armand - Encyclopédie Universelle - Gérard et Cie).

Hiện nay những nguyện vọng đó chưa có một quốc gia nào thực hiện được - nước nào, ngân sách về quốc phòng cũng quá cao mà ngân sách về giáo dục cũng quá thấp - nhưng chỉ vài chục năm nữa thôi, người ta phải thoả mãn cái nhu cầu của thời đại đó, cái nhu cầu học hỏi thêm hoài, vừa làm vừa học, còn sống còn học.

Từ sau thế chiến, sự khao khát học hỏi của loài người tăng lên dữ dội.

Ở Pháp, người ta đã tính cứ 100 thanh niên, năm 1900 có 1,5 học tới Tú tài và 1 tới Cử nhân, năm 1920 có 2,2 học tới Tú tài và 2 tới Cử nhân, năm 1950 có 5 học tới Tú tài và 2 tới Cử nhân, năm 1960 có 11,5 học tới Tú tài và 3,3 tới Cử nhân, năm 1970 sẽ có 23 học tới Tú tài và 7 tới Cử nhân.

Nghĩa là từ 1950 trở đi, cứ 10 năm thì tỉ số thanh niên có Tú tài, cử nhân lại tăng lên gấp đôi.

Số sách bán được cũng tăng lên rất mạnh. Ở Huê Kỳ chỉ trong 5 năm, từ 1955 đến 1960, số sách bán được tăng lên 65% mà số máy truyền hình (télévision) lại giảm đi trên 20%. Tăng lên mạnh nhất là loại sách rẻ tiền như Livres de poche, Marabout, Cardinal. Trình độ của những loại sách này cũng mỗi ngày một tiến; mới đầu người ta chỉ in tiểu thuyết, rồi lần lần người ta xuất bản những cuốn phổ thông kiến thức về bách khoa.

Ở Pháp không biết có tới mấy chục thứ sách Bách Khoa: từ những thứ cho thanh niên như Encyclopédie pour la Jeunesse của nhà Larousse, tới những thứ cho những người lớn ít học như Encyclopédie universelle của nhà Gérard et Cie, những thứ trình độ cao hơn cho hạng người trí thức như Clartés, Les Grandes encyclopédies pratiques, Encyclopédie francaise - Larousse... Lại còn những sách nhỏ xét riêng từng vấn đề một như trong các loại Que Sais-je, Pour connaitre, Petite bibliothèque Payot, Idées (Gallimard) Voici; Pourquoi? Comment? Ce qu'il nous faut savoir... đủ trình độ cho mọi hạng người chuyên môn hoặc không chuyên môn. Người ta hiếu học như vậy, trách chi mà chẳng tiến mau.

*

Ở một nước lạc hậu, kém phát triển như nước ta, sự giáo dục càng có một tầm quan trọng đặc biệt. Chúng ta phải thanh toán cho mau cái nạn mù chữ, chúng ta lại phải nâng cao trình độ của quốc dân để có thể theo kịp được các nước tiên tiến.

Giáo dục ở nhà trường đã thiếu sót mà chúng ta lại chưa thể nghĩ đến một chính sách giáo dục thường xuyên, cũng chưa có những tổ chức giáo dục sau khi ra trường, thì ít nhất chúng ta cũng phải lưu tâm tới sự giáo dục đại chúng bằng sách báo.

