Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

II. PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT. QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1. Khái niệm phương thức sản xuất (PTSX)

a. Định nghĩa PTSX

Phương thức sản xuất là cách thức sản xuất ra của cải vật chất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, trong đó lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định thống nhất với các quan hệ sản xuất tương ứng với nó.

b. PTSX là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội

Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội. Ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau, con người tiến hành sản xuất vật chất theo một PTSX nhất định. Đồng thời sản xuất vật chất phải được tiến hành với những yếu tố không thể thiếu được, đó là điều kiện địa lý và dân số. Nói một cách khác: PTSX, điều kiện địa lý và dân số là các nhân tố tất yếu của sản xuất và đời sống. Xét về vai trò của các nhân tố đó đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội thì PTSX đóng vai trò quyết định bởi các lẽ sau đây:

  • Muốn tạo ra của cải vật chất đảm bảo yêu cầu sống còn của con người và xã hội thì con người nhất định phải tìm ra một PTSX phù hợp với giai đoạn lịch sử của mình. Trước hết xét về mặt kinh tế thì phương thức sản xuất phù hợp với xã hội trong những giai đoạn nhất định là nhân tố quyết định sự kết hợp tốt giữa tư liệu sản xuất và người lao động để tạo ra của cải vật chất.
  • Phương thức sản xuất quyết định chế độ xã hội, kết cấu các giai tầng trong xã hội. PTSX khác nhau quy định chế độ xã hội khác nhau. Ở các xã hội có giai cấp đối kháng, phương thức sản xuất của giai cấp thống trị là cơ sở qui định vị trí và quan hệ của tất cả các giai cấp, các tầng lớp dân cư và toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội đó.
  • Khi phương thức sản xuất thay đổi thì sớm hay muộn các quan hệ và đời sống tinh thần của xã hội cũng sẽ thay đổi theo.
  • PTSX quyết định sự vận động và phát triển của lịch sử. Do sự tác động của các yếu tố nội tại trong PTSX theo những quy luật nhất định dẫn đến sự mất đi của PTSX cũ và sự ra đời của PTSX mới cao hơn. Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao.
  • Điều kiện địa lý và dân số là những yếu tố thường xuyên và tất yếu, chi phối nhiều mặt đến sản xuất và đời sống nhưng không đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.

$Tóm lại PTSX quyết định mọi mặt của đời sống xã hội. Do vậy khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, phải bắt đầu từ việc nghiên cứu phương thức sản xuất ứng với giai đoạn xã hội đó. Cũng chính với ý nghĩa ấy muốn thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế thì phải có những biện pháp tối ưu tác động nhằm hoàn thiện PTSX tiên tiến.

2. Nội dung của PTSX

a. Lực lượng sản xuất

  • Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và người lao động
    • Tư liệu sản xuất (tlsx): Bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.

+ Đối tượng lao động là cái người ta đang tác động vào hoặc hướng sự tác động vào để biến nó thành những vật có giá trị. Đối tượng lao động có thể là cái có sẵn trong tự nhiên hoặc là cái qua lao động rồi

+ Tư liệu lao động là cái đặt giữa người lao động và đối tượng lao động trong quá trình sản xuất. Tư liệu lao động gồm có công cụ lao động và các tư liệu khác.

+ Công cụ lao động là cái mà con người dùng để tác động trực tiếp vào đối tượng lao động để làm ra của cải vật chất. Công cụ lao động là yếu tố cách mạng nhất, nó luôn luôn được cải tiến xuất phát từ nhu cầu khách quan của con người là làm sao giảm nhẹ lao động mà năng suất lao động càng cao. Công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người và cũng là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế kỹ thuật trong lịch sử."Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào".

+ Những tư liệu khác như: hệ thống kho, bến bãi, bồn chứa, hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc … Chúng có vai trò phục vụ cho sản xuất. Các Mac gọi công cụ lao động là hệ thống xương cốt còn những tư liệu khác là hệ thống mạch máu của quá trình sản xuất.

    • Người lao động: Người lao động giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất vì chính con người chế tạo ra tư liệu lao động, luôn luôn cải tiến và sử dụng nó để tiến hành sản xuất. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếu không được con người sử dụng thì không thể phát sinh tác dụng, không thể trở thành lực lượng hữu ích cho xã hội. Sự tiến bộ của tư liệu lao động là sự thể hiện năng lực sáng tạo của con người trong thực tiễn.

+ Lực lượng sản xuất là nhân tố khách quan: Lực lượng sản xuất do con người tạo ra, song nó vẫn là một nhân tố khách quan, là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử loài người. lực lượng sản xuất được kế thừa và phát triển liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác, mỗi thế hệ khi mới sinh ra, không thể tự chọn cho mình một trình độ lực lượng sản xuất như mong muốn.

+ Mac viết: "Lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người; nhưng bản thân năng lực này bị quyết định bởi những điều kiện trong đó người ta sống, bởi những lực lượng sản xuất đã đạt được, bởi hình thái xã hội đã có trước họ, không phải do họ tạo ra, mà do thế hệ trước tạo ra".

b. Quan hệ sản xuất (QHSX)

  • Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất bao gồm: 1. Quan hệ về sở hữu đối với TLSX; 2. Quan hệ trong việc tổ chức và quản lí sản xuất; 3. Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động. Ba mặt này của QHSX quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về TLSX có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.

