Phật giáo

PHẬT GIÁO

Phật giáo do ở đạo Bà La môn mà ra, nguyên trước Thiên chúa giáng sinh, dân tộc Á Lợi An tràn vào đất Ân Độ, ở rải rác một dọc sông Hồng Hà, dựng ra thành nhiều nước nhỏ. Dân từ đó chia ra làm bôn bậc người: bậc thứ nhất, gọi là Bà la môn, có bọn thầy tu làm chủ, coi riêng việc tế tự, bậc thứ nhì gọi là Lý đế lợi, các quý tộc làm chủ, coi về quyền chính trị, bậc thứ ba gọi là Phệ xá tức là hạng bình dân, bậc thứ tư gọi là Thủ đá chỉ làm nô lệ mà thôi.

Đạo Bà la môn vẫn thông hành ỏ xứ đó. Đến sau có ông Thích ca mầu ni, thấy bọn thầy tu đạo Bà la môn sinh lắm điều tệ, và lại thấy người ta ai cũng ở trong vòng luân hồi, chịu những cảnh khổ não, như là: sinh, lão, bệnh, tử là bôn cái kiếp khốn nạn, vì thế chán đời mà cầu một phép để giải thoát cái khổ não ấy, mới dựng ra một tôn giáo riêng gọi là Phật giáo. Môn đồ về sau suy tôn ông ấy gọi là Phật Tô Như Lai.

Nguyên ông ấy họ là Thích Ca, tên là Cô Đàm (Gôlama) tự là Tất Đại Đa, con vua nước Ca Duy Vệ (một nước nhỏ trong nước Ân Độ) tên là Tình Phạm Đồ đầu gia, Phật mẫu tên là Tĩnh Diệm. Sách Phật nói rằng: "Bà mẹ chiêm bao thấy người vàng đầu thai, mà sinh ra Ngài". Lại có sách nói rằng: "Bà mẹ chiêm bao thấy con voi trắng sáu ngà, biến thành hào quang soi vào bụng, rồi có mang mười tháng, đến lúc sinh thì sinh ra đằng sườn phía hữu, tự nhiên có cái hoa sen nấy ra để đỡ ngài lên, lại có hai con rồng ở trên trời xuống trông nom săn sóc. Ngài màu da vàng, lông tóc dựng ngược. Sinh ra khỏi, Ngài bước đi bẩy bưốc, một tay chỉ lên tròi, một tay chỉ dưới đất mà thét lên rằng: "Trên thi trời, dưới thì đất, duy có ta là quý hơn cả". Lòi ấy chắc cũng là môn đồ bầy ra.

Ngài sinh bấy giờ là ngày mồng tám tháng tư, nhưng không tường về năm nào. Một môn phái ở phía Bắc Ân Độ, thì nói sinh về năm 1028 trước Thiên Chúa váo khoảng đòi vua Chiêu Vương nhà Chu, một môn phái ở phía Nam Ân Độ thì cho vào chừng năm 624 trước Thiên Chúa, nhưng các nhà bác học thái tây bây giò thì cho vào chừng năm 558 hoặc 520; cùng một thời với Đức Khổng Tử.

Ong Thích Ca cũng đã lấy ba vợ, sinh được một con trai tên là La Hầu La. Năm hai mươi chín tuổi (đây theo sách An Độ, chố sách Tàu thì nói năm mười chín tuổi) xảy thấy một người già yếu,tàn tật vào ăn xin, mới suy nghĩ ra đòi người toàn là cảnh khổ, lập tức đêm ấy bỏ nhà vào rừng đi tu. Trước hết vào tu ở núi Đàn Đặc và núi Toàn Sơn, sau đến tu ở xứ Xá Vệ, ngày ngày mặc áo cà sa ngồi dưới gôc cây đê tĩnh niệm nghĩ cách giải thoát. Được bảy năm, xẩy tỉnh ngộ được đạo huyền diệu, tự xưng là Bồ Đà (bouddha) nghĩa là trong tâm tính đã sáng suổt cả rồi, từ bấy giờ mới đi truyền đạo.

Tục truyền ông ấy về sau ăn mỡ lợn, phát trưống mà mất ở nơi Câu Thi. Lúc gần mất, ông ấy nói rằng: "Nay ta đã lên cõi Niết Bàn, nghĩa là lên đến chò cực lạc thế giới".

