Tâm lí thực hành

Chương nhất: Tâm lí thực hành

I. Một thiếu sót trong chương trình các trường học

II. Mục đích khoa tâm lí thực hành.

III. Phương pháp

1. Phương pháp trongy viện.

2. Phương pháp khoa học

3. Một bảng trắc nghiệm.

4. Thế nào là một bảng trắc nghiệm tốt?

I. Một thiếu sót trong chương trình các trường học

Muốn dùng một vật gì ta phải biết rõ tính chất nó ra sao. Trong đời ta, ít có cơ hội nếu ta không phải là một nhà chuyên môn - dùng những chất hoá học, những kính hiển vi, những máy này máy khác. Vậy mà ở ban Trung học người ta bắt chúng ta nhớ tính chất hoặc cách dùng những thứ đó.

Trái lại, trong xã hội không ai từ sáng đến tối là không “dùng” người. Dùng đây có nghĩa rộng là giao thiệp, là tiếp xúc. Dù là mướn một người thợ, chỉ bảo cho người học trò, đi thăm một người trên, chuyện trò với một người bạn, lúc nào ta cũng cần biết tính tình những người đó, để làm cho họ được vui lòng, cho ta được vui lòng, nói rộng ra, để cho hành động và ngôn ngữ của ta đạt được kết quả ta muốn.

Vậy mà ở nhà trường, cả trong nhiều trường đại học đào tạo những người sau này gánh một nhiệm vụ quan trọng trong xã hội, người ta chưa hề dạy sinh viên cách biết tâm lí từng hạng người để tùy cơ sử dụng. Chính phủ đào tạo mỗi năm cả ngàn thạc sĩ, cả chục ngàn kĩ sư mà quên không đào tạo những người chỉ huy.

Một lẽ là vì các dân tộc, cả những dân tộc tân tiến, đều chú trọng đến lí thuyết nhiều quá mà xao lãng phương diện thực hành trong vấn đề giáo dục.

Một lẽ nữa là vì môn tâm lí thực hành sanh ra muộn, sau những môn toán, vật lí, hoá học, thiên văn... rất xa. Hồi trước, nó còn ở khu vực kinh nghiệm và mới bắt đầu thành một khoa học thực nghiệm từ vài chục năm nay, từ khi Galton tìm được những cách đo tâm lí, Afred Binet kiếm được lối đo trí tuệ.

II. Mục đích khoa tâm lí thực hành

Mục đích của khoa tâm lí thực hành là giúp ta:

1. Lựa người để giao việc

Nếu biết khéo dùng người thì trong đời, không có người nào là vô dụng, trừ những người tàn tật. Vì mỗi người có một tài riêng. Người kia không làm được công việc nặng thì làm được công việc nhẹ; người này đứng bán hàng không được nhưng về kế toán rất giỏi; có kẻ làm công việc gì cũng không được nhưng khéo sai khiến những người khác; có người không có sáng kiến uy quyền chi hết nhưng rất siêng năng tín cẩn.

Biết đặt người cho phải chỗ, dùng người cho phải việc đó là điều kiện cốt yếu để thành công trong tổ chức.

2. Đào tạo người cộng sự về chức nghiệp

Không phải người thợ nào cũng đều được học chuyên môn và có kinh nghiệm. Công việc giao cho họ có thể họ chưa bao giờ làm cả. Vì vậy mỗi xí nghiệp cần có một cơ quan đào tạo lấy: huấn luyện thêm những công việc, đó, ta phải biết tính tình, khả năng tâm lí của mỗi người. Không những vậy, còn phải tìm những đồ dùng hợp cho mỗi người nữa.

Huấn luyện thợ là cần, nhưng cũng không nên quên sự đào tạo các cán bô, các người chỉ huy để họ thay mà giúp ta một cách đắc lực, vì ta không thể mỗi lúc tiếp xúc với từng người thợ được.

3. Biết cách xử thế điều khiển chỉ huy

Có người ưa ngọt, có người chỉ sợ uy quyền, nhưng hễ là người dù hèn thấp tới đâu cũng có lòng tự ái. Quên điều đó, tức là mua lấy sự thất bại hoàn toàn trong cách dùng người. Cho nên kỷ luật tuy phải nghiêm mà không được tàn khốc, phạt là cần mà thưởng còn cần hơn. Cổ nhân nói “Ta trọng người thì người trọng lại ta”, nhưng ta trọng người thì người cũng trọng người nữa. Ta tin người là giỏi, khen người là giỏi, thì người tự tin người là giỏi và tập tành cho giỏi thêm.

Ta thương người thì người sẽ thương ta, tận tâm với ta. Ta bo bo nghĩa tới lợi của ta mà quên lợi của người thì người chỉ cũng chỉ nghĩ tới lợi của người mà quên lợi của ta. Trên 2.000 năm nay, Mạnh Tử đã khuyên Lương Huệ Vương như vậy mà loài người tự tàn sát lẫn nhau chỉ do lẽ đó[1].