+ Quan hệ sở hữu đối với tlsx thể hiện ờ chỗ tlsx thuộc về ai (ai có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt). Lịch sử xã hội loài người đã có 2 chế độ sở hữu đối với TLSX, đó là chế độ sở hữu tư nhân và chế độ sở hữu xã hội. Sở hữu xã hội là chế độ sở hữu mà trong đó những TLSX chủ yếu thuộc về mọi thành viên trong xã hội, trên cơ sở đó, họ có vị trí bình đẳng trong tổ chức lao động xã hội và phân phối sản phẩm. Sở hữu tư nhân là quyền sở hữu đối với TLSX thuộc về cá nhân. Lịch sử đã có 3 hình thức sở hữu tư nhân điển hình (sở hữu chiếm hữu nô lệ, sở hữu phong kiến, sở hữu TBCN). Tương ứng với 3 hình thức sở hữu trên là 3 chế độ người bóc lột người, nguồn gốc sản sinh ra mọi bất bình đẳng xã hội.

+ Hiện nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước ngày càng giữ địa vị chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

+ Thừa nhận đa dạng hóa các loại hình sở hữu không đồng nghĩa với việc chấp nhận chế độ người bóc lột người. Tuy nhiên trong thời kỳ quá độ, nhất định còn có sự cách biệt về địa vị, về thu nhập giữa các thành viên trong các thành kinh tế khác nhau. Nhưng với định hướng XHCN, sự cách biệt ấy sẽ được khắc phục dần bởi sự lớn mạnh của các loại hình sở hữu xã hội, bởi sự bảo vệ người lao động của hệ thống luật pháp XHCN, hàng loạt những chính sách kinh tế - xã hội có nhiệm vụ điều chỉnh và định hướng để đi tới việc xóa bỏ dần mọi áp bức, sự bóc lột và nguồn gốc của bóc lột.

+ Quan hệ tổ chức quản lý sản xuất có vai trò rất quan trọng. Quan hệ tổ chức quản lý sản xuất là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ và hiệu quả của sản xuất.

+ Quan hệ phân phối sản phẩm phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, và phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất nhưng đến lượt mình, nó tác động trực tiếp đến lợi ích của người lao động, trở thành một động lực để tăng trưởng kinh tế.

Từ đó cho thấy hai quan hệ này có thể củng cố hoặc làm biến dạng quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Như vậy chúng ta không được tuyệt đối hóa mặt nào mà phải chú ý một cách toàn diện và đúng mức cả ba mặt của quan hệ sản xuất.

  • Quan hệ sản xuất được hình thành và phát triển một cách khách quan. Bởi vì muốn tiến hành sản xuất, con người phải có quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau để cùng hoạt động, cùng trao đổi kết quả lao động, do đó sản xuất bao giờ cũng có bản chất xã hội. Mac viết: "Người ta chỉ sản xuất được bằng cách hợp tác với nhau một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, và chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức sự sản xuất".

3. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tác động qua lại với nhau. Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX chịu sự tác động của nhiều quy luật xã hội, trong đó quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” là quy luật phổ biến chung nhất.

a. Trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, biến đổi và phát triển của QHSX

  • Trình độ của LLSX thể hiện ở trình độ phát triển của công cụ lao động; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động; trình độ phân công lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; năng suất lao động. Trình dộ của LLSX quyết định tính chất của LLSX, trình độ của LLSX càng cao thì tính chất xã hội của LLSX càng cao.
  • Trình độ LLSX quyết định QHSX tương ứng. LLSX biến đổi đòi hỏi QHSX phát triển theo cho phù hợp.
  • Khuynh hướng của sản xuất xã hội là không ngừng tiến bộ. Sự tiến bộ đó xét cho cùng bắt đầu từ sự phát triển của LLSX. Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động năng nhọc, con người không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới. Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng của người lao động cũng ngày càng phát triển. Do vậy LLSX là yếu tố thường xuyên biến đổi, nó quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của QHSX. Mac nói: "Do có được những LLSX mới, loài người thay đổi quan hệ sản xuất của mình và do thay đổi cách làm ăn của mình, loài người thay đổi tất cả các quan hệ sản xuất của mình".
  • Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự kết hợp đúng đắn giữa các mặt của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất đem lại phương thức liên kết giữa người lao động với tư liệu sản xuất đạt hiệu quả cao nhất để có sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Tuy nhiên, sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn. Nghĩa là lực lượng sản xuất biến đổi đến mức nhất định thì mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có và đòi hỏi tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội là quan hệ sản xuất cũ nhất thiết phải bị xóa đi để thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới. Trong lịch sử, việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thay bằng quan hệ sản xuất mới được thực hiện bằng cách mạng xã hội.
  • Các- Mac viết: "Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có... mà trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc CMXH"
  • Lịch sử chứng minh rằng do sự phát triển của lực lượng sản xuất, loài người đã 4 lần thay đổi quan hệ sản xuất gắn liền với 4 cuộc cách mạng xã hội, dẫn đến sự ra đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội. (*1)

b. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất

  • Quan hệ sản xuất không hoàn toàn phụ thuộc vào lực lượng sản xuất một cách thụ động mà quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
  • Quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó quan hệ sản xuất tác động trực tiếp đến lợi ích và thái độ của quảng đại của quần chúng lao động (lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội). Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó kích thích việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao động.v.v. tạo ra năng suất lao động cao. Còn ngược lại, làm cho năng suất lao động thấp, sản xuất bị đình đốn, năng lực sáng tạo của người lao động bị mai một.

c. Tác động của quy luật

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, nó tác động trong toàn bộ lịch sử xã hội loài người. Sự thay thế, phát triển của xã hội loài người từ xã hội công xã nguyên thủy lên chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là căn bản nhất.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang