Sự đối lập giữa nghĩa vụ và hứng thú

2. Sự đối lập giữa nghĩa vụ và hứng thú

Chắc chắn không có sự đối lập nào thường được nêu ra trong bàn luận về đạo đức nhiều như sự đối lập giữa hành động theo “nguyên tắc” và hành động vì “hứng thú”. Hành động theo nguyên tắc tức là hành động một cách bất vụ lợi, hành động theo một quy luật chung, quy luật này nằm ở bên trên mọi suy xét cá nhân. Hành động theo hứng thú tức là, đúng như lý lẽ vin vào, hành động một cách ích kỷ, vì lợi ích cá nhân. Nó thay thế sự trung thành với quy luật đạo đức bất di bất dịch bằng động cơ cá nhân luôn thay đổi theo thời khắc. Sự đối lập này được dựa trên quan niệm sai lầm về hứng thú đã bị phê phán (xem Chương X), song giờ đây chúng ta sẽ xem xét nó ở một số khía cạnh liên quan đến đạo đức.

Có thể tìm thấy đầu mối để giải đáp vấn đề trên ở việc những người ủng hộ “hứng thú” trong cuộc tranh luận này thường hay sử dụng đến thuật ngữ “tư lợi”. Xuất phát từ giả thuyết cho rằng nếu không có hứng thú về một đối tượng hoặc mục đích, sẽ không thể có động lực, họ đã đi đến kết luận rằng ngay cả khi một người tuyên bố anh ta đang hành động vì nguyên tắc hoặc hành động vì nghĩa vụ, thì anh ta chỉ thực sự hành động chừng nào mà anh ta có “mối lợi gì đó”. Giả thuyết trên là có cơ sở; [nhưng] kết luận thì lại sai. Để đáp lại, một trường phái khác tranh luận rằng, bởi vì con người có khả năng hy sinh rất lớn, thậm chí hành động quên mình, cho nên con người có thể hành động mà không cần có hứng thú. Giả thuyết này cũng có căn cứ, và kết luận thì vẫn sai. Sai lầm của cả hai bên nằm ở một quan niệm sai lầm về mối quan hệ giữa hứng thú và bản ngã.

Cả hai bên đều thừa nhận bản ngã là một đại lượng cố định và do đó nó tồn tại biệt lập. Vì thế mới có một nan đề khắt khe giữa hành động vì hứng thú của bản ngã và hành động mà không cần có hứng thú của bản ngã. Nếu bản ngã là cái cố định và có trước hành động, thế thì hành động vì hứng thú có nghĩa là cố gắng nhận được nhiều thứ hơn cho bản ngã - dù đó là sự giàu có về tiếng tăm, sự tán thưởng của người khác, quyền lực đối với người khác, lợi ích tiền bạc hay khoái lạc. Như vậy, sự phản công của quan điểm nói trên, xét như nó là sự nhạo báng bản tính con người, đã dẫn đến quan điểm cho rằng, những ai hành động một cách cao quý thì tức là hành động mà chẳng hề có hứng thú nào cả. Song nếu đánh giá một cách vô tư, thì có vẻ như rõ ràng rằng một người buộc phải có hứng thú tới công việc anh ta đang làm nếu không anh ta sẽ không làm công việc đó. Một bác sĩ tiếp tục phục vụ bệnh nhân trong một nạn dịch mà anh ta hầu như chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng, nhất định phải quan tâm tới việc thực hiện hiệu quả nghề nghiệp của mình - anh ta quan tâm tới điều đó còn hơn cả sự an toàn của sự tồn tại thể xác của mình. Nhưng sẽ là xuyên tạc khi nói rằng mối hứng thú trên chỉ đơn thuần che đậy một mối hứng thú tới điều gì đó khác mà anh ta nhận được nếu như tiếp tục công việc chữa bệnh quen thuộc của mình - chẳng hạn tiền bạc hoặc sự nổi tiếng hoặc đức hạnh: nghĩa là hứng thú của anh ta chỉ là một phương tiện để đạt được một mục đích ích kỷ cuối cùng. Hễ khi nào chúng ta thừa nhận bản ngã không phải là cái được làm sẵn, mà nó là cái được hình thành liên tục dựa vào việc lựa chọn hành động, khi ấy toàn bộ tình huống sẽ sáng tỏ. Một người có hứng thú duy trì công việc bất chấp nguy hiểm tới mạng sống của mình tức là bản ngã của anh ta được tìm thấy trong công việc ấy; nếu như rốt cuộc anh ta từ bỏ công việc, và chọn sự an toàn và dễ chịu cho bản thân, điều đó nghĩa là anh ta thích trở thành một bản ngã kiểu đó. Sai lầm nằm ở chỗ đặt ra một sự phân lìa giữa hứng thú và bản ngã, và coi bản ngã là mục đích mà mối quan tâm tới mục đích, hành động và người khác chỉ là một phương tiện đơn thuần. Thực ra bản ngã và hứng thú là hai tên gọi để chỉ cùng một sự thật; kiểu hứng thú và mức độ hứng thú thực sự về một điều nào đó sẽ làm bộc lộ đặc tính của bản ngã đang tồn tại lúc ấy. Nếu nhớ rằng hứng thú nghĩa là sự đồng nhất thực sự và luôn thay đổi giữa bản ngã và một đối tượng nhất định, thì toàn bộ nan đề được viện ra ở trên sẽ sụp đổ.