Đành rằng trong lúc này mọi hoạt động phải hướng cả về chiến tranh, nhưng chúng ta cũng nên nhìn xa một chút. Cuộc chiến tranh bi thảm này trễ lắm là năm, mười năm nữa cũng phải dứt hoặc tạm ngưng. Sức chịu đựng của dân chúng xứ nào cũng có hạn - và lúc đó phải kiến thiết. Chiến tranh càng kéo dài thì khi thái bình, sự kiến thiết càng đòi hỏi nhiều nỗ lực. Và làm sao chúng ta có thể kiến thiết cho mau, cho đắc lực được khi mà trình độ kỹ thuật và văn hoá của quốc dân rất thấp kém. Khi năm chục phần trăm dân chúng còn mù chữ, ba chục phần trăm khác may lắm đọc được một trang báo và làm được bốn phép toán, và tám, chín phần trăm nữa không đọc cái gì khác mấy tờ báo hằng ngày, mấy tờ báo điện ảnh, mấy tiểu thuyết rẻ tiền; khi những cán bộ trung cấp không hiểu chút gì về những tư trào hiện đại trên thế giới, những vấn đề khẩn cấp của nhân loại, không nhận chân được cái hướng tiến của xã hội; khi đa số giáo sư không biết chút gì về những phong trào tân giáo dục, khi đa số kỹ sư không biết môn tổ chức công việc từ sau thế chiến đến nay đã tấn bộ ra sao, không biết môn tâm lý xã hội có tầm quan trọng mực hào trong các xí nghiệp; khi đại đa số các nhà trí thức không hề đọc một cuốn nào về những vấn đề kinh tế của thời đại, về những điều kiện phát triển kinh tế tại những nước chậm tiến như nước mình... thì làm sao dân tộc ta có thể tiến mau cho được, dù có được các cường quốc thực tâm viện trợ đủ cả từ tư bản, tới máy móc, chuyên viên. Vì vấn đề nhân sự bao giờ cũng là vấn đề quan trọng hơn cả mà tại những xứ kém phát triển vấn đề đó lại càng khẩn trương nhất. Mà muốn đào tạo con người thì mở trường chưa đủ, phải có nhiều sách báo nữa. Công việc giáo dục đó phải mười năm mới có kết quả, cho nên luôn luôn phải tính trước cho mười năm sau.

Như ở trên chúng tôi đã nói, hiện thời ở nước nào sự giáo dục sau khi ra trường cũng hoá ra cần thiết, những lớp học cho người lớn, những loại sách, báo phổ thông tri thức càng phải phát triển mạnh.

Chính quyền gần đây đã hạn chế số tiểu thuyết đăng trên mỗi báo hằng ngày. Chính sách đó hợp thời: từ năm sáu năm nay nhiều người đã chờ đợi một quyết định như vậy. Một số người cho rằng báo không còn đăng tiểu thuyết nữa thì số độc giả sẽ giảm đi mà hại cho công việc thông tin. Đợi ít tháng nữa xem nỗi lo ngại đó có đúng không. Theo thiển kiến thì đó chỉ là vấn đề thói quen: mới đầu một số độc giả thấy thiếu cái món đó cũng tiếc, cũng nhớ; nhưng không còn kiếm đâu ra được nữa thì đành dùng tạm món mới vậy, lâu rồi cũng quên lần món cũ đi, và tới một lúc nào đó người ta sẽ thấy rằng những món mới thế mà có nhiều vị hơn những món cũ. Lúc đó ta có thể nói được rằng quần chúng đã được giáo dục hoá, đã có một trình độ văn hoá cao hơn, và ta đã đạt được mục đích của giáo dục, vì mục đích của giáo dục không phải là chỉ tìm cách thoả mãn nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn phải tạo thêm những nhu cầu mỗi ngày mỗi cao hơn cho quần chúng.

Nhưng dù sao báo hằng ngày cũng chỉ là những cơ quan thông tin, chứ không thực là những cơ quan giáo dục. Cho nên chính quyền còn cần tiến thêm một bước nữa, khuyến khích các tạp chí phổ thông đứng đắn và xuất bản vài loại sách phổ thông cho hai hạng người: hạng bình dân và hạng thanh niên có sức học tương đương với bậc tú tài mà muốn trau giồi thêm kiến thức.

Viết loại sách phổ thông đó, coi vậy mà không phải dễ. Phải hiểu thấu vấn đề, viết một trăm trang có khi phải đọc cả chục cuốn, lại phải kiếm tìm những tài liệu mới nhất để khỏi phải lỗi thời, mà tài liệu ở nước mình thực khó kiếm; phải hiểu nhu cầu của thời đại, lại phải tự đặt mình vào trình độ hiểu biết của người đọ, điều này khó nhất. Vì người cầm bút nào cũng tham lam muốn đưa tất cả những hiểu biết của mình vào sách, lầm tưởng rằng có như vậy sách mới có giá trị, độc giả mới phục mình. Sau cùng văn phải trôi chảy, sáng sủa, đôi khi hấp dẫn nữa. Cứ dịch nguyên văn mà lại dịch từng chữ một trong các tác phẩm của ngoại quốc, thì hỏng lớn, đọc giả sẽ không thèm đọc.

