Tôi, chúng ta

Nhân loại vừa mới bước vào cái có lẽ là sự chuyển hóa vĩ đại nhất mà loài người từng biết đến… Một điều gì đó đang xảy ra trong cấu trúc của nhận thức con người. Đó đúng là sự bắt đầu một loài mới của sự sống.

Pierre Teilhard de Chardin

Như trước kia, tôi là một con mắt mà vũ trụ dùng để ngắm nhìn bản thân nó. Trí tuệ này không phái chỉ của riêng mình tôi; Trí tuệ ở khắp mọi nơi.

Rudy Rucker

Chương 25: TÔI / CHÚNG TA

Trong các chương trước, tôi đã đưa ra ý kiến cho rằng hình ảnh sáng tạo của các nghệ sĩ có tầm nhìn cách mạng đã chứa đựng những ý tưởng căn bản sâu xa làm nền tảng cho khuôn khổ khái niệm của thế giới quan của xã hội. Sau đó, những tư tưởng sâu sắc này thường tỏa sáng ngời qua các phương trình của những nhà vật lý có viễn kiến đi trước thời đại, và cuối cùng là làm thay đổi cách suy nghĩ của những người còn lại trong chúng ta về thế giới. Nhưng nếu như nghệ thuật đã biểu hiện được các khái niệm này trước cả khi những phát biểu về chúng được lọc qua những tạp chí vật lý chuyên ngành, thì các nghệ sĩ, những người đã đem đến hình hài cho chúng, chắc chắn đã không thể có được bất kì chút hiểu biết một cách có ý thức nào về sự phát triển của các khái niệm đó. Một khối lượng lớn bài viết, bài giảng, thư từ, các cuộc trò chuyện được ghi lại của nghệ sĩ đã chứng tỏ điều đó. Nếu như loạt ví dụ về sự tương hợp giữa vật lý và nghệ thuật mà tôi đã trình bày trong cuốn sách này có đem đến cho lý thuyết của tôi một sự đáng tin nào đó, thì câu hỏi tiếp theo mà chúng ta phải đặt ra là làm thế nào lại có thể như thế được. Làm thế nào mà nhiều nghệ sĩ khác nhau, trong nhiều thế kỉ khác nhau, tất cả đều thực sự không biết những gì sắp sửa sẽ xảy ra trong lĩnh vực vật lí, lại có thể sáng tạo ra nhiều phong cách cách tân trong nghệ thuật đến thế, trực tiếp nói về việc xét lại thực tại vật lý sắp sửa xảy ra ở thời đại của mình?

Đối mặt với hiện tượng rắc rối này, hầu hết các nhà bình luận đều viện đến một giả định mơ hồ, là zeitgeist, tuyên bố rằng một nhiễu động nào đó rất khó xác định xảy ra trong không khí đã ngưng tụ thành sự thay đổi, không chỉ ở một lĩnh vực, mà tràn ngập khắp toàn bộ nỗ lực của loài người. Họ coi các xã hội như những luồng cá đang bơi, bỗng đột nhiên đổi hướng. Tuy nhiên, cái cách cả luồng cá đồng loạt thực hiện những chuyển động nhịp nhàng uyển chuyển hoành tráng ấy đã phủ nhận khả năng một con cá đầu đàn phát ra tín hiệu rồi tất cả những con khác làm theo. Tương tự như vậy, người ta đã không tìm ra được một nhân tố quyết định nào đã phát ra tia lửa châm ngòi cho sự bùng nổ của cả một mạng lưới phức tạp các sự kiện dẫn đến những thành tựu nghệ thuật và khoa học huy hoàng của thành Athens thời Pericles, thành Florence thời nhà Medici hay một loạt các thủ đô châu Âu ở ngưỡng cửa thế kỉ hai mươi. Thật không may, khái niệm zeitgeist lại không hề giải thích được cái lực làm ngưng tụ hành-động-từ xa này đã phát sinh và lan tỏa như thế nào. Làm thế nào mà các nguyên lý chủ chốt của một phong cách mới trong nghệ thuật, giống như các vòng sóng trên mặt hồ, lại có thể lan tỏa qua cả phạm vi rộng lớn của nền văn hóa, để cuối cùng cộng hưởng với những phương trình của các nhà vật lý có tầm nhìn vượt xa thời đại của mình?