“Vô tư”, chẳng hạn, không có nghĩa là thiếu hứng thú tới điều mình đang làm (nghĩa là lãnh đạm như cái máy), nó cũng không nghĩa là thiếu vắng dũng khí và nghị lực - tức thiếu tính kiên quyết và cá tính. Bất chấp chữ “vô tư” được dùng như thế nào ở mọi nơi khác, trong phạm vi của tranh luận về lý luận cụ thể này, chữ “vô tư” ám chỉ loại mục tiêu và đối tượng thường gây hứng thú cho một người. Và nếu như chúng ta kiểm lại trong đầu các loại hứng thú gợi ra sự áp dụng tính ngữ này, chúng ta sẽ thấy chúng có hai đặc điểm có quan hệ mật thiết với nhau. (i) Bản ngã hào phóng bao giờ cũng tự đồng nhất một cách hữu thức với phạm vi đầy đủ các mối quan hệ bao hàm trong hoạt động của nó, thay vì nó vạch một ranh giới rõ ràng giữa nó và các mối quan tâm bị ngăn chặn vì nó thấy chúng xa lạ và trung lập; (ii) nó điều chỉnh và mở rộng những suy nghĩ quá khứ về bản thân nó nhằm tiếp nhận các hệ quả mới mẻ khi chúng được nhận ra. Khi người bác sĩ khởi đầu sự nghiệp, có thể anh ta không có suy nghĩ gì về bệnh dịch hạch; có thể anh ta không có mối liên hệ hữu thức nào với sự phục vụ trong những điều kiện như vậy. Song, nếu anh ta có một bản ngã phát triển bình thường hoặc tích cực, thì vào lúc anh ta nhận thấy rằng nghề nghiệp của mình có liên quan đến những rủi ro như vậy, anh ta sẽ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro đó xét như là những điều không thể tránh khỏi trong hoạt động của anh ta. Có sự giống hệt nhau giữa hai điều sau: bản ngã phóng khoáng và rộng rãi bởi nó đưa thêm vào thay vì từ chối các mối quan hệ và một bản ngã tự mở rộng nó ra để thừa nhận những mối ràng buộc mà trước đó nó không ngờ tới.

