Tính chất bổ sung của môn lịch sử và địa lý

2. Tính chất bổ sung của môn lịch sử và địa lý

Lịch sử và địa lý - kể cả môn học về tự nhiên, vì những lý do sẽ được đề cập sau đây - là các môn học cung cấp thông tin nhất hạng của nhà trường. Xem xét vật liệu và phương pháp sử dụng vật liệu [của môn lịch sử và địa lý] giúp chúng ta hiểu rõ rằng, sự khác biệt giữa việc đưa thông tin vào bên trong kinh nghiệm sống và đơn thuần tích lũy kiến thức xếp các thông tin thành những đống biệt lập, phụ thuộc vào việc hai môn học này có duy trì được hay không sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và tự nhiên mà nhờ đó hai môn học này mới có được lý do biện minh. Tuy nhiên, không môn học nào gặp phải nguy cơ lớn hơn so với môn lịch sử và môn địa lý ở điều sau đây: nội dung được chấp nhận như là chất liệu giáo dục phù hợp đơn giản chỉ bởi vì việc dạy và học nội dung ấy đã trở thành tập quán. Ý tưởng về một lý do triết học của điều này, bởi chức năng của vật liệu trong quá trình biến đổi giá trị của kinh nghiệm, bị coi là điều tưởng tượng hão huyền, hoặc bị coi là việc diễn đạt khoa trương rỗng tuếch để chứng minh cho cái điều vẫn được làm từ bao lâu nay. Các từ “lịch sử” và “địa lý” chỉ đơn giản ám chỉ nội dung đã được thừa nhận tại các nhà trường từ bao đời nay. Khối lượng và tính đa dạng của nội dung đó đã khiến người ta nản lòng khi định tìm hiểu xem nó thực sự đại diện cho cái gì, và có thể dạy nó như thế nào để thực hiện được sứ mệnh của nó trong kinh nghiệm của học sinh. Nhưng trừ phi quan niệm cho rằng giáo dục mang trong nó sự điều khiển và hợp nhất hóa xã hội bị coi như là một sự tự phụ lố bịch, thì những môn học chiếm vị trí quan trọng trong chương trình dạy như lịch sử và địa lý phải giữ một chức năng chung trong sự phát triển của một kinh nghiệm thực sự biến thành tri thức phù hợp với xã hội. Việc phát hiện ra chức năng này phải được sử dụng làm tiêu chuẩn để thử nghiệm và sàng lọc những sự kiện được dạy và phương pháp được áp dụng.

Chúng ta vừa phát biểu về chức năng thuộc về nội dung của môn lịch sử và địa lý; chức năng đó là làm phong phú và rộng rãi các mối giao tiếp của đời sống mang tính trực tiếp và cá nhân hơn, bằng cách trang bị cho chúng bối cảnh, thông tin và cách nhìn. Tuy môn địa lý nhấn mạnh khía cạnh thuộc tự nhiên còn môn lịch sử thì nhấn mạnh khía cạnh xã hội, nhưng đó đều chỉ là những sự nhấn mạnh về một đề tài chung, ấy là đời sống liên kết của con người. Bởi đời sống liên kết này, với những thử nghiệm, những phương pháp và biện pháp, những thành tựu và thất bại của nó, không tồn tại ở một nơi hão huyền hoặc ở một nơi cách biệt. Nó xảy ra trên Trái đất này. Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và hoạt động xã hội hoàn toàn không giống như mối quan hệ giữa sân khấu của một buổi biểu diễn và sự trình diễn một vở kịch; môi trường tự nhiên tham gia vào ngay chính cấu trúc của các sự kiện xã hội làm thành lịch sử. Tự nhiên là môi trường của các sự kiện xã hội. Nó cung cấp những kích thích đầu tiên; nó tạo ra những trở ngại và những nguồn lực. Nền văn minh là sự làm chủ dần dần những năng lượng đa dạng của Tự nhiên. Khi mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nói trên giữa việc học môn lịch sử, xét như môn học nhấn mạnh tới con người, và việc học môn địa lý, xét như là môn học nhấn mạnh tới Tự nhiên, bị cố tình bỏ qua, khi ấy môn lịch sử sẽ chỉ còn là sự liệt kê những ngày tháng đi kèm với sự kiểm kê các sự kiện được gắn với những ngày tháng ấy, và sự kiện được đóng cái nhãn “quan trọng”; hoặc môn lịch sử sẽ trở thành một sự tưởng tượng có tính văn học - bởi trong môn lịch sử mang tính chất văn học thuần túy, môi trường tự nhiên chỉ là khung cảnh giả tạo.

