Sự mở rộng ý nghĩa của các hoạt động xuất hiện lần đầu tiên

1. Sự mở rộng ý nghĩa của các hoạt động xuất hiện lần đầu tiên

Không khác biệt nào dễ nhận ra hơn là sự khác biệt giữa một hoạt động mang tính thể xác đơn thuần và sự phong phú về ý nghĩa mà chính hoạt động ấy có thể mang trong nó. Nhìn bề ngoài, một nhà thiên văn học đang nhìn chăm chú qua một chiếc kính viễn vọng thì giống với một cậu bé đang nhìn qua một ống kính tương tự. Trong mỗi trường hợp đều có sự điều chỉnh ống kính và bộ phận kim loại, con mắt, và một đốm sáng ở phía xa. Nhưng vào một thời điểm quyết định, hoạt động của nhà thiên văn học có thể liên quan tới sự ra đời của cả một thế giới, và bất cứ điều gì đã từng được biết về bầu trời đầy các vì tinh tú thì đều là nội dung có ý nghĩa đối với hoạt động đó. Nói một cách cụ thể, những gì mà con người đã thực hiện được trên quả địa cầu này trong quá trình tiến bộ từ tình trạng dã man chỉ là một vết xước nhẹ trên bề mặt của quả địa cầu, không thể nhận ra vết xước ấy tại một khoảng cách không đáng kể chứ chưa nói gì tới khoảng cách của hệ mặt trời. Song, những thành tựu của con người lại là thước đo đánh giá về ý nghĩa của ngay chính sự khác biệt về văn minh kể từ thời kỳ dã man. Mặc dù các hoạt động đã làm thay đổi điều gì đó, nếu nhìn một cách cụ thể, nhưng sự thay đổi đó là không đáng kể so với sự phát triển của các ý nghĩa gắn liền với các hoạt động. Một hành động có thể đem lại một số lượng vô hạn các ý nghĩa. Tất cả hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh xảy ra của hoạt động, ở đó các mối liên hệ được nhận ra; trí tưởng tượng có thể nhận ra số lượng vô hạn các mối liên hệ.

Hoạt động của con người có lợi thế ở sự chiếm lĩnh và khám phá các ý nghĩa, điều này khiến cho hoạt động giáo dục của con người trở thành điều gì đó khác với việc chế tạo ra một công cụ hoặc huấn luyện một con vật. Chế tạo một công cụ và huấn luyện một con vật tức là làm tăng tính hiệu quả; [nhưng] hai hoạt động đó không đem lại sự phát triển về ý nghĩa. Các hoạt động của giải trí và làm việc [tại nhà trường], như được xem xét tại chương trước [Chương XV], có ý nghĩa giáo dục quan trọng chung cục ở điều sau đây: chúng cung cấp các phương tiện trực tiếp nhất để mở rộng ý nghĩa. Được duy trì trong những điều kiện thích hợp, chúng là các “nam châm” tập hợp và giữ lại các mối hứng thú trí tuệ trên một quy mô không giới hạn. Chúng là những tâm điểm quan trọng để tiếp nhận và đồng hóa kiến thức. Khi kiến thức được cung cấp theo từng khoanh đơn thuần như là thông tin phải ghi nhớ vì mục đích tự thân, khi ấy nó có khuynh hướng xếp thành từng tầng bên trên kinh nghiệm của đời sống. Khi kiến thức tham gia như một nhân tố bên trong một hoạt động được theo đuổi vì mục đích của chính nó - dù nhân tố ấy xét như một phương tiện hay xét như là sự mở rộng nội dung của mục tiêu - nó đang thông báo. Sự hiểu biết trực tiếp kết hợp với điều được thông báo. Khi đó kinh nghiệm cá nhân có thể tiếp nhận và đồng hóa những thành quả cuối cùng của kinh nghiệm của nhóm mà anh ta thuộc về - kể cả những thành quả của khổ đau và thử thách trong suốt những thời đại kéo đài. Với tính chất như vậy, môi trường đó không có điểm “no” cố định khiến cho trẻ em sau đó không còn mối hứng thú nữa. Càng tiếp nhận kiến thức thì trẻ em càng thấy hứng thú. Hễ khi nào trẻ em còn “hiếu kỳ” thì lập tức chúng có thể dễ dàng tiếp nhận kiến thức, và càng tiếp nhận kiến thức thì chúng lại càng có thêm sự hiếu kỳ.

Các ý nghĩa gắn với hoạt động bao giờ cũng liên quan đến tự nhiên và con người. Đó là một sự thật quá hiển nhiên, tuy vậy nó có thêm ý nghĩa khác khi được giải thích bằng các từ ngữ tương tự của giáo dục. Theo cách giải thích ấy, môn địa lý và môn lịch sử cung cấp nội dung giúp trẻ em có các thông tin cần thiết và cách nhìn, cách suy nghĩ mà nếu không thế chúng sẽ chỉ có hành động cá nhân hạn hẹp và những hình thái của kỹ năng chuyên môn đơn thuần. Hễ khi nào chúng ta có thêm khả năng đặt hành động vào đúng mối liên hệ về thời gian và không gian, khi ấy hành động đó sẽ có thêm nội dung có ý nghĩa. Chúng ta nhận ra mình là công dân của cái thành phố không hề tầm thường chút nào khi khám phá ra khoảng không gian mà chúng ta đang sống ở đó, khám phá ra nỗ lực bền bỉ theo thời gian mà mình là người kế thừa và duy trì nỗ lực đó. Vì thế các kinh nghiệm hằng ngày bình thường không còn là sự việc nhất thời, chúng có thêm tính thực chất lâu bền.

