Tính cách người Hà Nội trong hiện tại

TÍNH CÁCH NGƯỜI HÀ NỘI TRONG HIỆN TẠI

4.1. Giai đoạn “văn hoá bao cấp” chiếm ưu thế (từ 1954 đến trước Đổi mới)

Trong giai đoạn này, cấu trúc tính cách người Hà Nội có sự biến đổi rất mạnh.

Xét theo Chủ thể, thành phần chủ thể có sự thay đổi lớn do có một bộ phận người Hà Nội di tản vào Nam, một bộ phận lớn người kháng chiến (có gốc từ Hà Nội và nhiều địa phương) từ chiến khu nhập cư về Hà Nội, một bộ phận cán bộ và con em cán bộ từ miền Nam tập kết ra Bắc gia nhập vào nhiều địa phương, trong đó có Hà Nội.

Bậc thang giá trị của các giai tầng chủ thể cũng đảo lộn: giai tầng tiểu tư sản bị coi là xấu. Do vậy 4 đặc trưng thuộc nhóm tính cách tiểu tư sản thành thị đều bị xem là phi giá trị. Bốn đặc trưng thuộc nhómtính cách Nho giáo cũng bị đánh giá là tiêu cực. Cuộc cải tạo tư sản đầu những năm 1960 đã hoàn tất việc phủ nhận các đặc trưng này.

Việc tham gia Cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam và việc đối phó với Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ tiếp tục làm đảo lộn cấu trúc Chủ thể. Lối sống thời chiến và lối sống nông thôn (do người Hà Nội sơ tán về nông thôn) mang về tiếp tục việc giải cấu trúc và phá vỡ hoàn toàn tính cách người Hà Nội hình thành trong giai đoạn mà văn hoá tiểu tư sản chiếm ưu thế.

Phong trào tập thể hóa với lối sống tập thể, sự can thiệp của tập thể vào đời sống gia đình và cá nhân[1] làm du nhập vào môi trường thủ đô tính phong tràotính cào bằng vốn là những đặc trưng của văn hoá cộng đồng làng xã.

Nhà văn Nguyên Ngọc [2006] kể: “Năm 1962 tôi xa Hà Nội, tôi nhớ cái văn hóa thanh nhã, nhớ dáng đi, giọng nói của những cô gái Hà thành tuổi mười tám, đôi mươi xinh như mộng. Sau 1975, tôi quay trở lại Hà Nội, một mình đi lang thang khắp các phố phường chỉ để làm mỗi việc ngắm nhìn các thiếu nữ... và phát hiện họ toàn nói tục”.

Do tập trung là cách quản lý điển hình của các nước XHCN lúc bấy giờ, cộng thêm hoàn cảnh đời sống vật chất cực kỳ khó khăn của thời chiến, tính tập trung quan liêu của thời bao cấp đã làm hình thành nên một quan hệ xin-cho - một nét đặc trưng mới của tính cách Hà Nội giai đoạn này.

Có một bộ phận rất nhỏ “người Hà Nội gốc” cố gắng tiếp tục duy trì một số đặc trưng cơ bản của hệ thống hệ thống tính cách người Hà Nội hình thành trước đó mà truyện ngắn “Một người Hà Nội” củaNguyễn Khải đã phản ánh rất xuất sắc. Cố gắng bướng bỉnh này chính là một phần bản lĩnh tính cách của người Hà Nội!), nó luôn phải chịu sự phê phán của những người xung quanh (“Đồ tiểu tư sản”, “Thiếu hoà đồng với quần chúng”).

4.2. Giai đoạn văn hoá từ Đổi mới đến nay

Sau Đổi mới, thành phần chủ thể thay đổi một cách triệt để hơn nữa. Kết quả một điều tra mới đây [Toquoc 2010] cho thấy tại phường Hàng Đào, số người Hà Nội ở mười đời trở lên chiếm không quá 9%; trong khi hàng năm Hà Nội có khoảng 1/5 số người nhập cư đến từ nơi khác. Quá trình đô thị hóa biến nhiều làng thành phố, còn người phố thì sống kiểu làng [Trang Hạ 2010].

Lối sống “thanh lịch” của người Hà Nội hầu như không còn có thể quan sát được nữa. Thay vào đó là hiện tượng những tính cách xấu gia tăng.