Để suy ngẫm về vấn đề này, chúng ta phải lang thang rộng hơn sang các lĩnh vực khác, mạo hiểm xông vào lý thuyết tiến hóa, sự phân vùng ở bộ não và cả thần thoại học nữa. Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc xem xét các quan niệm của chúng ta về cấu trúc của ý thức. Đối với một người quan sát, một con vật là có ý thức, nếu nó rung động theo các tâm trạng và cảm giác khác nhau, có năng lực đánh giá được hiện trạng dưới ánh sáng của kinh nghiệm quá khứ, giúp cho nó có thể đi đến một phản ứng cao hơn một mẫu hình hành xử theo bản năng. Ở một nơi nào đó trên con đường mòn tiến hóa bắt đầu từ bộ não của loài linh trưởng, trí tuệ biết suy xét nội tâm đã xuất hiện ở loài người chúng ta. Trí tuệ, một phát triển mới đầy ấn tượng trong lịch sử của hành tinh trái đất, là một hiện tượng phụ biết suy nghĩ, tự ý thức, biết được rằng nó biết. Những người theo chủ nghĩ duy vật chất đã tuyên bố rằng trí tuệ là sản phẩm của năng lượng điện hóa và điện từ được thể hiện qua một cơ chế phức tạp mà họ xác định được là bộ não; nhưng thực ra, hiểu biết của chúng ta về mối liên hệ giữa trí tuệ và bộ não từ trước đến giờ vẫn rất mơ hồ. Wilder Penfield, nhà phẫu thuật thần kinh kiệt xuất, đã bỏ ra hai thập kỉ 1940, 40 và 50 của thế kỉ hai mươi để lập bản đồ các vùng của não, ông không ngừng tìm kiếm chỗ lẩn trốn của trí tuệ, cố gắng chỉ ra được cái vị trí giải phẫu học chính xác quyết định hành động của chúng ta. Ông đã không bao giờ tìm ra được nó và buộc phải kết luận rằng ông không chắc não và trí tuệ có gắn kết thân thiết như những người theo chủ nghĩa duy vật chất đã làm cho ông từng tin hay không.

Cuộc tìm kiếm giao diện chung giữa trí tuệ và bộ não vẫn tiếp tục là mối bận tâm của các nhà sinh lý học và triết học ngày nay. Cho đến giờ, vẫn chưa thấy xuất hiện cách giải thích thỏa đáng nào cho câu hỏi cốt tử: cơ chế nào cho phép vật chất tác động lên trí tuệ, hay - còn rắc rối hơn - cơ chế nào đã cho phép trí tuệ tác động lên vật chất?

Hầu hết mọi người sống trong nền văn hóa phương Tây đều tin rằng trí tuệ của mỗi cá nhân là một thực thể riêng rẽ, tách biệt, được tạo nên bởi thể chất của cá nhân người ấy. Nhà thần kinh học Charles Sherrington đã phát biểu về quan điểm này một cách tao nhã như sau:

“Cái tôi là một sự thống nhất… Nó coi bản thân nó là một, những người khác đối xử với nó như một, nó được nói đến là một, có một cái tên mà gọi lên nó sẽ đáp lời. Luật pháp và Quốc gia liệt kê nó là một. Nó và các định chế này xác nhận căn cước của nó với một thân thể, thân thể ấy được nó và Luật pháp, Quốc gia coi là thuộc về nó một cách trọn vẹn không thể tách rời. Nói tóm lại, niềm tin không thể thách thức, không thể bàn cãi được đã coi nó là một. Lí lẽ của ngữ pháp cũng ủng hộ việc này, bằng cách gán cho nó một đại từ ở số ít. Tất cả mọi sự đa dạng của nó đã hòa trộn thành một thực thể duy nhất”.

Khái niệm về cái “tôi” kết thúc ở lớp da của chúng ta. Ở bên trong cái túi không thấm nước này, hệ thống miễn dịch của con người đã có được những biện pháp cực đoan, được thiết kế ra để cô lập cái “tôi” ra khỏi môi trường của nó, mà hệ thống này nhận thức rõ là “không phải tôi”. Có lẽ do bộ áo giáp đầy đủ của các cơ chế tự vệ bao bọc quanh cái “tôi” đã hết sức cảnh giác phòng vệ mọi sự xâm lấn có thể có, cho nên cái “tôi” nêu cao được tính cá nhân của nó một cách hết sức mãnh liệt. Sự phân cách rạch ròi giữa các biên giới vật chất của thân thể chúng ta rất tự nhiên đã củng cố thêm quan niệm cho rằng trí tuệ của mỗi chúng ta đều là riêng rẽ không thể nào xâm phạm, tách biệt khỏi tâm trí của những người khác. Tuy nhiên, như Sherrington đã cảnh báo: “Sức mạnh của niềm tin này (về tính đơn nhất), không có nghĩa cũng là một sự bảo đảm rằng nó là chân lí”.

