Tính cách người Hà Nội trong quá khứ

TÍNH CÁCH NGƯỜI HÀ NỘI TRONG QUÁ KHỨ

3.1. Giai đoạn văn hoá Nho giáo chiếm ưu thế

Gọi đây là một giai đoạn chỉ là một ước lệ, vì nó thực sự bắt đầu từ thời Lê (Hậu Lê). Trước đó, ở giai đoạn tk. XI-XV, Thăng Long có văn hoá truyền thống là chủ đạo.

Từ năm 1831, với cải cách hành chính của Minh Mệnh, Hà Nội chỉ còn là trung tâm của tỉnh Hà Nội. Tuy vậy, nhờ địa thế mở và truyền thống là kinh đô trong hơn 7 thế kỷ, Hà Nội vẫn là một đô thị quan trọng về mọi mặt.

Trong cấu trúc tính cách người Hà Nội giai đoạn này xét theo chủ thể thì tầng lớp Nho sĩ tuy số lượng ít song do địa vị mà đóng vai trò giai tầng tâm. Do kinh đô không còn ở đây nên tầng lớp Nho sĩ gần gũi với dân hơn, và do vậy tính cách của giai tầng càng mang tính đại diện cho tính cách Hà Nội. Nói cách khác, tính đại diện của giai tầng này không phải do số lượng mà là do địa vị mà cộng đồng xã hội thừa nhận.

Các đặc trưng điển hình nhất là:

1) Trọng học vấn

2) Trọng nhân cách

3) Trọng bản lĩnh, khí tiết

4) Trọng tài hoa

5) Trọng tình cảm, đa tình.

Ba đặc trưng đầu làm nên cái mà ta quen gọi là kẻ sĩ (hay sĩ phu) Bắc Hà. Tuy Bắc Hà là khái niệm chỉ chung cho cả vùng Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra), nhưng kẻ sĩ Bắc Hà điển hình đều tập trung tại Thăng Long - Hà Nội. Vì vậy “kẻ sĩ Bắc Hà” và “Nho sĩ trí thức Hà Nội” trở nên đồng nhất với nhau.

Hai đặc trưng cuối (tài hoa + đa tình) làm nên nhà Nho tài tử như một hiện tượng đặc thù của văn hoá Việt Nam và được khảo sát khá kỹ trong các công trình của Trần Đình Hượu [1998] và Trần Ngọc Vương [2000]. Nó là sản phẩm sự kết hợp giữa sự chuẩn mực của nhà Nho chính thống với sự linh hoạt của văn hoá truyền thống nông nghiệp.

Tính cách kẻ sĩ

3.2. Giai đoạn văn hoá tiểu tư sản chiếm ưu thế (nửa đầu tk. XX)

Từ Hiệp ước 1884, rồi Chỉ dụ của vua Đồng Khánh (1888), Hà Nội chuyển thành thành phố thuộc địa của Pháp, rồi trở thành thủ phủ của Liên bang Đông Dương do Pháp quản lý. Từ cuối 1946 Kháng chiến chống Pháp nổ ra, Hà Nội tiếp tục thuộc vùng tạm chiếm do Pháp kiểm soát đến đầu 1954.

Cấu trúc tính cách người Hà Nội giai đoạn này có sự biến đổi mạnh. Xét theo thành phần tộc người của chủ thể thì bên cạnh người Việt, có bộ phận người Pháp (quan chức, binh lính, doanh nhân) giữ địa vị cao trong xã hội. Xét theo không gian thì ngoài bộ phận dân Hà Nội gốc, có bộ phận từ Pháp sang, bộ phận nông dân và thợ thủ công từ các tỉnh quanh Hà Nội được tiếp nhận vào làm trong các cơ sở kinh tế. Trong cộng đồng người Việt nhanh chóng hình thành một tầng lớp tiểu tư sản với số lượng ngày một đông đảo, dần dần trở thành giai tầng trung tâm.

Cho đến những năm 30, tính cách người Hà Nội giai đoạn này đã được hình thành khá rõ nét với 4 thành tố chính: Tính cách tiểu tư sản thành thị, Tính cách Nho giáo, Tính cách truyền thống văn hoá nông nghiệp và Sự phối hợp giữa các thành tố trên với nhau và với tính cách giai đoạn trước. Tám đặc điểm - cả tốt lẫn xấu - mà Hoàng Hưng [2010] nêu ra từ quan sát gia tộc mình hay những đặc điểm của “một người Hà Nội” qua ngòi bút Nguyễn Khải [1995], cũng như nhiều ý kiến qua các bài báo, diễn đàn, v.v. [Lê Phú Khải 2010; Lê Xuân Mậu 2010; Mai Khánh 2006; Nguyễn Trương Quý 2003; Đức Uy 2010; Phương Tân 2007; Thường Trung 2009; Toquoc 2010; VTC News 2010; VTC News 2010,...] phần lớn đều thuộc giai đoạn này và nằm trong 4 thành tố này:

a) Tính cách tiểu tư sản thành thị:

1) Ý thức cá nhân: Ý thức mạnh mẽ về lợi ích, quyền tư hữu, quyền tự do không để người khác xâm phạm. Tính toán sòng phẳng, rạch ròi.