Nhóm tính cách có nguồn gốc Nho giáo hầu như không còn, vai trò của giáo dục gia đình suy giảm mạnh, trong khi chương trình đào tạo ở nhà trường không đặt nặng vấn đề giáo dục nhân cách[2], nhiều em học sinh, sinh viên như cỏ hoang mọc dại, không biết lễ nghĩa, ứng xử.

Số dân nhập cư ồ ạt từ nhiều địa phương này du nhập vào Hà Nội không phải là tính cách nông dân / nông thôn, mà là một tính cách nông dân của những con người vượt ra khỏi tầm kiểm soát của nông thônvới cộng đồng cư dân quen thuộc, lại chưa tiếp nhận được một nếp sống văn minh đô thị thay thế làm hình thành nên lối sống tự do, tùy tiện không có gì làm chuẩn mực. Hiện tượng lễ hội hoa Hà Nội chính là biểu hiện của sự hoang dã này.

Mặt khác do tác động của kinh tế thị trường, đồng tiền đã chi phối nếp nghĩ và lối sống của nhiều người. Những mưu chước lường gạt thị thành kiểu bà “quận chúa” dởm cho người hầu vào mua vàng ở phố hàng Bạc rồi chuồn mất để lại cái kiệu với một con khỉ mà Phạm Đình Hổ đã kể trong tuỳ bút của mình khi xưa có chiều hướng gia tăng: khách nước ngoài xuống sân bay, khách trong Nam ra luôn có nguy cơ gặp tài xế taxi, lái xe ôm lừa gạt.

Thái độ cục cằn, thô lỗ trong khu vực dịch vụ có xu hướng gia tăng. Hiện tượng “bún quát, phở đuổi, cháo chửi” không còn là ngoại lệ. Ta chỉ cần đọc qua tiêu đề các bài báo viết về “văn hoá kinh doanh” Hà Nội: Vừa ăn vừa nghe chửi [Dương Phương Thảo 2009], Mua hàng nghe... chửi mới vui? [Eva.vn 2010], Ăn hàng Hà Nội: Miệng nhai, tai nghe chửi [Hoàng Dũng 2009], v.v. Điều nguy hiểm là người Hà Nội do cái gu ẩm thực sành điệu trong khi lại thiên về âm tính mà có xu hướng nhẫn nhục chấp nhận những tính xấu và đi tìm “cái đẹp” trong đó: Trước đây, vào thời nghèo khó mà cơ chế bao cấp làm hình thành quan hệ “xin-cho”, người Hà Nội đã từng tìm thấy cái đẹp trong “văn hoá” xếp hàng và đứng vỉa hè ăn kem Tràng Tiền [Lan Anh 2006] thì hiện nay “nhiều lần bị chửi cũng tức, thử tìm các quán khác nhưng chẳng thấy ở đâu có vị bún lưỡi như ở đây nên đành quay lại, nghe mãi cũng thành quen” [Eva.vn 2010]. Khách đi mua hàng buổi sáng lỡ tay cầm lên món hàng luôn có nguy cơ bị ép phải mua với giá cao. Chợ Ngã Tư Sở trở thành nổi tiếng với thứ “văn hoá dịch vụ” xem hàng không mua thì bị chửi, bị đốt via,1 thậm chí bị đánh [Xuân Ngọc 2010; Phan Linh Anh 2010].

Điều này dẫn đến hai hệ quả rất nguy hiểm:

a) Con người Hà Nội trở nên nhẫn nhục, chai lỳ, không còn phản ứng với cái xấu. Chấp nhận tự phục vụ, tự bưng bê, lấy ghế, trông xe, đi trả tiền, nghe chủ quán quát tháo, mắng chửi. Ai cũng nghĩ rằng nó như Chí Phèo chửi cả làng nhưng chừa mình ra.

b) Các giá trị văn hoá bị đảo lộn:

