Tóm tắt niên biểu Fukuzawa Yukichi

Tóm tắt niên biểu Fukuzawa Yukichi

(số trong ngoặc là tuổi của Fukuzawa Yukichi)

Năm 1835 (1) Sinh tại khu nhà đại diện của lãnh địa Nakatsu ở Ōsaka.

Năm 1836 (2) Cha mất, F. Yukichi và anh chị em cùng mẹ chuyển vể quê Nakatsu.

Năm 1847 (13) Bắt tay vào học Hán học.

Năm 1854 (20) Lên đường đi Nagasaki học Hà Lan học theo lời khuyên của anh trai.

Năm 1855 (21) Định rời Nagasaki lên Edo, nhưng gặp anh trai ở Ōsaka và bị giữ lại. Tháng 3 năm đó vào học trường Tekijuku của Ogata Kōan.

Năm 1856 (22) Lên làm chủ gia đình thay cho người anh trai mất vì bệnh.

Năm 1857 (23) Lên làm thục trưởng của trường Tekijuku.

Năm 1858 (24) Chuyển lên Edo theo lệnh của lãnh chúa vùng Nakatsu. Tháng 10 mở trường tư thục nhỏ về Hà Lan học, tiền thân của trường Keiō-gijuku Daigaku.

Năm 1859 (25) Chuyển sang học tiếng Anh sau chuyến đi Yokohama và biết tiếng Hà Lan không còn giúp ích.

Năm 1860 (26) Xin đi Mỹ theo đoàn sứ tiết của Mạc phủ Edo trên tàu Kanrin-maru.

Năm 1861 (27) Kết hôn cùng con gái thứ hai của ông Doki Tarōhachi, võ sĩ cùng lãnh địa. Tháng 12/1861 Được Mạc phủ phái đi theo đoàn sứ tiết sang châu Âu.

Năm 1864 (30) Trở thành Mạc thần, làm việc ở Bộ phận chuyên trách về ngoại giao. Bắt tay viết cuốn Seiyō jijō (Tây-dương-sự-tình).

Năm 1867 (33) Ngày 23 tháng 1 cùng quân hạm của Mạc phủ sang Mỹ nhận tàu và mua về Nhật một số lượng lớn sách nguyên bản. Tháng 12 mua nhà ở Shinsenza.

Năm 1868 (34) Tháng 4 chuyển đến Shinsenza, lấy niên hiệu Keiō đặt tên cho trường tư thục thành Keiō-gijuku (Khánh-Ứng nghĩa-thục). Tháng 6, được chính phủ mới vời vào làm việc, nhưng kiên quyết từ chối.

Năm 1869 (35) Từ chối khoản chu cấp của lãnh địa Nakastu sau khi tuyên bố bỏ tất cả chức tước và địa vị được Mạc phủ ban trước đây.

Năm 1871 (37) Chuyển trường Keiō-gijuku từ Shinsenza đến Mita.

Năm 1872 (38) Đưa cả gia đình lên Tōkyō. Chấp bút viết cuốn Gakumon no susume (Khuyến học) và hoàn thành chương cuối vào năm 1876.

Năm 1873 (39) Lập Khoa y của trường Keiō-gijuku và Phân hiệu của trường tại Ōsaka. Tháng 6 phát hành cuốn Chōai-no Hō.

Năm 1874 (40) Lập Trường tiểu học và Phân hiệu tại Kyōtō. Tháng 2 phát hành tạp chí tư nhân. Tháng 5 bà mẹ Ojun mất.

Năm 1875 (41) Đóng cửa toà soạn tạp chí tư nhân. Xuất bản cuốn Bunmeiron no Gairyaku (Khái lược luận thuyết văn minh).

Năm 1876 (42) Phát hành tạp chí Katei Sōdan (Gia-đình tùng-đàm), sau đó chuyển tên thành Minkan zasshi (Dân-gian tạp-chí) và đổi sang phát hành báo hàng ngày.

Năm 1878 (44) Được bầu là đại biểu nghị viện của Tōkyō.

Năm 1879 (45) Viện hàn lâm Tōkyō thành lập và được chọn là Viện trưởng đầu tiên. Tháng 5 được chọn là Nghị phó của Tōkyō, nhưng từ chối không nhậm chức. Tháng 7 cho ra bản thảo Kokkai-ron (Quốc hội-luận).

Năm 1882 (49) Ngày 1 tháng 3 phát hành báo Jiji shimpō.

Năm 1883 (50) Phát hành cuốn Gakumon no Dokuritsu (Sự độc lập của học thuật).

Năm 1885 (52) Phát hành Nihon fujin ron (Luận về phụ nữ Nhật Bản).

Năm 1890 (56) Thành lập hệ đại học trong trường Keiō-gujuku gồm 3 ngành: Ngành luật, Ngành tự nhiên, Ngành xã hội.

Năm 1897 (63) Ấn hành Fukuzawa Zenshū Shogen (Tuyển tập Fukuzawa Yukichi) và Fukuō hyakuwa (Phúc ông bạch thoại).

Năm 1898 (64) Ngày 11 tháng 5 hoàn thành bản thảo cuốn Fukuō jiden (Phúc ông tự truyện). Xuất bản Fukuzawa Zenshū (Fukuzawa Yukichi toàn tập). Ngày 26 tháng 9 bị xuất huyết não.

Năm 1900 (66) Được Thiên hoàng ban thưởng 5 vạn yên vì những cống hiến trong giáo dục, dịch thuật, trước tác và lập tức góp vào quỹ trường Keiō-gijuku Daigaku.

Năm 1901 (67) Ngày 25 tháng 1, bệnh xuất huyết não tái phát và mất vào 8h50 đêm ngày 3 tháng 2. Lễ truy điệu được tiến hành vào ngày mùng 8 sau đó và an táng tại mộ địa chùa Hongan-ji làng Osaki-mura, với pháp danh sau khi mất là Daikan'in Dokuritsu Jison Koji (Đại-Quán-viện Độc-lập Tự-tôn Cư-sĩ). Hiện được cải táng tại chùa Zempukuji, núi Azabusan, Tōkyō.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha

Có thể bạn muốn xem