Phẩm hạnh và gia phong

12. Phẩm hạnh và gia phong

Về mặt kinh tế, như đã nói ở phần trên, tôi luôn giữ lối sống của mình và suốt đời không định thay đổi. Về hành trạng của bản thân thế nào, sau khi lập gia đình ra sao, tôi sẽ xin kể lại nguyên vẹn về sự tình đó.

Không có bạn thân

Về mặt kinh tế, như đã nói ở phần trên, tôi luôn giữ lối sống của mình và suốt đời không định thay đổi. Về hành trạng của bản thân thế nào, sau khi lập gia đình ra sao, tôi sẽ xin kể lại nguyên vẹn về sự tình đó.

Nói về tuổi trẻ của tôi thì từ khi còn ở Nakatsu, tức là từ lúc nhỏ tuổi đến thời thanh niên, dù cố gắng thế nào tôi vẫn không thể tâm sự hay kết giao chân tình với những người cùng lãnh địa. Tôi không có người bạn nào thực sự thân thiết đến mức có thể sẻ chia tâm sự. Không chỉ là người ngoài mà cả trong họ hàng thân thích cũng không có một ai. Nói như thế không có nghĩa tôi là người kỳ quặc và không thể kết giao với ai được. Khi gặp đàn ông hay phụ nữ, tôi cũng đều nói chuyện thoải mái, thậm chí còn thuộc vào kiểu người hay nói, nhưng đúng ra đó chỉ là vẻ ngoài mà thôi.

Thực ra, tôi không bao giờ có ý bắt chước người này hay ao ước muốn trở thành người kia. Khi được khen cũng không lấy làm vui mừng, bị nói xấu cũng không hề sợ hãi, nghĩa là tôi không quan tâm đến tất cả những điều ấy. Nói theo nghĩa xấu thì tôi coi ý kiến của mọi người không ra gì và không có chút ý định tranh đấu với ai. Bằng chứng là tôi chưa bao giờ đánh, cãi nhau với trẻ con cùng lãnh địa. Chưa có lần nào tôi đánh nhau với bạn, khóc và chạy về nhà mách mẹ. Chưa bao giờ đánh nhau và cũng chưa bao giờ bị thương tích. Tôi là đứa trẻ ăn nói thì giỏi, nhưng thực chất bên trong lại lành hiền, không có vấn đề gì.

Lớn tiếng tranh cãi nhưng vẫn biết tránh những điều nên tránh

Sau đó, tôi rời quê đi Nagasaki, lên Ōsaka và trong thời gian học ở đó tôi cũng cười nói rôm rả với chúng bạn, cũng huyên thuyên và vô tư, nhưng sự cẩn trọng trong hành động, cũng như sự đúng mực trong tính cách, có thể nói là không cần phải nỗ lực cũng đã được hình thành một cách tự nhiên trong người tôi. Khi nói những chuyện tếu táo hay lớn tiếng tranh cãi không biết đâu là tận cùng, tôi cũng không hề nói những lời thô tục, bậy bạ. Đám bạn hay có thói là kể về việc tối hôm trước đi đến khu chơi bời ở khu Shinchi phía bắc như thế nào. Tôi không lảng đi, mà ngồi xếp bằng ngay ở đó rồi lớn tiếng gạt phăng: “Các cậu ngốc thật! Đừng có nói những chuyện vớ vẩn ấy nữa!”. Tôi hay kêu ca kiểu như vậy. Và khi lên Edo, vẫn không thay đổi.

Tôi có nhiều bạn bè và đi lại chơi bời với nhau là điều không ai cấm. Tôi đã bay nhảy nhiều nơi, nhưng những chuyện ở Yoshiwara (Cát-Nguyên) hay Fukagawa (Thâm-Nguyên), thì bạn bè không bao giờ dám nói chuyện với tôi. Thế nhưng, tôi lại biết rõ tình hình ở đó. Biết cụ thể, chi tiết, không phải vì đọc những cuốn sách khổ nhỏ viết về chuyện đàng điếm, mà khi bạn bè ngồi gần đó nói chuyện, tôi im lặng lắng nghe và dễ dàng biết được.

Tôi hiểu và biết rõ ngọn ngành, nhưng không bao giờ nhớ lại chuyện thế này, thế khác. Không chỉ khu Yoshiwara hay Fukagawa, mà tôi cũng chưa bao giờ đi ngắm hoa ở Ueno (Thượng-Dã) nữa.

Lần đầu tiên đi thăm khu Ueno và Mukōjima

Tôi lên Edo vào năm Ansei thứ năm (1858-ND). Vì thích uống rượu, chung quy lại là nô lệ của miệng và dạ dày, nên khi ở nhà không có, tôi phải đi uống ở bên ngoài. Gặp bạn bè và rủ nhau đi uống, tất nhiên là tôi đi, nhưng bảo vào ngắm hoa du ngoạn thì tôi từ chối.