Xuất phát từ những hiện tượng bình thường: “hàng tốt thì đông khách” (vd phở Bát Đàn), “hàng dù bình thường nhưng độc quyền thì cũng đông khách” (vd kem Tràng Tiền thời bao cấp), “đông khách trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn lại bị tiêm nhiễm cơ chế xin-cho nên dịch vụ kém”, một nghịch lý hình thành: Các cửa hàng mà là cung cách phục vụ tệ hại thì đông khách: Cháo “quát” phố Lý Quốc Sư. Phở Hai Ghế (phố Hai Bà Trưng) không có bàn mà mỗi người ăn có một cái ghế cao (đặt bát phở) và một ghế thấp (để ngồi). Bánh đa cua phố Hai Bà Trưng thì người ăn đặt bát lên bức tường thấp thay bàn. Cà phê Giảng ở số 7 Hàng Gai làm việc theo giờ “hành chính”, v.v. (Lan Anh trong [Nguyên Ngọc 2006].

Cái xấu trở thành mốt: một số quán mới mở cũng a-dua theo phong cách chửi bới để “câu khách”; một số người trẻ tìm đến các quán kiểu này để trải nghiệm cảm giác thú vị, tò mò!

Hình thành loại người thích nghe chửi, nghe đuổi; vừa ăn vừa xem biểu diễn và thấy bị chửi thì ăn ngon hơn! [Eva.vn 2010]. Có những người hăm hở xếp hàng, chen hàng để chứng tỏ cho bạn bè rằng “Đông thế mà tôi vẫn chen mua được!” hoặc “Chỗ ấy toàn người sành điệu, trong đó có tôi!” [Vương Trí Nhàn 2006].

Những người làm ăn đứng đắn muốn tồn tại được buộc phải tỏ ra vô văn hoá: Có ông chủ bộc bạch: “Khách quen bị chửi rồi, giờ đổi ra tử tế có khi lại phá sản” [Eva.vn 2010]. Vợ nhà phê bình Vương Trí Nhàn bán buôn đồng hồ và đồ điện tử ở phố Đồng Xuân luôn ngạc nhiên nói với chồng rằng: Nói thật đúng giá khó bán hàng lắm. Người ta chỉ thích cái gì thật đắt, vì nghĩ đắt thì mới xịn! [Vương Trí Nhàn 2006].

Tóm lại, người Hà Nội hiện tại đang tiếp tục sống với một hệ tính cách bất thường sinh ra từ một thời có tới hai cái bất thường là thời chiến và thời bao cấp.

Ha-noi-xe-dap.jpg

Sự phát triển vượt bậc về quy mô dẫn đến tình trạng gần như vượt ra khỏi tầm kiểm soát về mặt văn hoá - xã hội hiện nay không chỉ đơn giản là đáng báo động. Đứng tại thời điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội này, chúng ta cần phải có những hành động thiết thực để trả lại cho Hà Nội những nét đẹp trong tính cách mà người Hà Nội vốn có. Hãy bớt ngợi ca những cái đẹp của ngày hôm qua mà hôm nay đã không còn. Chính quyền đô thị và người dân Hà Nội hãy tuyên chiến với những thói xấu mà việc để nó len lỏi vào có phần lỗi của mỗi chúng ta. Cần khôi phục lại những nét đẹp đã trở thành bản sắc của người Hà Nội, tái lập hệ thống tính cách người Hà Nội trong bối cảnh của một Hà Nội đương đại, tạo thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội - một thành phố văn hiến, anh hùng, vì hòa bình.

Bắt mạch được điều này, bắt đầu xuất hiện tại Hà Nội một số cửa hàng do các doanh nhân Tp. Hồ Chí Minh ra mở, rất đông khách, nhờ nét đặc biệt duy nhất là toàn bộ dàn nhân viên phục vụ được đưa từ Nam ra, khách sai bảo, đòi hỏi tai ngược kiểu gì nhân viên cũng luôn mỉm cười hiền lành với chữ “Dạ” thật ngọt! Hy vọng với thời gian, văn hoá Hà Nội sẽ trở lại đẹp hơn, tính cách người Hà Nội sẽ trở lại bình thường hơn!

Chú thích

  1. “Chính phủ can thiệp vào nhiều việc chuyện lặt vặt của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công xá cho kẻ ăn người ở” [Nguyễn Khải 1995].
  2. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” chỉ như một thứ mốt trang trí, không có hiệu quả thiết thực.

Nguồn

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!