Vậy viết loại sách phổ thông đó phải là những người có học vững, có lương tâm, có khiếu giảng giải của một nhà giáo, lại có kinh nghiệm của một nhà văn. Ít người có đủ những khả năng đó, và những người có đủ khả năng lại ít ai chịu làm cái việc bạc bẽo đó vì sách viết đã tốn công, bán lại không chạy mà còn bị coi rẻ là khác nữa: không ai cho loại đó là sáng tác, là văn chương (mặc dầu ở Âu, Mỹ có những tác phẩm phổ thông mà có nghệ thuật hơn những tập thơ, những bộ tiểu thuyết bày nhan nhản ở các tiệm sách: chúng tôi chỉ xin đơn cử bộ Histoire de la Civilistion của Will Durant, bản dịch của nhà Payot) cho nên dù có soạn được cả chục cuốn thì cũng không được cái vinh dự là một nhà văn. Vì vậy, công việc phải giao cho một cơ quan văn hoá có đủ uy tín để tập hợp được một số cây viết đứng đắn, và có đủ phương tiện để thực hiện một chương trình ít gì cũng đòi hỏi một thời gian từ năm đến mười năm.

Chánh quyền xuất bản sách rồi, lại phải tạo nên một phong trào đọc sách trong toàn quốc. Một nhà văn Mỹ nói một câu chí lí đại ý như vầy: “Sách phải đi kiếm độc giả, chứ đừng mong độc giả đi kiếm sách”. Nghĩa là chính phủ phải đem sách gí vào tay quốc dân thì quốc dân may ra mới chịu đọc. Ở Mỹ mà còn vậy; ở nước ta chính phủ có lẽ chẳng những phải phát không sách cho dân chúng mà còn phải năn nỉ hay bắt buộc dân chúng mới đọc cho nữa.

Mới rồi tôi có dịp vào một tổng nha nọ, thấy tủ sách của nha chỉ gồm có mươi cuốn tạp nham không thành một loại nào, đã cũ mà lại không bổ ích gì cả. Ngay những sách chuyên môn về hoạt động của nha, ngay những bản báo cáo của nha cũng không thấy bày.

Như vậy thì làm sao nhân viên có tinh thần học hỏi, cầu tiến?

Lập một tủ sách cho mỗi nha, mỗi tỉnh, mỗi quận, rồi lần lần cho mỗi làng; tại các sở, phân phối sách cho mỗi nhân viên đọc; tại mỗi làng, có một cán bộ thanh niên đưa sách cho từng gia đình đọc, tuỳ trình độ mỗi người; có tạo nên được một “chiến dịch đọc sách” như vậy thì quốc dân mới mau tiến bộ.

Khi tuyển người, nếu có nhiều người khả năng kỹ thuật gần ngang nhau, có thể lựa người nào ham đọc sách. Tiêu chuẩn đó không phải là vô lý, ít nhất nó cũng có giá trị hơn tiêu chuẩn lựa những kẻ giỏi đi giật lùi, hoặc tiêu chuẩn “ba Đ” (Đảng, Đạo, Địa phương) của họ Ngô.

Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức.

Nếu chánh quyền hiểu rằng số tiền chi tiêu vào giáo dục tức số tiền đầu tư vào kinh tế, thì sẽ được nhiều biện pháp khác nữa để khuyến khích dân chúng đọc sách.

Dưới trào Ngô Đình Diệm, nghe nói mỗi năm người ta bỏ ra mấy chục triệu về công việc văn hoá, một số lớn dùng vào công việc tuyên truyền hoặc trợ cấp cho những kẻ khéo nịnh bợ nên kết quả là dân chúng vẫn thiếu sách đứng đắn, rẻ tiền để đọc và cứ bắt buộc mua những tạp chí mà công dụng chỉ là để gói hàng. Từ ngày Cách mạng 1-11[1] đến nay, hình như những trợ cấp đó đã rút gần hết. Chúng tôi mong rằng số tiền còn lại sẽ đem dùng một phần vào công việc khảo cứu, một phần vào công việc phổ thông trí thức trong dân chúng. Dạy cho dân biết đọc mà không có sách cho dân đọc thì công việc giáo dục đó cũng vô ích, có phần còn hại nữa vì biết đâu chẳng có kẻ sẽ đem sách báo của họ đặt vào tay dân chúng.

Chú thích

  1. Tức ngày 1-11-1963, ngày đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. (Goldfish).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tự học - Một nhu cầu của thời đại
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nguồn: Bản scan do Townguyen cung cấp (e-thuvien.com)
  • Đánh máy: Trieuthoa
  • Tạo eBook lần đầu và tạo lại: Goldfish (10-06-2013)