Quy tắc cơ bản về sắp xếp các cục

Quy tắc cơ bản về sắp xếp các cục

"Kì môn" là gì? "Độn giáp" là gì? Hai từ này nếu xét riêng thì không thể nào nói rõ được, chỉ khi kết hợp chúng với dương độn, âm độn mới có thể làm sáng tỏ. Tương tự, dương độn và âm độn nếu không kết hợp với kì môn, độn giáp để giải thích thì cũng không thể nói rõ được.

Ứng dụng cụ thể của kì môn độn giáp là thông qua bàn quay trên đó có bố trí các cục để thực hiện. Bàn quay là bàn trên đó kết hợp sự sắp xếp tương ứng giữa bát môn, cửu tinh, cửu thần trên cửu cung của lạc thư theo năm, tiết lệnh, giờ khác nhau. Quy tắc cơ bản của sự tổng hợp này là dương độn và âm độn. Trong mục này, trên cơ sở làm rõ khái niệm cơ bản về âm độn, dương độn ta sẽ có một thuyết minh tổng quát vê bố cục bàn quay để đặt nền tảng cho phương pháp bố trí sau này.

Giở các sách về Độn giáp học ra, ta thấy người xưa giải thích "độn giáp" như sau: Lục giáp là thần qúy của trời, thường ẩn dưới lục nghi. Lục nghi là: mậu, kỉ, canh, tân, nhâm, qúy. Giáp tí cùng lục nghi mậu, giáp tuất cùng lục nghi kỉ, giáp thân cùng lục nghi canh, giáp ngọ cùng lục nghi tân, giáp thìn cùng lục nghi nhâm, giáp dần cùng lục nghi quý. Độn giáp lấy giáp làm thần thái ất, đứng đầu mười can, thường ẩn dưới lục nghi, cho nên gọi là "độn giáp". Cái đáng sợ là canh kim, vì canh kim có thể khắc giáp mộc, canh là thất sát. Ất là em gái của giáp. Giáp gả ất cho canh, ất hợp với canh có thể cứu giáp, cho nên ất là "kì thứ nhất" (của tam kì). Bính là con trai của giáp. Bính hỏa có thể khắc canh kim mà cứu giáp nên bính là "kì thứ hai”. Đinh là con gái của giáp. Đinh hỏa cũng có thể khắc canh kim cứu giáp, nên đinh là "kì thứ ba". Tam kì ất, bính, đinh, ất là mặt trời, bính là mặt trăng, đinh là sao, du hành khắp mười hai chi, dương đi theo chiều thuận, âm đi theo chiều ngược...

Cách nói ví như nói về người này, tuy đã nói tỉ mỉ nhưng nghe vẫn rất huyền bí. Nhưng đó là cổ nhân trong quá trình thực tiễn lâu dài dưới trạng thái công năng mà tổng kết nên. Muốn dùng ngôn ngữ khoa học hiện đại để "phiên dịch" ra là điều rất khó. Chúng tôi chỉ mong thông qua phương pháp lập quẻ và dự đoán để làm rõ ý tứ của vấn đề là được.

Trong phương pháp lập quẻ dự đoán theo âm độn, trước hết ta cần làm sáng tỏ hai khái niệm: dương độn và âm độn. Theo từ điển "Từ nguyên" giải thích: dương độn và âm độn là "phương pháp bố cục cửu cung của thuật động giáp. Dương cục theo chiều thuận âm cục theo chiều ngược. Theo Thanh kí đại khuê "Sĩ học bị dư", "Tam nguyên ca" thì: "Lục giáp nguyên hiệu tên lục nghi, còn tam kì là: ất, bính, đinh, dương độn thuận nghi nghịch kì; âm độn nghịch nghi thuận kì". Tức là: Độn giáp học khi lấy quẻ, đầu tiên phải xác định việc cần đoán phát sinh ở tiết khí nào. Nếu phát sinh vào nửa năm từ đông chí đến hạ chí thì người xưa cho rằng trong khoảng thời gian này dương khí đang hồi sinh và tăng dần đến đỉnh điểm, nên dùng dương cục. Đặc điểm của nó là lục nghi tính thuận, tam kì tính ngược. Nếu việc đó phát sinh trong khoảng từ hạ chí đến đông chí thì vì thời gian này âm khí đang phục hồi và vắng dần đến cực thịnh nên dùng âm cục.

Đặc điểm của nó ngược với dương cục, lục nghi tính ngược, tam kì tính thuận.

Nói cụ thể hơn là như sau: Mười thiên can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỉ, canh, tân, nhâm, quý, giáp đứng đầu, bị "độn" mất nên chỉ còn lại tam kì và lục nghi. Lục nghi là: mậu kỉ, canh, tân, nhâm, quý; tam kì là: ất, bính, đinh. Giáp bị "độn" không có nghĩa là mất mà nó vẫn tồn tại, vẫn thống quản các thiên can khác, chẳng qua nó chỉ xuất hiện dưới binh thức tàng ẩn. Độn giáp học là nói về cách chọn thời gian không gian, mười thiên can là phù hiệu ghi thời gian. Một nguyên chủ mười giờ, theo trình tự nội tại của sáu mươi hoa giáp tí thì giáp tí tàng ở mậu, giáp tuất tàng ở kỉ, giáp thân tàng ở canh, giáp ngọ tàng ở tân, giáp thìn tàng ở nhâm, giáp dần tàng ở quý. Tức là lục giáp dùng lục nghi thay mình. Do đó người xưa dùng chữ số quy định dương độn lục nghi tính thuận, tam kì tính ngược, âm độn lục nghi tính ngược, tam kì tính thuận như sau:

Dương độn lục nghi tính thuận tức số của nó đếm thuận từ 1 đến 9, còn vị trí tam kì đảo ngược lại. Âm độn lục nghi tính ngược từ 9 đến 1, còn tam kì tính thuận theo 1,2,3.