Niềm tin được giữ gìn vững chắc trong mỗi con người về tính toàn vẹn của riêng bản thân từng cá nhân đã đối lập với quan niệm cấp tiến hơn, cho rằng có tồn tại một thứ trí tuệ vũ trụ. Nhà triết học người Mĩ William James gợi ý rằng có một biên giới bao quanh trí tuệ của mỗi cá nhân con người, giữ cho nó tách rời với các cùng loại. Biên giới này bao bọc các ý nghĩ và suy tư, không cho bất kì ai khác tiếp cận tới, vì thế mà nó tạo nên ảo giác về sự tách biệt. Tuy nhiên, ông phỏng đoán tiếp, đã có một đoạn của cái vòng tròn này bị vỡ, và qua lỗ thủng này, ý thức đơn lẻ của cá nhân đã kết nối với ý thức của tất cả những người khác, trong một trí tuệ siêu việt, bao quát tất cả và rộng lớn hơn. Năm 1902, trong các bài giảng ở cuốn Những đa dạng của trải nghiệm tôn giáo, ông đã tuyên bố:

“Dường như đối với tôi, những giới hạn xa của Con người đang sống chúng ta đã cùng kết lại với nhau thành một chiều tồn tại khác, nằm ngoài thế giới hợp lý và thuần túy “hiểu được” này. Có thể gọi nó là miền huyền bí hay miền siêu nhiên, tùy các bạn chọn”.

James đã phát triển khái niệm về một “continuum của ý thức vũ trụ”, tồn tại ở một chiều cao hơn và tổng hợp toàn bộ trí tuệ của tất cả các cá nhân. Ông đề nghị gọi cái thực thể này là Chúa Trời tối thượng. Thật không may, việc gắn từ “Chúa Trời” vào một ý niệm, có thể làm lặng đi các cuộc tranh luận giữa những người đang gắn tôn giáo với triết học một cách không thích thú gì lắm. Vì thế cho nên khi nhà thần học Công giáo Pierre Teilhard de Chardin đưa ra một lý thuyết tương tự vào những năm 40 của thế kỉ hai mươi, ông đã đặt ra sự tồn tại của một cái màng ý thức bao trùm lên toàn bộ địa cầu, ông thận trọng không gọi nó là Chúa[1].”.

Trong mô hình của Teilhard de Chardin, mỗi khi ý thức riêng lẻ của một cá nhân trên thế giới này được nâng lên, thì số lượng và chất lượng chung của trí tuệ trong thế giới này cũng tăng lên theo. Ông gọi cái thành tố vô hình này của bầu khí quyển là “trí quyển” (noosphere, ghép từ noos của tiếng Hi Lạp cổ, nghĩa là “trí tuệ” vào hậu tố sphere có nghĩa quyển). Mỗi một con người, sau khi trở nên có ý thức hơn về cuộc đời mình, đã góp thêm một chút vào cái bể ý thức chung, tồn tại ngoại lai ấy, và bằng cách đó làm nó hơi dâng thêm lên một chút. Chính ông đã nói:

“Nhưng đến ngày nay, do kết quả khảo sát tốt hơn về Không gian và Thời gian, một ý niệm khác bắt đầu ló rạng trong trí tuệ của chúng ta. Nghĩa là, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng, dưới bức màn xã hội hóa của loài người, có thể đang có một lực phổ quát, cơ bản hoạt động, cái lực mà từ buổi bình minh của thế giới, đã luôn luôn hướng tới việc tổ chức Vật chất ngày càng chặt chẽ hơn. Chúng ta giờ đây không còn được phép nghĩ về cái lực này thuần túy chỉ là một chuyển động không gian của trái đất (như Galileo), mà phải thấy nó là một sự xiết chặt, vượt lên bản thân chúng ta, ở cao phía trên đầu ta, của một thứ đại loại như một cơn lốc xoáy vũ trụ. Cơn lốc xoáy vũ trụ ấy, sau khi tạo ra mỗi một người chúng ta một cách riêng biệt, thì bằng cách tạo ra các đơn vị tập thể, lại tiếp tục không ngừng cuốn đi xa hơn trên con đường hướng tới việc tăng liên tục và đồng thời cả hai thứ: tính phức tạp và ý thức.”

Nếu như Teilhard de Chardin đã hình dung ra một trí tuệ toàn cầu bao trùm lên hành tinh này, thì về phần mình, tôi sẽ sử dụng thuật ngữ trí tuệ vũ trụ (universal mind), theo một nghĩa không chặt chẽ lắm về mặt không gian. Nói đến trí tuệ vũ trụ, tôi muốn ngụ ý về một ý thức phổ quát, không hiện thành hình hài, bao trùm - cái ý thức đã kết buộc và tổ chức sức mạnh được tạo ra bởi những suy nghĩ của cá nhân tất cả con người. Tôi sẽ dùng cái mô hình như vậy, một siêu ý thức con người xuất hiện từ việc gắn kết tất cả các trí tuệ cá nhân, như một khuôn khổ để giải thích chuyện làm thế nào mà một nghệ sĩ có thể đưa vào trong tác phẩm của mình những ý niệm còn chưa được các nhà vật lý khám phá ra và chắc chắn là chưa hề được công chúng rộng rãi biết đến.

Để khám phá điều này, việc quay lại cuốn tiểu thuyết Đất nước phẳng: Câu chuyện tình của nhiều chiều của E.A. Abbott sẽ là rất có ích. Như đã thấy ở Chương 14, khi khái niệm về chiều thứ tư bắt đầu lảng vảng đó đây vào cuối thế kỉ mười chín, Abbott đã làm cho nó có thể hiểu được bằng cách sáng tác một cuốn tiểu thuyết dựa trên phép loại suy. Đối với cư dân hai chiều của Đất nước phẳng, chiều thứ ba là một khái niệm lạ lùng và không thể hiểu được, tương tự như chiều thứ tư đối với độc giả ba chiều của ông. Cuốn tiểu thuyết của Abbott chỉ quan tâm đến các vectơ không gian của hình học mà không tính đến tọa độ thời gian. Nhưng phép loại suy của ông đã gợi ra ý trí tuệ vũ trụ có thể tồn tại như thế nào trong bốn chiều của continuum không-thời gian, và có thể bị con người ba chiều đã bỏ qua hay nhìn nhận sai đi.

Bằng loại suy và các mô hình là cách tốt nhất để chúng ta có thể quan niệm được một chiều cao hơn như vậy, trong đó có sự liên kết ý nghĩ giữa các cá nhân. Vì mục đích phỏng đoán, chúng ta hãy xen mình vào sự tồn tại tưởng tượng của một hình thái sống đã ra đời trước loài homo sapien chúng ta. Để loại suy, hình thái sống lý tưởng nhất sẽ là một dạng sống trong không gian chứ không phải trong thời gian. Một loài côn trùng sống bầy đàn như loài kiến có thể là một ví dụ như vậy, bởi vì trong khi các cá thể kiến chạy lăng xăng trong không gian ba chiều, thì rõ ràng là chúng có ít hay không có cảm nhận về thời gian. Giống như cư dân Đất nước phẳng của Abbott, chúng là một mô hình rất thuận tiện để chúng ta đi xuống thấp hơn một chiều nhằm hình dung ra được tốt hơn bản chất của trí tuệ vũ trụ, như nó được nhìn nhận từ ba vectơ hạn chế của chúng ta về không gian và ba trạng thái của thời gian.

Kiến không thể tự ý thức được, bởi vì nó không thể có được ý nghĩ về bản thân nào nếu như không có năng lực tồn tại trong thời gian. Một điều kiện tiên quyết chủ yếu của tự ý thức là phải có trí nhớ, một bộ máy thần kinh phức tạp đủ năng lực lưu giữ ý niệm về quá khứ, để có thể so sánh nó với hiện tại. Thực tế là loài kiến không sở hữu thuộc tính này - chúng không thể biết là chúng biết.

Không thể dạy được kiến chạy qua các mê cung phức tạp, bởi vì trí nhớ của chúng cực kì hạn chế. Những kì công đầy kinh ngạc của chúng về tính bền bỉ, cần cù, nhẫn nại là do một chương trình hành xử bẩm sinh đã được mã hóa từ trước trong hệ thần kinh của chúng. Chúng có năng lực rất hạn chế trong việc rút ra bài học từ lỗi lầm trong quá khứ, và trong hầu hết các trường hợp, kiến bị chi phối bởi bản năng, là thứ không cho phép có bất kì xê dịch nào trong phản xạ trước một kích thích nhất định từ môi trường bên ngoài. Bất kì một khiêu khích cụ thể nào đối với con kiến sẽ gây ra sự lặp lại trong mẫu hình phản ứng của nó. Các cá thể côn trùng đã không tài nào thoát khỏi gọng kìm độc tài, ác nghiệt của bản năng.