Ngài mất rồi, các học trò soạn nhặt các lời di ngôn, tập lại thành sách, cả thấy bôn mươi hai chương, chia là ba quyến gọi là kinh Tam Tạng. Tạng nghĩa là chứa, vì các lời ngài chép ra chứa vào một chỗ, cho nên gọi là tạng. Tam Tạng:

1. Kinh tạng, là những lời luân thường đạo lý;

2. Luật tạng, là những lời trời cấm;

3. Luận tạng, là những lời nghị luận.

Mục đích đạo Phật chỉ có hai chữ hư vô là kiêm hết. Có câu rằng: "Hết thảy không có cái gì, chỉ vì cái nhân duyên mà sinh ra. Nay dẫu tạm có, nhưng bản tính vẫn là không. Người đời càn dở giữ lấy cho làm của mình có, cho nên Đức Như Lai ra đời, lấy một chữ vô mà phá cái hoặc ấy". Mấy câu ấy đủ rõ đạo Phật.

Đạo Phật chia trong cơ thê, gọi là Lục côn (sáu cái góc) là:nhãn (mắt), nhĩ (tai), tị (mũi), thiệt (lưỡi), thân (mình), ý (ý tưởng). Các ngoại vật động tới cơ thế, gọi là Lục trần (sáu cái bụi) là: sắc (sắc đẹp), thanh (tiếng hay), hương (mùi thơm), vị (vị ngon), súc (chạm tới mình), pháp (tưởng tượng).

Lại có Ngũ giới (năm điều cấm) là: bất sát sinh (không được giết súc vật), bất đạo (không được trộm cắp), bất gian dâm (không được gian dâm), bất vọng ngôn (không được nói càn), bâ"t ẩm tửu, thực nhục (không được uống rượu, ăn thịt).

Phép Phật lại có cách toạ thiền. Tọa thiền là người tu hành ngồi nhắm mắt ngoảnh mặt vào vách, tĩnh hết lòng trần dục, không nghĩ ngợi gì. Có bốn bậc:

1. Sơ thiền, không lo lắng.

2. Nhị thiền, không khổ não.

3. Tam thiền, rất vui sướng.

4. Tứ thiền, không phải chịu vòng luân hồi nữa.

Luân hồi là kiếp trưôc làm nhũng điều tội ác, thì

chết xuống âm phủ phải chịu những tội khổ sở, rồi kiếp sau lại phải làm các giống súc vật, hoặc phải đày đọa những cảnh khô ải.

Dưới âm phủ có một trăm ba mươi sáu động là những nơi ngục hình làm tội người ác. Những lòi ấy là cách để khuyên cho người ta làm thiện mà chớ làm ác đấy thôi.

Nói rút lại thì đạo Phật có hai chú ý: một là sự khổ não, hai là giải thoát sự khổ não. Khổ não là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vồng luân hồi thì khỏi khổ, vậy thì bỏ hết lòng dục trói buộc ở trần thế, thì ra được ngoài vòng luân hồi rồi mới lên được cõi Niết bàn, nghĩa là lên cõi không không là nơi cực lạc thế giới.

Trên này nói đại khái nguyên ủy đạo Phật, còn đạo Phật thịnh hành ở Ân Độ và truyền bá sang Tàu, sang ta, thì trong Việt sử yếu của cụ Quận Hoàng nói đã tường, nay xin nhắc lại mà dịch như sau này:

"Sau khi ông Thích Ca mất, học trò là Ma Kha Ca Diệp hội hết đồ đệ ở thành Vương Sá cả thảy năm trăm người, đó là lần thứ nhất Phật giáo hội tụ. Cách một trăm năm nữa. Gia Sá Đa lại họp đệ tử ở Đốn Sá cả thảy bảy trăm người, đó là lần thứ hai Phật giáo hội tụ. Tuy vậy trước sau trong ba trăm năm, Phật giáo lưu truyền, chỉ ở quanh một dải sông Hằng Hà. Đến đòi vua Mao Lị Gia dựng nước ở giữa đất Ân Độ, hết sức mà chủ trì Phật giáo, thì Phật giáo mới lan khắp cả xứ Ân Độ. Trước Thiên Chúa hai trăm ba mươi bốn năm (năm thứ năm mươi bổn đời Châu Noãn Vương), vua Kế Ma đại hội ở Kinh Đô, duy lấy Phật giáo làm tôn chủ, bắt ép người trong nước phải theo, và sai bọn thầy chùa làm giáo sĩ, đi ra ngoại quốc mà truyền đạo: từ đó Phật giáo mới lan cả ra thế giổi vậy.