Vào những thời điểm khủng hoảng về thích nghi như vậy - sự khủng hoảng có thể là không đáng kể hoặc nghiêm trọng - có thể xảy ra một sự xung đột tạm thời giữa “nguyên tắc” và “hứng thú”. Bản chất của một thói quen nằm ở sự dễ chịu trong cách hành động đã quen thuộc. Bản chất của một sự điều chỉnh thói quen nắm một nỗ lực không dễ chịu - điều gì đó mà anh ta phải trung thành có chủ tâm. Nói cách khác, người ta dễ đồng nhất hai điều sau đây: bản ngã - tức “thấy có hứng thú” với điều gì mà ta đã quen thuộc, và xua đuổi ý nghĩ ác cảm và khó chịu khi một sự kiện bất ngờ xuất hiện khiến họ phải miễn cưỡng thay đổi thói quen. Bởi vì trong quá khứ ta đã làm tròn bổn phận của mình mà chẳng phải đối mặt với một tình huống khó chịu như vậy, vậy thì tại sao không tiếp tục làm như cũ? Đầu hàng sự cám dỗ này tức là thu hẹp và cô lập tư duy của bản ngã - coi bản ngã là cái hoàn chỉnh. Mọi thói quen đã hình thành vững chắc, bất kể nó gây tác dụng thế nào trong quá khứ, đều có thể đi kèm với sự cám dỗ nói trên vào bất kỳ lúc nào. Trong một tình huống khẩn cấp như vậy, hành động theo nguyên tắc không phải là hành động dựa trên nguyên tắc trừu tượng nào đó hoặc theo bổn phận chung chung; mà đó là hành động dựa trên nguyên tắc của một đường lối hành động thay vì dựa vào các tình huống xảy ra trong trường hợp khẩn cấp đó. Nguyên tắc của một bác sĩ tức là mục tiêu và động cơ thúc đẩy hành động của anh ta: sự chăm sóc người bệnh. Nguyên tắc không phải là cái biện minh một hành động, bởi nguyên tắc chẳng qua chỉ là cách gọi khác của tính liên tục của hoạt động. Nếu hoạt động xét như nó bộc lộ trong các hệ quả, là không mong muốn, khi ấy hành động theo nguyên tắc tức là nhấn mạnh điều không mong muốn ấy của hoạt động. Và một người tự hãnh diện vì đã hành động theo nguyên tắc rất có thể lại chỉ là một kẻ khăng khăng làm theo cách của mình mà không hề rút kinh nghiệm để tìm ra cách làm tốt hơn. Anh ta tưởng rằng một nguyên tắc trừu tượng nào đó biện minh cho đường lối hành động của anh ta mà không thừa nhận rằng chính nguyên tắc ấy cần được chứng minh.

Tuy nhiên, giả sử các điều kiện của nhà trường đã cung cấp các hoạt động đáng mong muốn, thì hứng thú tới hoạt động xét như cái toàn bộ - nghĩa là quan tâm tới sự phát triển liên tục của hoạt động - mới là điều giữ cho một học sinh có hứng thú tới công việc của mình bất chấp những trò giải trí nhất thời và những trở ngại không dễ chịu, ở đâu không tồn tại hoạt động mang một ý nghĩa tăng dần, ở đó kêu gọi đến nguyên tắc chỉ hoặc là nói suông đơn thuần, hoặc là một dạng của sự tự phụ ngoan cố hoặc sự kêu gọi đến những mối quan tâm xa lạ được khoác bên ngoài bằng một danh xưng trang trọng. Dĩ nhiên có những thời điểm mà hứng thú chỉ tồn tại trong chốc lát và sự chú ý bị suy giảm, khi ấy sự củng cố mối hứng thú là điều cần thiết. Nhưng một người vượt qua được những giai đoạn khó khăn này không phải nhờ vào lòng trung thành với nghĩa vụ xét về lý thuyết, mà nhờ vào mối hứng thú tới việc làm của anh ta. Nghĩa vụ nghĩa là “các trách nhiệm” - chúng là những hành động cụ thể không thể thiếu để hoàn thành một mục đích - hoặc nói theo ngôn ngữ giản dị, nghĩa vụ tức là làm công việc của mình, và một người thực sự có hứng thú với công việc của mình tức là người có khả năng chịu đựng sự chán nản nhất thời, làm việc bền bỉ bất chấp trở ngại, không nề hà gian khổ: anh ta thấy hứng thú trong việc đối mặt và vượt qua các khó khăn và sự sao nhãng.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org