Thế nhưng bất chấp hạn chế nghiệt ngã ấy đối với mỗi cá thể kiến, một hiện tượng lạ lùng đã xuất hiện khi các con kiến tập hợp lại với nhau. Nếu mấy con kiến được bỏ vào trong một cái hộp đựng cát, chúng sẽ chạy lung tung không có mục đích rõ ràng, trừ việc thực hiện mỗi một hành động khá lạ lùng, mỗi khi chạm nhau, chúng lại rối rít xoa lên râu nhau. Nếu thêm nhiều kiến được cho vào trong hộp, thì cái hành động thân ái này lại tăng thêm, cả về cường độ lần tần suất. Cuối cùng, khi cái con số lạ lùng này đạt đến một mức tới hạn và một kiến chúa xuất hiện, thì cái đám đông li ti, rối loạn này đột nhiên trở thành một tổ chức sống duy nhất, có mục đích rõ ràng là cao hơn hẳn. Các con kiến ngừng việc làm quen rốt rít với nhau, chúng chia thành từng nhóm có các nhiệm vụ chuyên biệt, cùng nhắm chung đến mục tiêu xây dựng một cộng đồng hợp tác. Từ trên một đống những con côn trùng bò lung tung này, một cấu trúc phức tạp khổng lồ bắt đầu hình thành - ngôi nhà chung cao ngất, được biết đến với cái tên quen thuộc hơn, là tổ kiến.

Tất cả các tổ kiến đều là điều kì diệu, nhưng tổ của loài Atta ở Brazil mới là cả một thành Knossos[2] thực sự. Cấu trúc này ăn xuống đất sâu đến hơn sáu mét, có những kho chứa thức ăn, những đường hầm ngầm mang mục đích duy nhất là điều hòa nhiệt độ bên trong cả tổ kiến, có những lối đi phức tạp để các con kiến càng có thể nhanh chóng triển khai bảo vệ tổ. Tổ còn có những trang trại ngầm trồng nấm và cả một phòng hoàng gia trau chuốt kĩ càng dành cho kiến chúa.

Vào một thời điểm nào đó trong quá trình tổ kiến được miệt mài xây dựng, bản thân cái phức hợp này bắt đầu mang một cuộc đời riêng, thay thế cho cuộc đời của mỗi một cá thể kiến. Trong khi vòng đời trung bình của một con kiến có thể chỉ tính được bằng tháng, thì một số tổ kiến tồn tại tới mười lăm năm. Nếu có một người nào đó đá sạt một góc cái gò đất này, thì sẽ có thêm nhiều kiến được sinh ra trong các thế hệ tiếp theo để chuyên sửa chữa hư hại ấy, và số kiến sinh ra để trồng nấm, bảo vệ tổ hay khám phá xung quanh sẽ giảm đi.

Tuy nhiên dần dần, năng lực tự tái tạo, tự hàn gắn của tổ kiến đã giảm đi và đến những năm cuối đời, nó bắt đầu mục nát một cách bí hiểm. Những thế hệ kiến cuối cùng có vẻ chán chường, mệt mỏi, mất phương hướng. Chúng không còn thể hiện tính cần cù, cùng chung một ý chí - vốn là đặc điểm của những thế hệ trước ở giai đoạn phát triển của tổ kiến. Các đường hầm lở loác ra trong tình trạng duy tu bị bê trễ, cả phức hợp mục ruỗng và sụp lở dần trong tình cảnh già cỗi cuối cùng kết thúc bằng cái chết. Tuy nhiên, sự kiện này diễn ra mà không hề được từng cá thể kiến để ý thấy, bởi vì nếu để ý thấy được một “sự kiện” xảy ra theo thời gian, thì sinh vật phải có trí nhớ - tức là phải có một cơ sở để so sánh. Những con kiến, không hề biết được về sự tồn tại lâu dài của tổ kiến, chúng là bộ phận của một thực thể lớn hơn mà mục đích của nó dường như nhằm kết hợp chúng lại trong một tổ chức ở cấp độ cao hơn.