Tháng 6 năm Bunkyū thứ ba (1863-ND), thầy Ogata lâm bệnh và qua đời. Khi đưa linh cữu của thầy từ nhà ở Shimotani (Hạ-Cốc) đến cử hành tang lễ ở một ngôi chùa trong khu Komagome (Câu-Nhập), thì phải đi xuyên qua khu Ueno. Và đấy là lần đầu tiên, tôi nhìn thấy khu mà người ta gọi là Ueno này. Đó là vào năm thứ sáu kể từ khi tôi lên Edo. “À, ra đây là Ueno đây à? Là nơi có hoa nở đây à?”. Tôi vừa đi theo đám tang vừa nhìn quang cảnh ở đó.

Cả khu Mukōjima (Hướng-Đảo) cũng vậy, từ khi lên Edo, tôi có nghe người ta nhắc đến nhiều mà chưa một lần đi xem. Nhưng năm Minh Trị thứ ba (1870-ND), tôi bị cảm thương hàn nặng. Thầy thuốc cũng như bạn bè đều khuyên cách vận động thích hợp nhất sau khi ốm dậy là đi ngựa, nên mùa đông năm đó tôi đi ngựa lòng vòng khắp chốn.

Nơi gọi là Mukōjima, tôi cũng đã được thấy lần đầu tiên và cũng có đi chơi ở quanh khu Tamagawa (Ngọc-Xuyên). Tôi đi đến tất cả nội, ngoại thành của Tōkyō và đại khái hiểu được các ngóc ngách ở đó. Khi ấy, khu Mukōjima phong cảnh cũng đẹp mà đường sá cũng tốt, nên lần nào tôi cũng đi ngựa vòng qua Mukōjima để về Ueno. Khi qua một nơi như con đê chắn ngang, tôi nhận ra và thầm nghĩ: “À, ra đây là Yoshiwara!”. Nếu ai đó bảo cứ ngồi nguyên trên ngựa để vào xem khu Yoshiwara, tôi sẽ ngăn lại với lý do: Những người cùng đi không thích dừng lại ở những nơi không lấy gì làm trong sáng này. Vì vậy, cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa một lần đi xem khu Yoshiwara.

Nâng chén mời tiểu tăng

Như thế, có thể trong suy nghĩ của mọi người, tôi là một kẻ kỳ quặc, nhưng tuyệt nhiên không phải như vậy. Tính cách của tôi khi kết giao với người khác không có ý thương ghét, không phân biệt quý hay hèn, giàu hay nghèo, quân tử hay tiểu nhân. Gặp kỹ nữ hay thấy những cô gái làng chơi bình thường, tôi cũng chẳng hề nghĩ gì. Không nghĩ gì, không phải vì tôi mắc cỡ, cũng không phải vì cho họ là những sinh vật bẩn thỉu, không thể ngồi chung được và làm ra vẻ mặt nhăn nhó, còn trong lòng thì sôi lên vì khó chịu.

Khoảng hơn bốn mươi năm trước đây, khi còn ở Nagasaki, trong dịp Karō của lãnh địa Nakatsu nghỉ tại ngôi chùa của Phái Tịnh độ chân tông, tên là Kōeiji (Quang-Vĩnh-tự), thì một hôm người ta tập hợp năm, sáu cô kỹ nữ hay gái làng chơi bình thường trong phố đến tổ chức tiệc rượu. Khi đó, tôi đang cai rượu, nhưng bị ra lệnh phải theo hầu. Trong khi tất cả đang say sưa chè tửu, ông Karō đưa chén rượu cho tôi và bảo: “Chén này bay uống đi! Còn chén kia cho ai trong số những người ở đây cũng được. Bay thích người nào ngồi gần thì mời!”. Chuyện là cạnh tôi có mấy cô gái đẹp và ông ta biết tỏng rằng, tôi sẽ rất khó xử, vì đem rượu mời mấy cô gái, tôi cũng thấy kỳ, mà cố tình tránh lại càng kỳ hơn. Nhưng không có chút gì khó xử cả! Tôi nhận chén rượu và bảo: “Tôi sẽ theo lệnh ông lớn và sẽ đem mời người nào thích nhất! Đấy là cậu Taka!”. Người tôi mời rượu là cậu con út chừng sáu, bảy tuổi của vị sư trong chùa. Tôi cười khoái trá, còn ông Karō có vẻ không lấy làm thú vị.

Nghe nói mùa xuân năm nay cậu Yamada Sueji (Sơn-Điền Quý-Trị), người của báo The Japan Times đi Nagasaki, làm tôi chợt nhớ đến chùa Kōeiji. Tôi bảo chắc chú tiểu Taka vẫn còn ở đó và muốn hỏi xem ngôi chùa bây giờ ra sao? Trong thư trả lời, cậu Yamada viết rằng, chùa vẫn còn nguyên như cũ, ông Taka vẫn bình an vô sự, nay là một lão tăng 51 tuổi và đã thoái chức. Thêm đó cậu Yamada còn gửi cả ảnh.