2) Lãng mạn và mơ mộng; biết hưởng thụ cuộc sống một cách hào hoa, thanh nhã: Hình ảnh tóc thề thả bay theo gió, hay hoài niệm, thích gặm nhấm nỗi cô đơn. Hình ảnh phụ nữ ra đường mặc áo dài tân thời cầm ô; đàn ông mặc âu phục cà vạt lịch lãm, đầu đội mũ catket trắng, chân đi giày tây. Ăn bơ sữa, bàn ăn phủ khăn trắng, chỗ ngồi trong bàn ăn là cố định. Tổ chức định kỳ bữa ăn gia đình để mời bạn bè.

3) Tính ích kỷ: Coi trọng các quyền lợi, tài sản của mình tới mức e ngại đủ điều. Khó hy sinh vì sự nghiệp, lý tưởng, thậm chí cả những thú vui bản năng (“vợ cái con cột” bao giờ cũng được đặt trên “vợ lẽ con thêm”).

4) Tính khép kín: Không muốn bị làm phiền. Không muốn ai nhòm ngó vào chuyện riêng tư của mình và gia đình mình. Cũng không xâm phạm lợi ích của người khác. Trong quan hệ thì có đi có lại, không hào phóng (như người Nam Bộ).

Bốn đặc trưng trên chịu ảnh hưởng rõ rệt của văn hoá phương Tây. Gia đình cô Hiền trong “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải có đầy đủ các đặc trưng này.

b) Tính cách Nho giáo:

5) Coi trọng gia đình: Coi trọng chữ Hiếu và các bổn phận với gia đình - một kiểu gia đình yên ổn, nền nếp, có trên có dưới, có tình có nghĩa. Đặc trưng này vừa là sản phẩm của truyền thống Nho giáo, vừa mang tính đặc thù đô thị, vì ở nông thôn tính cộng đồng làng xã vượt trội hẳn cộng đồng gia đình.

6) Coi trọng giáo dục nhân cách: Ở trường, việc dạy đạo đức theo sách “Luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu” được đưa lên hàng đầu. Học trò không bao giờ nói bậy, một em bé cũng biết lễ nghĩa, tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới, nói năng luôn thưa gửi. Ở nhà ông bà cha mẹ rèn dũa kỹ lưỡng từng ly từng tý: các cụ dạy từ việc nhíu lông mày sao cho đúng cách, cho đến bước chân đi sao cho tôn dáng người...

7) Giữ nghiêm nền nếp: Tôn trọng từ nền nếp gia phong đến các luật lệ, quy ước xã hội. Con gái ra đường phải đi cùng anh, chị, bố, mẹ, ăn mặc thì phải “kín cổng cao tường”.

8) Coi trọng thứ bậc: Người cha luôn giữ khoảng cách, không gần gụi, hầu như không chuyện trò tâm sự với con cái [Hoàng Hưng 2010]. Điều này khiến tính cách người Hà Nội thời xưa gần với gia đình Trung Hoa, Hàn Quốc; nhưng trong khi người cha Trung Hoa, Hàn Quốc vừa thứ bậc vừa quyền uy với con cái thì người cha Hà Nội chỉ thể hiện thứ bậc một cách hiền lành mà vắng chất quyền uy khô khan. Do vậy về mặt này gia đình Hà Nội xưa là trung gian giữa gia đình nông thôn Việt Nam truyền thống với gia đình Trung Hoa, Hàn Quốc.

c) Tính cách truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước

9) Coi trọng uy quyền và vai trò “nội tướng” của bà chính thất [Hoàng Hưng 2010]: Cô Hiền trong “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải trách cháu: “Mày bắt nạt vợ mày quá, không để nó tự quyết định bất cứ việc gì, vậy là hỏng. Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chẳng ra sao”. Trong khi ở đặc trưng số (8), người đàn ông Nho giáo Hà Nội tiếp thu một phần cách ứng xử của người cha Nho giáo Đông Bắc Á thì đặc trưng số (9) này trở thành một đối trọng làm mềm hóa đặc trưng số (8), nó cho thấy gia đình Hà Nội vẫn duy trì được một cách dai dẳng truyền thống trọng nữ của văn hoá nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á.