Nhưng cái gì đã là lực hướng dẫn ban đầu để tổ chức những con kiến lại thành một khối? Tổ kiến, do các cá thể côn trùng sống thành bầy đàn sáng tạo nên, dường như có một thứ “lực sống” điều phối nào đó đã thấm đẫm đống đất và là căn cốt thực sự của nó. Ở Chương 17, chúng ta đã thấy các nhà vật lý đã làm thế nào để đi đến niềm tin rằng trường lực phi vật thể là một thành tố của hiện thực còn cơ bản hơn cả những vật thể dạng hạt đang lơ lửng trong trường ấy. Và tương tự như vậy, hình như cũng tồn tại một thứ “tâm hồn” phi vật thể của tổ kiến, hướng dẫn hành vi của những con kiến ở dạng hạt tách rời nhau trong các giai đoạn phát triển tổ của chúng. Nhưng nếu vậy, thì “tâm hồn” ấy trú ngụ ở chỗ nào? Các con kiến rõ ràng là được tách biệt nhau bởi khoảng cách vật lý và vì thế, sẽ là rất mong manh nếu phỏng đoán rằng “lực-sống” của tổ kiến tồn tại trong những tế bào thần kinh dạng hạch rất hạn chế của mỗi con kiến. Các nhà duy vật khoa học sẽ nhanh chóng chỉ ra rằng tâm hồn chỉ là một thứ hoang đường, và thiết kế của tổ kiến đã được mã hóa trong ADN của mỗi cá thể kiến. Đây là câu trả lời chính xác về mặt khoa học, nhưng liệu nó đã đủ chưa, và thậm chí đã là câu trả lời đúng chưa? Liệu một tổ chức sống (tổ kiến) có cuộc đời dài mười lăm năm, tồn tại mà không hề có liên hệ vật lý nào giữa các bộ phận của nó (các con kiến cá thể), lại chỉ duy nhất là sản phẩm của sự tổng hợp protein thôi hay sao?

Dùng ví dụ này từ một thế giới của loài côn trùng, thiếu tọa độ thời gian - tức là thiếu trí nhớ - làm điểm xuất phát, chúng ta có thể ngoại suy vào nhân quyển, là nơi mà thực tại bao gồm cả không gian và thời gian, nhưng chỉ là những tọa độ tách biệt. Chúng ta, những con người, đã tiến hóa rất lâu sau khi có các loài côn trùng và có thể nhìn nhận được một chiều nữa ngoài ba vectơ của không gian. Chúng ta biết cái mà một con kiến không biết: sự tồn tại của mình trong thời gian. Tâm trí riêng biệt của mỗi cá nhân chúng ta có thể thoải mái lang thang xuôi ngược trên con đường thẳng thời gian bao gồm tất cả ba trạng thái tiến diễn của nó là quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế nhưng, chúng ta cũng sa vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan tương tự như trường hợp của một con kiến đơn lẻ. Do có những ý tưởng thiên tài của Einstein và Minkowski, chúng ta biết được rằng còn tồn tại một chiều nữa mà mình không biết được, bởi vì nó đang nằm một cách trêu ngươi ngay phía trên các năng lực nhận thức của chúng ta. Nếu như một cá thể kiến đã không biết về sự tồn tại của nó trong thời gian, mặc dù nó thuộc về một cộng đồng đã sống lâu hơn nhiều năm sau cái chết của nó, thì biết đâu có khi chúng ta cũng lại là bộ phận của một thực thể rộng lớn hơn nhiều, tồn tại trong continuum không-thời gian với một chương trình nghị sự mà chúng ta không nhận thức được. Bằng chứng về sự tồn tại của chiếc thứ ba đã được tìm thấy trong các công thức của nhà vật lý về loài nhện, cũng giống như nó đã được giải thích trong cuốn tiểu thuyết về Đất nước phẳng. Còn trong quá trình tiến hóa, khi tọa độ thời gian được bổ sung cho Các vectơ của không gian, thì trí tuệ ra đời. Cũng như vậy, không có gì báo trước cho khả năng có một cái gì đó sẽ tồn tại ở một chiều thứ tư cao hơn.

P.D. Cuspensky, nhà toán học và triết học Nga, trong tác phẩm Tertium Organum (Quy chuẩn tư tưởng thứ ba) (1911) đã miêu tả việc những thực thể giới hạn theo đường tròn tồn tại trong không gian hai chiều lại có thể là bộ phận của một thể thống nhất ở chiều thứ ba như thế nào. Từ mặt này của một tấm kính bị sương giá phủ mờ, hãy quan sát những vết đầu ngón tay của ai đó đã ấn lên phía bên kia. Một điều tra viên của thế giới hai chiều, đếm được năm vòng tròn, sẽ đi đến kết luận rằng mỗi một vòng vân tay ấy là một thực thể riêng biệt. Nhưng chúng ta, những người nhận thức được về chiều thứ ba là chiều sâu, thì hiểu rằng năm vết vân tay tách biệt ấy lại thuộc về một vật thể thống nhất trong cả ba chiều là bàn tay. Chúng ta còn biết thêm rằng bàn tay ba chiều ấy gắn liền với một thân thể đã sinh ra trí tuệ, khi thời gian được thêm vào với ba vectơ của không gian. Ngoại suy ra, đây chính xác là ví dụ minh họa làm sao mà những trí tuệ Cá nhân tách biệt của chúng ta, tồn tại trong những bộ máy nhận thức hạn chế của chúng ta, sử dụng có hai tọa độ là thời gian và không gian, lại cũng có thể trở thành bộ phận của một trí tuệ vũ trụ, một thực thể thống nhất trong cái chiều ở bậc cao hơn của continuum không-thời gian.