Ý nghĩa sâu xa của quy định này ở đây ta không bàn đến. Nhưng có một điều rất rõ là trong mười thiên can, sau khi giáp đã độn mất thì còn lại tam kì và lục nghi. Ta có thể sắp xếp chúng theo cửu cung của lạc thư.

Độn giáp học miêu tả quy luật vận động của tự nhiên khác xa so với "Chu dịch". Hệ thống kết cấu của "Chu dịch" là hệ đếm nhị phân, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái tổ hợp lại thành 64 quẻ. Còn độn giáp học chủ yếu phát triển theo tam nguyên chế. Bố cục của độn giáp phân thành tam nguyên là: thượng, trung, hạ nguyên. Cung 1 thượng nguyên bắt đầu từ giáp tí, cung 4 trung nguyên bắt đầu từ giáp tí, cung 7 hạ nguyên bắt đầu từ giáp tí. Phương thức tam nguyên chế này ứng dụng cụ thể vào trong tính toán kì môn: năm, tháng, ngày. Năm kì môn và nguyệt (tháng) kì môn đều chia thành tam nguyên, còn nhật (ngày) kì môn cứ ba ngày làm thành một cục tính theo chiều thuận, hết một vòng lục giáp thì lặp lại. Sự ứng dụng của tam nguyên chế này rất điển hình.

Nguyên lí này thống nhất với tư tưởng "Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba" của Lão Tử. Cứ mỗi ba ngày nhảy qua một quẻ, nó phản ánh nhận thức thô sơ về quy luật lượng biến thành chất, đồng thời cũng là sự phản ánh đặc thù của tính vận động phức tạp của thế giới tự nhiên. Phương pháp bố cục quẻ đoán cũng được phát sinh từ đó.

Căn cứ tư tưởng tam tài của "Chu dịch", Độn giáp học trong bố cục lập quẻ chủ yếu thông qua ba bàn quay để thể hiện. Đó là thiên bàn, địa bàn, nhân bàn. Cách bố trí bàn là then chốt của lập quẻ. Theo nguyên tắc căn cứ tiết, khí để xác định dương độn hay âm độn và "lắp" bát môn, cửu tinh, cửu thần với cửu cung của lạc thư để tìm ra phương vị tốt, xấu. Bất cứ thời điểm nào cũng đều có thể xác định được một kết quả cụ thể.

Sử dụng bàn quay có sáu yếu tố, thiếu một yếu tố là không được. Lấy ngày quý sửu, tháng 12, năm nhâm quý, phương đông bắc làm ví dụ. Trên bàn quay trong khung phương đông bắc có sáu chữ: mậu, anh, lục, nhâm, sinh, tước, đại biểu cho sáu yếu tố khi sử dụng bàn quay không thể thiếu được.

Mậu: biểu thị thứ tự của lục nghi trên thiên bàn, tức đại biểu cho thiên bàn.

Anh: tức sao thiên anh, thuộc hệ cửu tinh.

Lục: là số của cửu cung trên lạc thư, sau khi quay được dời đến đó.

Nhâm: là một trong lục nghi biểu thị địa bàn.

Sinh: tức sinh môn, thuộc hệ bát môn.

Tước: tức chu tước, thuộc hệ cửu thần (hoặc bát thần)

Trình tự sử dụng bàn độn giáp thường chia làm tám buớc.

1. Tra hoặc tính ra can chi giờ của sự việc muốn đoán phát sinh.

2. Xác định dương độn hay âm độn.

3. Đặt vị trí địa bàn.

4. Quay thiên bàn đến vị trí tương ứng.

5. Quay cửu cung đến vị trí tương ứng.

6. Quay bát quái đến vị trí tương ứng.

7. Quay cửu tinh đến vị trí tương ứng.

8. Quay bát thần (hay cửu thần) đến vị trí tương ứng.

Cần nói rõ rằng: Đời xưa tổng kết ra phương pháp bàn quay Độn giáp không phải chỉ có một loại mà là nhiều loại. Có loại phức tạp, có loại đơn giản, có loại tốt, có giá trị, có loại không có giá trị mấy. Do đó tám bước trên đây không phải là cố định mà tùy loại bàn quay khác nhau thì có khác nhau. Nhưng cho dù phương pháp nào thì khi sử dụng bàn quay Độn giáp trước hết phải xác định giờ và tiết khí. Vì vậy dưới đây ta sẽ giới thiệu kiến thức tiết khí có liên quan với Độn giáp học, phương pháp xác định giờ và những kiến thức khác của Độn giáp học mà ta cần nắm vững.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Địa lợi
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyễn Văn Mậu
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Ebook: TVE-4U.org
"Like" us to know more!