Dĩ nhiên, ảnh hưởng giáo dục của môn địa lý nằm ở mối liên hệ đối ứng giữa các sự kiện tự nhiên và các sự kiện xã hội cùng những hệ quả của mối liên hệ đó. Định nghĩa kinh điển về môn địa lý xét như là một sự mô tả về Trái đất như là nơi sinh sống của con người, cho thấy rõ cái tồn tại thực tế mang tính giáo dục. Nhưng đưa ra định nghĩa đó thì dễ, điều khó khăn hơn là phải dạy nội dung đặc trưng của môn địa lý trong các mối liên hệ với sự sống của con người. Nơi ở, những theo đuổi, những thành công và thất bại của con người mới là những điều làm thành lý do để các dữ kiện địa lý được đưa vào trong vật liệu của dạy học. Nhưng để duy trì mối gắn kết giữa các dữ kiện địa lý và vật liệu dạy, đòi hỏi phải có một trí tưởng tượng có hiểu biết và được vun bồi. Khi mối liên kết đó bị phá vỡ, địa lý trở thành như một món hổ lốn gồm những mảnh không liên quan với nhau, điều mà chúng ta đã chứng kiến quá thường xuyên. Nó giống như một cái túi đựng những mẩu vụn lặt vặt của của kiến thức: chỗ này là độ cao của một quả núi, chỗ kia là dòng chảy của một con sông, số lượng ván lợp bằng gỗ được sản xuất tại một thị trấn, khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng tàu thuyền của một quốc gia, đường biên giới của một hạt, thủ đô của một nhà nước.

Trái đất xét như là ngôi nhà của con người thì gần gũi với con người và đoàn kết con người lại với nhau; Trái đất được xem như một mớ hỗn độn các sự kiện thì làm phân tán và trì trệ trí tưởng tượng. Địa lý là một đề tài trước tiên đòi hỏi trí tưởng tượng - thậm chí trí tưởng tượng lãng mạn. Nó đóng góp điều kỳ diệu và vẻ đẹp huy hoàng của phiêu lưu, du lịch, và thám hiểm. Các dân tộc và môi trường muôn màu muôn vẻ, sự tương phản giữa chúng và những cảnh vật quen thuộc, cung cấp sự kích thích không bao giờ cạn. Trí óc được thoát ra khỏi tính đơn điệu của cái tập quán. Và nếu như địa lý địa phương hoặc địa lý quốc gia là điểm xuất phát tự nhiên của quá trình phát triển có tính tái kiến tạo của môi trường tự nhiên, thì nó còn là điểm xuất phát của trí tuệ để bước vào cái chưa biết, chứ không phải là một mục đích tự nó. Nếu việc học môn địa lý quốc gia không được coi là một cơ sở để hiểu được thế giới rộng lớn vượt ra ngoài quốc gia, khi ấy việc học trở thành giống hệt công việc của bài học đồ vật trực quan, nghĩa là chỉ đơn thuần tóm tắt những thuộc tính của đồ vật quen thuộc. Lý do là như nhau. Trí tưởng tượng không được nuôi dưỡng, nó bị buộc phải làm công việc tóm tắt, phân loại, và trau chuốt điều đã biết. Nhưng nếu những chiếc hàng rào thân thuộc đánh dấu ranh giới của các ngôi nhà trong làng lại là dấu hiệu giúp cho việc nhận ra những biên giới của các dân tộc vĩ đại, khi ấy ngay cả chiếc hàng rào cũng được soi sáng ý nghĩa. Nắng mặt trời, không khí, nước máy, sự khác nhau của bề mặt trái đất, các nghề nghiệp, viên chức chính phủ và bổn phận của họ - tất cả những điều đó được tìm thấy trong môi trường cục bộ. Nếu được đối xử như thể ý nghĩa của chúng khởi đầu và kết thúc bên trong những ranh giới nói trên, khi ấy chúng trở thành các sự kiện xa lạ mà học sinh phải vất vả để học chúng. Xét như là phương tiện để mở rộng giới hạn của kinh nghiệm, làm cho kinh nghiệm tiếp nhận thêm những dân tộc và sự vật mà nếu khác đi chúng là xa lạ và không được biết tới, khi ấy các sự kiện trên sẽ bị biến đổi bởi mục đích sử dụng của chúng. Nắng mặt trời, gió, dòng suối, thương mại, các mối bang giao chính trị xuất hiện tại một thời điểm ở xa và chúng dẫn dắt các suy tưởng đi xa. Nhận ra được tiến trình của chúng tức là phải mở rộng trí óc nhưng không phải bằng cách nhồi thêm thông tin, mà phải bằng cách tái tạo lại ý nghĩa của cái trước đó từng là điều đương nhiên.

