Tân thức hoá

Chương nhất: Tân thức hoá

I. Ích lợi của tân thức hoá.

II. Phải tân thức hoá cho hợp lý.

1. Máy móc, đồ dùng phải hợp với việc

2. Đồ dùng phải hợp với người làm.

I. Ích lợi của tân thức hoá

Chính nghĩa tân thức hoá là đổi mới cho hợp thời. Vậy phàm đổi mới cái gì, cũng có thể gọi là tân thức hoá được. Nhưng bây giờ nói tới tân thức hoá thì mọi người đều hiểu là đổi mới máy móc và khí cụ.

Ai cũng thấy sự ích lợi phi thường của máy. Một người, một con trâu, một cái cày được 20 công đất; một cái máy cày và một người thợ máy, cày mỗi ngày được 400 công. Vậy một cái máy làm bằng 20 người; có khi còn làm bằng hàng ngàn người nữa, như máy xe lửa, máy tàu.

Người ta trách máy móc sinh ra nạn kinh tế khủng hoảng và nạn lao công thất nghiệp. Ở đầu tập, tôi đã nói và ở đây tôi nhắc lại: Trách như vậy là lầm vì kinh tế khủng hoảng và sự thất nghiệp do sự tổ chức chưa hoàn hảo của xã hội mà ra chứ không do máy móc. Biết dùng máy móc mà còn biết tổ chức xã hội cho công bằng thì nhờ máy móc, nhờ phương pháp tân thức hoá, thế giới sẽ là thiên đường cho hết cả các giai cấp trong xã hội.

Tất nhiên, khi một kiểu máy mới xuất hiện mà năng suất gấp 10 những kiểu máy cũ thì trong lúc giao thời, thường có ít nhiều hỗn độn: một số thợ phải thất nghiệp trong một thời gian và học lại nghề nhưng rút cục, vẫn có lợi cho giới cần lao vì nền cơ giới càng tiến thì càng đòi hỏi nhiều thợ thuyền mà số giờ làm việc của thợ càng được giảm đi. Cứ xét hiện nay các nước tân tiến đều thiếu thợ chuyên môn, mà mức sống của thợ ngày càng cao, thì đủ biết tân thức hoá chỉ có lợi chứ không hại.

II. Phải tân thức hoá cho hợp lý

1. Máy móc, đồ dùng phải hợp với việc

Nhưng có phải dùng máy móc lúc nào cũng lợi không? Không. Một người ở nhà quê, cứ 3 ngày một lần ra chợ bán một gánh rau, nếu mua một chiếc cam nhông tối tân của Mỹ để chở rau, lợi không thấy mà tất sạt nghiệp. Vậy trước khi sắm máy mới, hoặc đổi máy cũ, phải tính kỹ xem có lợi hay không đã. Tân thức hoá, vâng, nên lắm! Phải cân nhắc lợi hại trong sự dùng máy cày, vì lúc đó[1] nhân công rất rẻ mà thợ máy ít người giỏi, máy chở về, dùng ít ngày là hư, phải đem ra châu thành sửa lại, tốn hao hơn làm việc theo lối cũ. Họ đã dụng tính. Nhưng tình thế bây giờ có lẽ đã ngược lại.

2. Đồ dùng phải hợp với người làm

Taylor khi làm ở công ty thép Bethlehem, dùng 500 thợ xúc quặng đổ vào xe rùa. Ông thí nghiệm như sau này:

Ông dùng 2 người thợ xúc rất giỏi, để họ làm xa nhau, lại đặt thêm 2 người nữa ở bên cạnh mỗi người thợ đó, để xem cách họ làm và đo thì giờ làm. Ngày đầu ông dùng một cái xẻng đựng được 38 liu quặng (một liu bằng non nửa kí lô) và ông tính ra mỗi ngày mỗi người xúc được 25 tấn quặng.

Ít bữa sau, ông rút bớt bề mặt cái xẻng đi, cho nó còn chứa được 34 liu thôi và dùng xẻng đó thì mỗi người thợ xúc được 30 tấn mỗi ngày.

Ông lại thu nhỏ cái xẻng lại cho chứa được 30 liu. Một lần nữa, số quặng xúc được tăng lên.

Khi bề mặt cái xẻng rút xuống 21,22 liu thì số quặng xúc được lên tới mực cao nhất.

Nếu rút xuống nữa cho còn 18 liu thì số quặng hạ xuống và từ đó, càng rút bề mặt cái xẻng, số quặng xúc được càng hạ.

Do đó ông kiếm được sự thực khoa học này: một người thợ xúc dùng một cái xẻng chứa được 21 liu vật liệu thì làm việc nhiều kết quả hơn hết. (Sự thực đó đúng ở Mỹ chứ không đúng ở nước ta vì thợ Mỹ mạnh hơn Việt nhiều. Ở nước ta, con số 21 phải rút xuống)

Và tất nhiên là ông chế ra những cái xẻng lớn nhỏ khác nhau, tùy theo vật phải xúc nặng hoặc nhẹ, nhưng cái nào sức chứa cũng được 21 liu. Như vậy phải tốn tiền chế xẻng, mất công phân phát xẻng tùy theo việc, nhưng kết quả là mỗi người thợ trước xúc chỉ được 16 tấn thì bây giờ xúc được 59 tấn mà không mệt hơn chút nào và tiền công của họ tăng lên được 60 phần trăm. Chủ cũng có lợi mà thợ cũng có lợi. Cả hai đều vui, tuy chủ có phần vui hơn.

Chú thích

  1. Có lẽ sách hoặc người chép lại thiếu mất mấy chữ nên ta không biết lúc đó là lúc nào. Trong cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, cụ Nguyễn Hiến Lê có kể lại chuyện ghé thăm một ông chủ điền ở Đồng Tháp như sau: “…Chủ nhân có sáu trăm mẫu đất, phàn nàn đã lỡ mua non một vạn đồng bạc máy cày mà dùng được vài tháng thì phải bỏ vì không khí ẩm thấp, thợ chuyên môn không có, máy mau hư và mỗi lần hư phải gỡ từng bộ phận đem qua Châu Đốc, có khi xuống tận Cần Thơ để sửa; tốn công, tốn tiền lắm”. Chuyện đó xảy ra trước năm 1945. (Goldfish).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tổ chức công việc theo khoa học
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish (12/05/2012, e-thuvien.com)