Nước Tàu từ khi Ban Siêu (vào đời Hán Võ để) đi sứ Tây Vực trở về thì danh hiệu Phật ỏ phương Tây, mới thấu đến tai người Tàu. Năm Vĩnh Bình thứ tám đời vua Minh Đế nhà Hán (sau Thiên Chúa sáu chục năm), vua sai người Thái Tịch sang Tây Trúc cầu Phật. Thái Tịch mang kinh Phật và hai thầy tăng là Nghiệp Mã Đằng, Chúc Pháp Lan về Lạc Dương, vua sai lập chùa Bạch Mã để thờ Phật, về sau có bọn Chi Đầu Đà, Mã An Thế, Khang Mạnh Tường mới dùng chữ nho mà dịch kinh nhà Phật để dạy người Tàu, các người ấy toàn là người Ân Độ đến ở Tàu.

Năm Long An thứ ba đời vua A Đế nhà Tần (402) có người Pháp Hiển qua chơi Ân Độ, đi du lịch hơn ba chục nước, rồi tự Tích Lan đảo vượt bể Nam Hải, mà về nước. Năm Đại Thông đời vua Vũ Đế nhầ Lương (532), người Phổ Văn và người Tuệ Sinh sang phía Bắc nước Ân Độ, đem kinh Phật về nước. Năm Trình quân thứ ba đời vua Thái Tôn nhà Đường, thầy chùa là Huyền Trang đi men Tây Tạng sang Ân Độ mua được kinh Phật sáu trăm năm mươi bản. Năm Hàm Thanh thứ hai đời vua Cao Tôn nhà Đường (726) thầy chùa là Nghĩa Tinh đi qua bể Nam Hải sang Ân Độ, lấy được kinh Phật bôn trăm bản, ấy đều là người Tàu sang Ân Độ.

Đương khi nước ta nội thuộc, người Tàu tôn tín thì người nước ta cũng tôn tín, ấy gọi là chủ đi đường nào thì theo đi đường ấy. Xét khi nội thuộc nhà Lương, có người Lý Phật Tử, Lý là họ, Phật Tử là tên, chắc là tục cầu tự di truyền lại, mà thói mộ đạo Phật đã lâu chăng?

Xét ở cựu sử chép năm Thái Bình thứ hai đòi vua Tiên Hoàng nhà Đinh, vua mến đạo Phật, dùng người Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt thái sư. Đời vua Đại Hành nhà Lê, sứ Tàu đến nước ta, bao nhiêu tò bồi vãng lai đều do ở tay Khuông Việt. Sau vua lại sai sứ sang Tàu cầu kinh Tam Tạng, vậy thì Phật giáo truyền sang nước ta từ đó.

Vua Lý Thái Tổ là một vị vua chúa mà học thầy chùa là Vạn Hạnh; người nước ta như Từ Đạo Hạnh, Khổng Lộ, Mẫn Giác, Lư Ân đều là bậc danh nho mà thâm thúy về Phật học. Từ nhà Đinh đến nhà Lý, dựng chùa tô tượng không lúc nào không có, vậy thì Phật giáo thịnh hành ở nước ta cũng đã lâu.

Song đương bấy giò, các bậc danh công như ông Phạm Sư Mạnh, ông Lê Bá Quát cũng đã bài bác đi rồi. Đến đời Vua Lê Thánh Tôn, lại cấm dân không được lập chùa mới, vậy Khang giáo mỗi ngày một thịnh, thì phật giáo mỗi ngày một suy, cũng là cái thềm bậc Tiến hóa tự nhiên đó.

Xét đạo Phật lấy hư vô làm tôn chỉ, chủ ý rằng hết thảy chúng sinh nếu bỏ hết lòng ham muốn mà rũ sạch cái bụi đời bám vào mình, thì ngày sau mình được hưởng cái phúc hậu vô lượng. Cái mục đích ấy cũng cao, cái chủ ý ấy cũng lạ. Song hiềm vì đạo Phật bày ra lắm điều kỳ ảo, nào luân hồi, nào siêu thoát, nào hoạ phúc, nào nhân quả, nói toàn những mốì dị đoan, làm cho lòng người mê tín, mà không ích cho sự thật cho nên đạo nho phải bác đi mà không cho là chính đạo.

Tuy vậy, Phật giáo củng là một đạo giáo, người tầm thường vị tất đã hiêu thấu lý cao sâu của nhà Phật, thì cũng chớ nên bài bác khinh bỉ mà thành ra một người vô hạnh.

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!