4. Tránh tai nạn và giữ gìn sức khỏe và tinh thần của người làm công

Đồ dùng có lúc hư hỏng, gãy nát, huống hồ là người, sao không có lúc đau ốm, rủi ro? Không lo xa cho thợ, cứu giúp họ trong lúc hoạn nạn thì không những là không biết tâm lí người mà còn là không có cái tâm lí của con người. Cho nên mỗi xí nghiệp phải có một cơ quan để coi về:

Sự an ninh trong khi làm việc.

Và những vấn đề y tế và xã hội.

3. Tìm hoàn cảnh thuận tiện cho sự làm việc

Sau cùng phải biết những luật về sinh lí và tâm lí của loài người để tìm những hoàn cảnh thuận tiện cho sự làm việc. Ánh sáng, nhiệt độ màu sắc không khí, âm thanh tại nơi làm việc phải làm sao cho sức hoạt động của ta tăng lên được nhiều, ta ít mệt.

Tâm lí người ta ai cũng như nhau

Tóm lại phải nhớ rõ điều này: nười không phải là cái máy, hễ mở thì chạy, khoá lại thì ngừng, đổ than nhiều thì chạy mau, đổ than ít thì chạy chậm. Uy quyền và tiền bạc không đủ cho người khác giúp ta một cách đắc lực. Là vì thị dục của loài người rất nhiều mà tình cảm của loài người cũng không ít. Ta biết trọng, biết cảm, biết khinh, biết ghét, biết vui, biết buồn và tuy ta sợ uy quyền nhưng có lúc cũng biết phản kháng lại uy quyền. Ta biết yêu, yêu ta trước hết, yêu nhà, yêu nước, yêu cái CHÂN, cái THIỆN, cái MỸ, yêu sự tự do và yêu cả tiền nữa, nhưng cũng có khi ta lại yêu những người biết khinh tiền.

Vậy những ai kiến thiết quốc gia, xin nhớ rằng không có sự kiến thiết nào đẹp đẽ bằng sự kiến thiết HOÀ BÌNH trong xã hội. Cần phải lấp cái hố giữa người chủ và người làm công, cái hố đó là những cuộc làm “reo”. Cần phải xây cái cầu nối liền giai cấp chủ và giai cấp thợ, và muốn như vậy, phải nâng cao giai cấp thợ lên ngang hàng hoặc gần ngang hàng với giai cấp chủ, vì cầu càng bằng thì càng vững, càng nghiêng thì càng đổ.

II. Phương pháp

Khoa tâm lí thực hành dùng 2 phương pháp để dò tâm lí người.

1. Phương pháp trong y viện chỉ cách nhận xét rồi chép lại những nét mặt, những cử động, hành vi, ngôn ngữ đặc biệt của mỗi người rồi kiếm nguyên nhân của những cái đó. Phương pháp này, phải là những nhà chuyên môn về tâm lí mới biết cách áp dụng và tới nay vẫn chưa cho nhiều kết quả.

2. Phương pháp khoa học chỉ cách đo tâm lí bằng những trắc nghiệm (1) (test). Người Âu Mỹ đã đặt ra được nhiều trắc nghiệm để đo gần hết những năng lực, thiên tư của người lớn trẻ con (như sức thông minh, sức nhớ dai, sức kiên nhẫn, tính tò mò, sự chú ý...)

Ông Đàm Quang Thiện, cách đây khoảng 20 năm có soạn một cuốn sách độ vài chục trang nhan đề là: Một phương pháp đo tinh thần độ của trẻ con.

Tôi nhớ trong cuốn đó có nhiều câu hỏi từ dễ tới khó để hỏi trẻ em từ tháng 12 trở lên và tùy theo số câu trả lời đúng hay không mà cho điểm. Cộng hết số điểm lại, chia cho số tháng của trẻ (ví dụ em bé được 28 tháng thì chia cho 28) được một số nào đó. Nếu số này lớn hơn số 5 thì trẻ thông minh hơn tuổi, ở dưới số 5 thì là đần độn.

Những câu hỏi đó đại loại như sau này:

- Bảo em bé đếm ngược từ 20 đến 1

- Bảo em bé làm 4 công việc dễ như khép cửa rồi lại lau cái bàn, rồi cất sách vô tủ, rồi vô phòng lấy đồ chơi ra. Nếu em bé nhớ được, làm đúng theo thứ tự đó thì cho nhiều điểm, nhớ mà làm không đúng thứ tự thì ít điểm, quên một hai việc thì rút điểm đi nữa.

- Một cái sân hình tròn rào chung quanh, có cửa A để vô; một trái banh rớt trong đó, không biết ở chỗ nào. Biểu em bé chỉ xem nên đi theo con đường ra sao để kiếm trái banh. Nếu em bé vẽ được con đường ở hình I hoặc hình II thì đúng. Nếu đi lộn xộn như ở hình III thì sai.

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-25.jpg

- Có một cái nón móc ở thân cây lớn, tại gốc cây buộc con chó. Hỏi em bé làm sao lại gần cây lấy được chiếc nón mà không bị chó cắn. Em bé phải trả lời: đập con chó cho nó đuổi mình, rồi mình chạy xung quanh cây cho sợi dây quấn hết vào cây, chó xổ ra không được nữa. Nếu trả lời khác thì sai.

Mỗi câu hỏi ấy dùng riêng cho một tuổi nào đó mà tôi không được nhớ (1).

Phương pháp đó tức là phương pháp trắc nghiệm của Âu Mỹ.

3. Một bản trắc nghiệm

Dưới đây là một bản trắc nghiệm để làm thí dụ:

Muốn thử một người biết suy luận không, ta biểu họ trả lời 7 câu hỏi này.

Mỗi câu có 2 phần: phần thứ nhất, chữ đứng, cho biết một vài điều mà các bạn phải tạm nhận là đúng. Do những điều đó và chỉ do những điều đó thôi, suy luận ra trong những điều thứ nhì, in chữ ngã.

Nếu bạn cho rằng suy luận này đúng thì bạn viết chữ Đ ở trước phần thứ nhì, chỗ để trắng, có 3 dấu chấm. Nếu bạn cho là sai thì bạn viết chữ S vào đó.

Ví dụ: Tôi lớn hơn Ba. Ba lớn hơn Tư. Đó là 2 điều người ta cho bạn biết... Rồi người ta kết luận: Đ...Vậy tôi lớn hơn Tư.

Lời kết luận này đúng. Bạn viết chữ Đ ở trước.

HẠN MƯỜI PHÚT

1. Người dạy con gái tôi học, chưa tới tuổi đầu phiếu, tóc người đẹp. Vậy:

...Người đó là một cô gái chưa tới 21 tuổi.

2. Trên con đường này chỉ có vài cửa tiệm dùng đèn điện thôi nhưng tiệm nào cũng có mành mành (bức sáo). Vậy:

a)...Vài tiệm có mành mành hoặc đèn điện.

b)... Vài tiệm vừa có mành mành vừa có đèn điện.

3. Khoai tây rẻ hơn cà chua. Tôi không có tiền mua một kí khoai tây. Vậy:

a)...Tôi không có đủ tiền mua nửa kí cà chua

b)...Có thể rằng tôi có đủ tiền mua nửa kí cà chua.

4. Một hình vuông là một hình có góc. Hình này không có góc, vậy:

a)...Hình này là một hình tròn

b)...Người ta không thể kết luận một cách chắc chắn được.

c)...Hình này không phải là một hình vuông.

5. Tỉnh Mĩ Tho ở Tây Nam SaiGon. Tỉnh Bến Tre cũng ở Tây Nam Saigon. Vậy:

a)...Bến Tre gần Mỹ Tho hơn Sài Gòn

b)...Sài gòn ở Đông Bắc Mỹ Tho.

c)...Mĩ Tho ở gần Sài Gòn.

6. Ông ngồi trong xe hơi của ông. Nếu ông thắng (hãm) ngay lại thì ông sẽ đụng một chiếc cam nhông nó đang chạy sát ông. Nếu ông không thắng lại thì ông sẽ đụng một người đàn bà đang đi qua đường. Vậy:

a)...Những người đi bộ không được xuống dưới đường mà phải ở trên bờ lề.

b)...Chiếc xe cam nhông đi mau quá

c)...Ông sẽ hoặc là đụng chiếc xe cam nhông, hoặc là đụng người đàn bà.

7. Bộ đội số 100 đã đánh nhau với quân thù, và có lẽ đã hoàn toàn bị diệt rồi. Anh Xuân ở trong bộ đội đó, được người ta chở vào hậu phương ở địa phương và tại đó anh ta đã tỉnh lại. Vậy:

a)...Những người khác trong bộ đội đó đã chết hết

b)...Tất cả bộ đội đã bị diệt.

c)...Không phải tất cả bộ đội bị diệt.

(Coi câu trả lời dưới đây)

4. Thế nào là một trắc nghiệm tốt?

Một trắc nghiệm phải:

- Đừng làm cho người ta chán

- Rõ ràng đừng để người ta hiểu lầm

- Đừng có những điều may rủi ở trong

- Đừng làm mất nhiều thì giờ

- Người bị thử không cần có học rộng mà trả lời vẫn được

- Áp dụng vào đàn ông, đàn bà, già, trẻ gì cũng được

- Có nhiều câu từ dễ đến khó để chia hạng

- Đã thử vào nhiều người rồi

- Người cho điểm không có cách nào tư vị được.

- Càng ít câu hỏi càng hay.

Trắc nghiệm trên có toàn những câu hỏi. Sở dĩ tôi lựa nó làm ví dụ vì nó dễ thử.

Trả lời những câu hỏi trong trắc nghiệm ở trên

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-26.jpg

Mỗi câu trả lời đúng thì tính một điểm. Người nào được 15 điểm là rất tốt, được 10 điểm là trung bình biết cách suy luận chứ không giởi.

Nhưng nên nhớ: Chỉ cho làm trong 10 phút thôi, không được quá.

Chú thích

  1. Coi thêm cuốn Đắc nhân tâm: bí quyết để thành công của Dale Carnegie, Nguyễn Hiến Lê dịch và xuất bản.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tổ chức công việc theo khoa học
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish (12/05/2012, e-thuvien.com)