10) Ưa hài hòa, thích sự vừa phải: Hài hòa, vừa phải từ cách cười chúm chím; cách đi đứng khoan thai không quá nhanh, không quá chậm. Giúp đỡ người khác nhưng không quá nhiệt tình. Quan hệ xã hội giữ ở mức phải chăng. Hưởng thụ cuộc sống nhưng không quá mê đắm, sa đà. Hào hoa mà không kênh kiệu, khoe vẻ giàu sang. Phong nhã mà không lề mề, chậm chạp. Linh hoạt mà không láu lỉnh, xấc xược. Duyên dáng mà không xuồng xã, lẳng lơ. Thông minh, lịch thiệp mà không ba hoa, hời hợt. Vui không quá đà, giận không ra mặt. Dễ bị coi là giữ kẽ. Đây là một đặc trưng không nhầm lẫn được của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á. Trung Hoa tiếp thu tư tưởng này của văn hoá phương Nam, đề cao cách ứng xử “trung dung”, nhưng trên thực tế trong Nho giáo Trung Hoa đầy rẫy những biểu hiện cực đoan.

11) Thiên về âm tính: An phận thủ thường, không thích mạo hiểm. Ngại tranh chấp, đối đầu, “dĩ hoà vi quý”. Có thể thích nghi với sự thay đổi chứ không chủ động tạo nên thay đổi. Không nuôi chí lớn, không dám dấn thân làm việc khó, chỉ thích sống bình yên.

12) Khéo léo, ngọt ngào: Khéo léo trong giao tiếp ứng xử; ngọt ngào, có sức hấp dẫn trong nói năng. Dễ trở thành màu mè, khách sáo, giả tạo.

Hai đặc trưng (11) và (12) cũng là những biểu hiện tập trung của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á.

d) Sự phối hợp giữa các thành tố trên với nhau và với tính cách giai đoạn trước:

13) Thanh lịch: Hào hoa, phong nhã, lịch lãm trong phong thái. Lịch sự, tế nhị trong giao tiếp xã hội. Chu đáo, ý tứ, trong ăn uống. Gọn gàng, tề chỉnh, chăm chút trong trang phục[1]. Đặc trưng (13) là kết quả phối hợp sự tinh tế của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á với tính cách tiểu tư sản thành thị.

14) Trí tuệ, tỉnh táo: Tư duy sắc bén, lập luận chặt chẽ, tính toán giỏi. Lý trí mạnh hơn tình cảm. Tư duy lô-gích mạnh hơn trực cảm, bản năng. Cô Hiền trong “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải từ đầu đến cuối truyện là một người thực tế, luôn biết tính toán, rất lý trí. Đặc trưng (14) là kết quả phối hợp chất trí tuệ của truyền thống kẻ sĩ Bắc Hà với tư duy phân tích duy lý phương Tây ảnh hưởng vào tính cách tiểu tư sản thành thị và ngược lại với truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á.

15) Trọng danh dự, trọng chữ “tín” : Tự trọng trong công việc, có lương tâm nghề nghiệp; tôn trọng đạo đức và lẽ phải. Không luồn cúi, không mưu mô, không ác tâm. Thời bao cấp phổ biến chuyện đi sơ tán nhờ hàng xóm giữ chìa khoá nhà hộ. Dễ sinh ra khái tính, thói hay lý sự, thói ngang tàng. Đặc trưng (15) là kết quả phối hợp của chất kẻ sĩ Bắc Hà, chất nhà Nho tài tử của tính cách Hà Nội giai đoạn trước với cả ba thành tố trên.

Tinh-cach-tieu-tu-san-ha-noi.jpg

Hệ thống tính cách hình thành trong giai đoạn này là một hệ thống tính cách có thể nói là hoàn chỉnh nhất của người Hà Nội, hội tụ được tinh hoa không chỉ theo thời gian (cổ kim) mà còn cả không gian (Đông Tây). Chính vì vậy mà một phụ nữ Hà Nội[2] cho biết khi chị sang Pháp, người Pháp bảo chị có phong thái giống hệt người Pháp thời xưa, còn khi sang Nhật, người Nhật dù khó tính cũng rất khâm phụcngạc nhiên [VTC News 2010a].

Ho-tay-ha-noi.jpg

Chú thích

  1. Tồn tại một quan niệm sai lầm khá phổ biến cho rằng cái thanh lịch của “tiếng nói Hà Nội ở chỗ chuẩn xác, phát âm đúng, mẫu mực cho cả nước” (x. vd: [Nguyễn Viết Chức (cb) 2010: 94]). Ta chỉ có thể nói rằng phương ngữ thủ đô thường được lấy làm / công nhận làm “tiếng chuẩn cho cả nước”. Đó là một quy ước chứ thực ra sẽ có lý hơn nếu nói ngược lại rằng những địa phương có phân biệt tr/ch/r, s/x' mới “chuẩn xác, đúng” và do vậy, “mẫu mực” hơn Hà Nội. Tương tự, người Hà Nội cũng vì thế mà không nên chê những vùng không phân biệt l/n là “nhà quê”, là “ngọng”.
  2. Nghệ nhân hoa lụa Mai Hạnh (nhà số 5, phố Chả Cá).

Nguồn

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!