Nguyên tắc nói trên còn sắp xếp các nhánh, tức các thời kỳ [phát triển], của nghiên cứu địa lý bởi chúng có khuynh hướng trở thành chuyên môn hóa và tồn tại tách biệt. Địa lý toán hoặc địa lý thiên văn học, địa lý văn học, địa lý địa hình, địa lý chính trị, địa lý thương mại, thảy đều đưa ra những khẳng định riêng, vậy những khẳng định của chúng được dung hòa bằng cách nào? Bằng một sự thỏa hiệp bề ngoài trong hầu hết mỗi nhánh đó ư? Không có bất kỳ phương pháp nào khác trừ phi thường xuyên ghi nhớ rằng trọng tâm giáo dục nằm ở khía cạnh văn hóa hoặc nhân văn của môn học. Xét từ trọng tâm này, mọi vật liệu đều trở nên phù hợp chừng nào buộc phải dùng đến nó để giúp cho việc hiểu rõ ý nghĩa của hoạt động và mối quan hệ của con người. Những khác biệt về văn hóa giữa vùng hàn đới và vùng nhiệt đới, những phát minh riêng biệt của các dân tộc tại các vùng ôn đới, phát minh công nghiệp và chính trị, đều không thể hiểu được mà không cầu viện đến Trái đất xét như là một thành viên của hệ mặt trời. Các hoạt động của nền kinh tế một mặt gây ảnh hưởng sâu sắc tới mối giao tiếp xã hội và hệ thống tổ chức chính trị, và mặt khác chúng phản ánh những điều kiện vật chất. Sự chuyên môn hóa của các đề tài này là dành cho các chuyên gia; mối quan hệ tương giao giữa chúng mới liên quan đến con người xét như một sinh vật mang kinh nghiệm xã hội.

Chắc chắn, việc đưa môn học Tự nhiên vào trong môn địa lý có vẻ như là gượng ép; xét trên lời nói thì đúng như vậy. Nhưng theo quan niệm của giáo dục, chỉ có một điều tồn tại thực tế duy nhất, và thật đáng tiếc là trong thực tiễn chúng ta lại có hai cách gọi tên cho thực tế ấy: bởi nhiều cách gọi tên khác nhau sẽ dễ che lấp sự đồng nhất về nghĩa. Tự nhiên và Trái đất hẳn là các từ ngữ tương đương, và cũng như vậy, môn học Trái đất và môn học Tự nhiên là những từ ngữ tương đương. Ai cũng biết, môn học Tự nhiên tại nhà trường đã phải chịu đựng sự chắp vá về nội dung bởi vì nó phải giải quyết một số lượng lớn những chi tiết biệt lập. Chẳng hạn, các bộ phận của bông hoa được học mà tách rời khỏi bông hoa xét như một cơ quan của cái cây; bông hoa tách rời khỏi cái cây; cây tách rời khỏi đất, không khí và ánh sáng mà ở đó dựa vào cái cây mới sống được. Hậu quả là, một sự nhàm chán khó tránh khỏi của các đề tài, học sinh được yêu cầu phải tập trung sự chú ý, song những đề tài đó lại quá ư biệt lập cho nên chúng không nuôi dưỡng trí tưởng tượng. Sự thiếu hấp dẫn là nghiêm trọng tới mức người ta đã nghiêm túc đề nghị khôi phục lại thuyết vật linh, người ta đề nghị bọc các sự việc và sự kiện tự nhiên trong những huyền thoại để chúng lôi cuốn và duy trì sự chú ý. Trong vô số trường hợp, người ta đã cầu viện đến sự nhân cách hóa hầu như ngớ ngẩn. Tuy phương pháp này là ngớ ngẩn, nhưng nó cho thấy rõ một đòi hỏi có thực về một bầu không khí gần gũi với con người. Các sự kiện đã được tách ra thành các mẩu nhỏ vì chúng bị đưa ra khỏi ngữ cảnh. Chúng không còn thuộc về Trái đất này nữa; chúng chẳng có một nơi ở nào khác ở bất cứ nơi đâu. Để đền bù, người ta đã phải dựa vào những mối liên kết tình cảm giả tạo. Phương thuốc thực sự là, phải làm cho môn học Tự nhiên trở thành một môn học của tự nhiên chứ không phải môn học của những mảnh vụn bị biến thành vô nghĩa bởi chúng bị di chuyển hoàn toàn ra khỏi các tình huống ở đó chúng sinh ra và chúng hoạt động. Khi Tự nhiên được đối xử như một cái toàn bộ, hệt như Trái đất trong các mối quan hệ của nó, khi ấy các hiện tượng Tự nhiên thuộc về các mối quan hệ đồng cảm và liên kết giữa Tự nhiên và đời sống con người, và khi ấy sẽ không cần dùng đến những thay thế giả tạo.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org