Vật lý cổ điển thế kỉ mười chín đã miêu tả một thế giới vật chất được ràng buộc bởi các tọa độ tách biệt, đối lập nhau của không gian và thời gian, bao gồm các kết hợp của năng lượng và vật chất. Giờ đây, bốn hòn đá tảng ấy lại được thuyết tương đối và cơ học lượng tử phát lộ ra rằng chúng thực ra đan bện với nhau không thể tách rời, tạo thành một thể thống nhất trong ma trận của continuum không-thời gian.

Cái hiện tượng duy nhất không thể xếp loại vào trong khuôn khổ cổ điển của Newton là trí tuệ. Ấy vậy mà chúng ta biết rằng nó có tồn tại, bởi mỗi người chúng ta đều biết rằng ở đâu đó một người nào đó đang đọc trang sách này. Bằng việc nhấn mạnh vai trò hệ quy chiếu tương đối của người quan sát, thuyết tương đối đã đưa vào vật lý quan điểm cho rằng trong phép đo, phải tính đến cả vị trí và vận tốc của trí tuệ đang thực hiện việc quan sát và đo đạc. Lí thuyết cơ lượng tử còn đi xa hơn, coi trí tuệ là một thành tố thực sự của các quá trình vật lý trong thế giới khách quan, qua việc công nhận bản chất tác động qua lại giữa người quan sát với cái được quan sát. Không gian/thời gian, khối lượng/năng lượng, không-thời gian/khối lượng-năng lượng, người quan sát/cái được quan sát, tất cả đều là các cặp đối ngẫu, tương hỗ và bổ sung cho nhau. Nếu nhà vật lý John Wheeler đúng, và trí tuệ và vũ trụ chỉ là một cặp đối ngẫu khác xuất hiện trong chiều kích này như hai thực thể tách biệt, thì rất có thể chúng lại được thống nhất trong continuum không-thời gian. Một thực thể thống nhất như vậy có thể sẽ mang cái tên thích hợp nhất là trí tuệ vũ trụ. Và zeitgeist có thể là một biểu hiện trong không gian và thời gian của trí tuệ vũ trụcontinuum không-thời gian, qua các tọa độ hạn hẹp một cách nhân tạo này.

Trong thế giới có thời gian và không gian bị chia cắt của chúng ta, những manh mối duy nhất gợi nên sự tồn tại của cơ chế ấy chính là những sự kiện xảy ra không thể giải thích nổi bằng các quy luật nhân quả. Một trong những manh mối như vậy là cách thức mà các hình ảnh do nghệ sĩ sáng tác đã làm ta bối rối: chúng dường như luôn tiên báo những khám phá mới về thực tại. Nếu như trực giác của người nghệ sĩ là những điềm báo đầu tiên về sự vận động của một thực thể lớn hơn gọi là trí tuệ vũ trụ, thì có thể xem chính bản thân các nghệ sĩ đã thực hiện cái chức năng đặc biệt, vô song của người quan sát, để qua họ zeitgeist xuất hiện. Các nghệ sĩ lớn, những người có khả năng nhận biết cái mà tất cả chúng ta còn chưa nhìn ra, đã hấp thu và thể hiện qua tác phẩm nghệ thuật của mình những nguyên lý phát ra từ cái tinh thần của toàn thế giới (spiritus mundi) ấy. Cũng không sao, nếu các nhà phê bình nghệ thuật hay thậm chí chính bản thân người nghệ sĩ cũng không hề biết đến cái mục đích khác thường đó: nếu tác phẩm của người nghệ sĩ thực đúng là sự hiện hình của zeitgeist, nó sẽ chỉ được nhận rõ ra mãi về sau này, khi xã hội đã trưởng thành hơn, và các thành viên của xã hội đạt đến được cái tầm nhìn mà các nghệ sĩ có viễn kiến xuất chúng đã chiếm lĩnh từ nhiều thập kỉ trước đó. Như Teilhard de Chardin đã viết:

“Nói tóm lại, nghệ thuật đại diện cho miền đất mà năng lượng đang phát triển của con người có thể tiến đến xa nhất, miền đất mà ở đó các chân lý phôi thai bắt đầu ngưng kết lại, hiện lên thành hình hài đầu tiên và trở nên sống động, trước khi được định nghĩa rõ rằng bằng công thức và được hiểu biết.

Đó là chức năng và vai trò hữu hiệu của nghệ thuật, trong hệ thống kinh tế chung của tiến hóa”.

