Tính cách người Hà Nội/Khái niệm, tư liệu, phương pháp

KHÁI NIỆM, TƯ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP

1.1. Ở châu Âu, khái niệm “tính cách” được nhắc đến từ thời Hy-lạp (χαρακτηρ). Đến cuối thời cổ điển, tính cách được giới khoa học châu Âu hiểu là những phẩm chất tinh thần bên trong của con người được phát hiện thông qua những biểu hiện bên ngoài [Михайлов А. В. 1990: 52, 68]. “Từ điển triết học” Liên Xô định nghĩa tính cách là “toàn bộ các đặc điểm tâm lý vững bền ở một con người, phụ thuộc vào các điều kiện sinh sống của anh ta và biểu hiện trong các hành vi” [TĐTH 1986]. Wikipedia tiếng Nga coitính cách là cấu trúc của những tính chất tâm lý bền vững, tương đối ổn định, quy định những đặc điểm quan hệ và hành vi của của con người [Ru.wikipedia].

Cái mà chúng ta quan tâm là tính cách tập thể, tính cách dân tộc [Đỗ Long - Đức Uy 2004; Viện TT KHXH 1998] có thể xem là một trường hợp trong đó. Trong hệ thống khái niệm của mình, chúng tôi định nghĩa tính cách tập thể là hệ thống các đặc điểm tương đối bền vững của một cộng đồng người (chủ thể) trong điều kiện không gianthời gian sinh tồn cụ thể của họ.

Tính cách tập thể rất gần với bản sắc văn hoá cộng đồng, do đều có nét chung là bao gồm những đặc trưng tinh thần, tương đối bền vững. Tuy gần nhau, nhưng chúng không trùng nhau như có thể lầm tưởng. Theo chúng tôi, đây là hai khái niệm giao nhau: bản sắc văn hoá cộng đồng khác tính cách tập thể ở chỗ nó có thể bao gồm cả những đặc trưng không thuộc về con người một cách trực tiếp[1], còn tính cách tập thể khác bản sắc văn hoá cộng đồng ở chỗ nó có thể bao gồm cả những đặc trưng phi giá trị[2]. Nói cách khác, những đặc trưng bản sắc văn hoá trực tiếp thuộc về con người của một cộng đồng sẽ đương nhiên thuộc về tính cách tập thể của cộng đồng đó; còn những đặc trưng tính cách tập thể mang tính giá trị của một cộng đồng sẽ đương nhiên thuộc về bản sắc văn hoá của cộng đồng đó.

Tinh-cach-tap-the.png

1.2. Tính cách tập thể mà chúng ta quan tâm ở đây là “tính cách người Hà Nội”: nó liên quan đến phạm trù “văn hoá thủ đô”. Mà “văn hoá thủ đô” (столичная культура) thì thường được đối lập với “văn hoá tỉnh lẻ” (провинциальная культура).

Theo N.V. Sisova và tập thể tác giả, văn hoá tỉnh lẻ có đặc tính ổn định, tĩnh tại, còn văn hoá thủ đô thì mang tính năng động, tính tiên phong, tính đổi mới thường xuyên, tính chuyên nghiệp cao, tính thông tin rộng, sự phân lập con người trên cả bình diện xã hội lẫn cá nhân [Шишова Н.В. и др. 2000: 177-184].

Thực ra, sự đối lập này, theo chúng tôi, chỉ đúng với loại hình văn hoá trọng động, nơi mà đô thị chiếm ưu thế rõ rệt so với nông thôn. Văn hoá thủ đô có tính biệt lập và chi phối cao đối với văn hoá đô thị của các tỉnh cũng như đối với văn hoá nông thôn. Ở những nền văn hoá thuộc loại hình trọng tĩnh như khu vực Đông Nam Á, vai trò của nông thôn đặc biệt quan trọng, trong khi hình hài cũng như vai trò của các đô thị tỉnh lẻ hết sức mờ nhạt. Văn hoá nông thôn là nền tảng của văn hoá tộc người và văn hoá dân tộc nói chung, nó luôn chi phối văn hoá đô thị và cả văn hoá thủ đô. Do vậy ở đây văn hoá thủ đô không đối lập với văn hoá tỉnh lẻ mà chủ yếu đối lập trực tiếp với văn hoá nông thôn.

Như vậy, tính cách người thủ đô của loại hình văn hoá trọng tĩnh (như Việt Nam) là hệ thống các đặc điểm tương đối bền vững của cộng đồng thị dân (chủ thể) thuộc trung tâm hành chính quốc gia trong sự chi phối thường xuyên của văn hoá nông thôn và biến đổi theo thời gian sinh tồn của họ.

1.3. Các tài liệu viết về (hoặc trong đó có viết về) tính cách người Hà Nội có khá nhiều, song trong đó số tài liệu thuộc thể loại công trình nghiên cứu tương đối nghiêm túc (vd như: [Nguyễn Viết Chức (cb) 2010; Nguyễn Trương Quý 2003; Hội ngôn ngữ học HN 2010...]) đáng tiếc là khá ít. Còn số tài liệu đúng đề tài mà có nội dung và phương pháp thực hiện theo kiểu một công trình nghiên cứu khoa học tương đối nghiêm túc lại càng ít hơn nữa. Phần nhiều mang tính khen ngợi cảm tính, hoặc thiếu lập luận chặt chẽ khách quan, do vậy mà thường thiếu tính thuyết phục. Do vậy chúng tôi đã không giới hạn ở việc chỉ sử dụng các tài liệu nghiên cứu, mà mở rộng ra sử dụng tất cả những gì có thể góp phần làm sáng tỏ hệ thống tính cách người Hà Nội.

Trong số các tài liệu mà chúng tôi đã thu thập (chắc chắn là chưa đầy đủ), đáng chú ý là một bài viết của nhà báo Hoàng Hưng [2010]. Trong bài, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (quan sát lối sống của ba thế hệ trong gia tộc Hoàng Thuỵ của bản thân tác giả trong suốt thế kỷ XX) để rút ra 8 đặc điểm của lối sống người Hà Nội. Từ một góc độ khác, truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải [1995] rất xứng đáng được sử dụng làm tư liệu bổ sung cho phương pháp nghiên cứu trường hợp.

1.4. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng ba phương pháp chính: (1) Phương pháp nghiên cứu trường hợp gián tiếp (thông qua các miêu tả của Hoàng Hưng và Nguyễn Khải) và trực tiếp (những gia đình mà tôi quen biết khá kỹ đã sống ở Hà Nội không dưới ba đời). (2) Phương pháp nghiên cứu hệ thống - loại hình trên cơ sở tư liệu quan sát và thu thập. (3) Phương pháp nghiên cứu hệ giá trị (trong đó có phương pháp bộ phận là phương pháp CKT {Chủ thể - Không gian - Thời gian}). Hai phương pháp sau chúng tôi đã xây dựng và sử dụng trong các công trình: [Trần Ngọc Thêm 1996; Trần Ngọc Thêm 2006; Trần Ngọc Thêm 2009].

Ha-noi-trong-mat-ai.jpg

Nguồn

Chú thích

  1. Ví dụ như tính sông nước là sự biểu hiện của sông nước trong văn hoá tuy do con người tạo ra nhưng không trực tiếp thuộc về con người.
  2. Ví dụ như tính hiếu chiến là đặc trưng tính cách không được xem là giá trị của một tập thể (này, nhưng có thể là giá trị của một tập thể khác, có thể dưới một tên gọi khác).

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!