Dĩ nhiên nếu như môn địa lý và lịch sử được dạy như là các môn học được làm sẵn mà một người học chúng chỉ bởi vì anh ta được gửi tới trường, thì dễ dàng xảy ra điều sau đây: anh ta sẽ học được vô số những phát biểu về những điều xa rời và xa lạ với mọi kinh nghiệm đời thường. Hoạt động bị phân hóa, và hai thế giới tách biệt nhau được hình thành nên, chúng choán giữ hoạt động ấy tại những giai đoạn tách rời nhau. Sự biến đổi không diễn ra; kinh nghiệm đời thường không được mở rộng về ý nghĩa nhờ có thêm các mối liên hệ; những gì học được thì không có sức sống và không có giá trị thực bởi chúng không tham gia vào hoạt động trước mắt. Thậm chí kinh nghiệm đời thường không được giữ nguyên như chúng vốn thế: hạn hẹp nhưng sống động. Đúng hơn, nó bị mất đi tính chất dễ biến đổi và tính dễ bị gợi ý. Nó bị chất nặng và bị dồn vào một góc bởi một đống những thông tin chưa được đồng hóa. Nó từ bỏ tính nhạy bén linh hoạt và sự háo hức sẵn sàng đón nhận ý nghĩa mới mẻ. Sự đơn thuần tích lũy thông tin tách rời khỏi các mối quan tâm trực tiếp của đời sống khiến cho trí óc trở nên cứng nhắc; nó bị mất đi tính dễ thay đổi.

Thông thường, bất cứ hoạt động nào được thực hiện vì lợi ích của chính nó thì đều vươn ra bên ngoài bản chất trực tiếp của nó. Nó không thụ động chờ đợi được ban cho thông tin mà nhờ đó nó có thêm ý nghĩa; nó tìm kiếm thông tin đó. Hiếu kỳ không phải là một đặc tính cô lập và mang tính ngẫu nhiên; nó là hệ quả tất yếu của điều sau đây: một kinh nghiệm là cái bao giờ cũng biến động, luôn thay đổi, nó bao hàm đủ các loại mối liên hệ với những kinh nghiệm khác. Hiếu kỳ chỉ là khuynh hướng biến những điều kiện đó trở nên có thể nhận ra. Công việc của các nhà giáo dục là cung cấp một môi trường sao cho sự mở rộng kinh nghiệm như nói tới ở trên được đền đáp bằng những thành công và được duy trì ở tình trạng chủ động liên tục. Ở một loại môi trường nào đó, một hoạt động có thể bị ngăn cản khiến cho nó chỉ có thêm ý nghĩa duy nhất sinh ra từ kết quả tách rời có tính trực tiếp và hữu hình của nó. Một người có thể nấu ăn, quai búa hoặc đi lại, và những hệ quả sinh ra từ đó có thể chẳng khiến cho trí óc đi xa hơn những hệ quả của việc nấu ăn, quai búa và đi lại, hiểu theo nghĩa đen hoặc nghĩa cụ thể của các từ đó. Nhưng tuy vậy, những hệ quả của các hành động trên có ảnh hưởng rộng hơn nhiều. Để đi lại người ta phải di chuyển vị trí và cơ thể phải phản ứng lại trước mặt đất cứng, cảm giác xuất hiện ở bất cứ nơi nào có vật chất. Đi lại liên quan đến cơ cấu của các chi và hệ thần kinh; liên quan đến các nguyên lý cơ học. Nấu ăn là sử dụng nhiệt và độ ẩm để làm biến đổi những mối tương quan hóa học của vật liệu thực phẩm; nấu ăn có liên quan với sự đồng hóa thức ăn và sự tăng trưởng của cơ thể. Kiến thức về vật lý, hóa học, sinh lý học của các nhà khoa học dù uyên bác nhất vẫn không đủ để làm cho những hệ quả và mối liên hệ nói trên có thể nhận ra. Nhiệm vụ của giáo dục, một lần nữa, lại là đảm bảo sao cho các hoạt động như vậy được thực hiện bằng những phương pháp và trong những điều kiện sao cho học sinh có thể nhận ra những điều kiện ấy càng nhiều càng tốt. “Học địa lý” tức là học được khả năng nhận ra các mối quan hệ về không gian, các mối quan hệ về tự nhiên - của một hành động bình thường; “học lịch sử” về căn bản tức là học được khả năng nhận ra các mối liên hệ thuộc về con người của một hành động bình thường. Bởi chưng địa lý xét như là một môn học được trình bày có hệ thống thì đơn giản chỉ là số lượng khổng lồ những sự kiện và nguyên lý về môi trường tự nhiên mà chúng ta đang sống và chúng đã được khám phá bằng kinh nghiệm của những người khác, và các hành động cụ thể trong cuộc sống có thể hiểu được là nhờ chúng ta nhận ra mối liên hệ với những sự kiện và nguyên lý đó. Vì thế lịch sử xét như là một môn học được trình bày có hệ thống, chỉ là những sự kiện đã biết về những hoạt động và khổ đau của các nhóm xã hội tồn tại gắn liền với đời sống của chúng ta, và nhờ tham khảo chúng mà chúng ta có thể hiểu rõ được các tập quán và các thiết chế của bản thân chúng ta.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org