Nghệ thuật là sứ giả tiền trạm lạ lùng của trí tuệ vũ trụ.

Qua mọi giai đoạn của lịch sử, nhận thức về không gian và thời gian luôn gây nên một ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa. Nhưng cuối cùng, chính nguồn gốc khởi thủy của các nhận thức này lại tạo ra sự phân lập giữa nghệ thuật và vật lí. Giờ đây, người ta đã có thể thực hiện được việc khảo sát vào trong những nguồn gốc này. Trong hệ thống thần kinh, đơn vị nhỏ nhất là các nơron, tế bào thần kinh. Khi nhiều nơron tập hợp lại thành một thực thể phát triển như bộ não của động vật có vú, thì các điều kiện đã hội đủ để ý nghĩ đầu tiên có thể hình thành. Và các bộ não của những loài có vú trở nên ngày càng tinh xảo, phức tạp, cho đến lúc có một số lượng tới hạn các ý nghĩ đã tích tụ trong bộ não của loài homo sapien, và từ đó bật lên trí tuệ tự ngẫm, tuyệt vời của con người. (Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng nhiều loài có vú khác, như cá heo, cá mập hoặc linh trưởng không đuôi bậc cao cũng có thể có năng lực tự ngẫm). Quan sát tiến trình không thể đảo ngược này, thì chúng ta thấy rõ rằng bước tiếp theo trên nấc thang tiến hóa dường như rõ ràng phải là sự tích hợp những trí tuệ riêng lẻ để tạo thành một bộ não khổng lồ, bao trùm, ở bên ngoài tất cả, đủ khả năng phát sinh ra một trí tuệ vũ trụ. Nói về một trí tuệ mà không nhắc đến một bộ não cụ thể nào đó thì có vẻ khó, nên cũng cần thực hiện một phép loại suy có gốc rễ từ kinh nghiệm thực tế để hình dung ra được trí tuệ vũ trụ sẽ như thế nào.

Bộ não người bao gồm một số lượng lớn các nơron riêng lẻ. Những nơron này tập hợp thành các nhóm đảm đương những chức năng chuyên biệt khác nhau. Mỗi vùng và mỗi đường dẫn cụ thể của não đều chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ nhất định. Ví dụ, miền Broca chịu trách nhiệm về ngôn ngữ, phần vỏ não khu thị giác thì xử lý các xung thần kinh truyền từ hai võng mạc lên. Dường như trí tuệ hình thành từ việc tổng hợp toàn bộ thông tin thu gom được từ các module nhận thức được tổ chức một cách tách biệt ra như vậy.

Khi chồng hình mẫu một bộ não Cá nhân đã phát sinh ra trí tuệ của một cá nhân lên bộ não vũ trụ giả thuyết, thì mỗi một thành viên của toàn bộ loài người chúng ta có thể được xem như đóng vai trò của một nơron cùng xây đắp nên bộ não lớn, giống như các con kiến cùng xây nên tổ kiến vậy. Vì mỗi một nơron là một thế giới tách biệt đối với chính nó, nên mỗi một con người cũng như thế, và khoảng cách vật lý giữa mỗi người chúng ta với nhau cũng giống như các khớp thần kinh ở trong một bộ não khổng lồ. Trong cái mô hình được phóng đại này, mỗi một nhóm người có chuyên môn riêng trong xã hội sẽ thực hiện các chức năng riêng, giống như các tập hợp tế bào thần kinh trong bộ não của một cá thể con người.

Các đặc tính phân vùng của bộ não là cái nền để dệt nên những lý thuyết này. Các tao sợi lý lẽ biện luận mà tôi trình bày ở đây được làm căng bởi con thoi dệt chạy tới chạy lui, nối những đường sợi ngang sợi dọc của trái và phải, không gian và thời gian, nghệ thuật và vật lí. Mẫu hình hoa văn hiện lên trên mặt vải sẽ khẳng định thêm những mối liên hệ giữa trí tuệ vũ trụ và đa tạp bốn chiều, cũng như soi sáng thêm sự tương đồng kì lạ giữa người nghệ sĩ và nhà vật lí.

Chú thích

  1. Để trả đũa việc Teilhard de Chardin thất bại trong việc gắn sự sùng đạo với cái ý thức toàn cầu của ông, Nhà thờ Công giáo đã xếp tất cả các tác phẩm của ông vào danh sách cấm đọc của Nhà thờ trong suốt thời gian ông còn sống.
  2. Knossos (hay Cnossus): Thành phố cổ ở trung tâm đảo Crete, di chỉ khảo cổ học nổi tiếng về nền văn minh thời đại đồ đồng của Hi Lạp. - ND

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!