Câu chuyện tôi kể trên xảy ra vào năm tôi 21 tuổi, tính ra thì cậu Taka mới có lên bảy, thế mà nay đã thành chuyện quá xa xưa.

Không để ý đến sự hiềm kỵ

Như vậy, từ khi còn trẻ tôi đã không hề có hành động thất thố nào đối với phụ nữ. Chẳng hạn, khi say rượu, những điều cần giữ gìn tôi vẫn giữ gìn, những câu cấm kỵ đối với phụ nữ tôi cũng không buột miệng nói ra bao giờ. Lúc say cũng không hề làm mất bản tính, vừa cẩn trọng nói chuyện, vừa cười đùa, đàm tiếu một cách tự nhiên mà không nghĩ đến những sự hiềm kỵ, nghi ngờ của người đời. Bản tính của tôi là một người đàn ông không dễ sa ngã, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, tự mình quyết định một lối sống riêng.

Những lời giáo huấn như trai gái đi đêm phải mang đèn sáng, khi nhận hay cho vật gì không được tay trao liền tay, theo cách nhìn của tôi là những điều vô cùng nực cười. Tôi nghĩ sao mà nhút nhát, với những sự kiêng kỵ kỳ quặc như thế, làm sao sống hết được kiếp người? Con người mà để ý đến những điều vặt vãnh thì chỉ thêm bận rộn. Và tôi tự quyết định không để mình bị ràng buộc bởi những lời răn dạy cổ xưa đó.

Tôi tin tưởng vào mình, tự nhiên ra vào nhà người khác mà không hề giữ ý rằng, trong nhà đó có cô con gái hay một mình cô vợ trẻ. Trong tiệc rượu say sưa mà có những cô kỹ nữ cũng đùa vui chứ không e ngại gì. Tôi uống rượu, cười to, nói lớn, càng say càng hào hứng và làm ầm ĩ, nên có thể người ngoài nhìn vào sẽ nghĩ là kỳ quặc.

Lời thị phi ngược lại lấy làm vinh dự

Bởi vậy, một hôm, Karō của lãnh địa Nakatsu đích thân cho gọi tôi đến và bảo: “Ta nghe nói gần đây bay hay ra vào nhà hàng xóm, thường uống rượu đến khuya. Nhà họ con gái, kỹ nữ nườm nượp ra vào, gia phong không lấy làm chuẩn mực. Bay gần gũi với những chỗ như thế để người đời thị phi là điều ta lấy làm tiếc. Có câu nói dạy rằng: “Người quân tử thì không buộc lại dây giày khi ở ruộng bí và không đội lại mũ khi đứng dưới cây mận”. Bay lại vẫn còn trẻ, giữ lấy thân mình là điều quan trọng. Nên chú ý thì tốt hơn!”.

Ông Karō nói với vẻ rất trang nghiêm và khuyên thực lòng, nhưng tôi lại không hề hối lỗi và đáp lại: “Có chuyện như thế ạ? Hay thật đấy! Từ trước đến giờ, có thể người ta không thích vì cháu hay ba hoa và thường lớn tiếng, nhưng được gọi là người đào hoa, từ khi cha sinh mẹ đẻ đây là lần đầu tiên! Với cháu đó là điều thú vị và là vinh dự, nên cháu sẽ không thôi đâu! Cháu sẽ vẫn cứ ra vào nhà đó. Cháu bị ông răn đe ở đây mà lại thay đổi và bỏ thói quen đó đi thì không được. Cháu không phải là một cậu con trai yếu đuối như thế! Dù sao cháu cũng rất vui, vì ông có ý tốt với cháu. Cháu xin cảm ơn ông! Nhưng thực ra cháu chẳng bực mình về chuyện này, ngược lại còn thấy thú vị. Cháu mong người ta dựng nhiều chuyện về cháu hơn nữa!”.

Tôi đã từng nói với ý khiêu khích ông Karō như thế và đi về.

Lần đầu tiên đi xem ca kịch ở Tōkyō

Như đã nói ở trên, tôi quê mùa đến mức từ khi lên Edo đến năm thứ sáu mới nhìn thấy nơi gọi là Ueno lần đầu, năm thứ mười bốn mới đi thăm Mukōjima. Tất nhiên là chưa một lần đi xem ca kịch. Từ khi còn nhỏ, ở lãnh địa Nakatsu có lệ là lãnh chúa cho gọi những diễn viên không chuyên ở nhà quê đến, tổ chức biểu diễn kịch Nō (Năng) ở sân khấu trong thành của lãnh địa và chỉ cho các võ sĩ đến thưởng thức.

Khi đó, tôi được xem một lần. Lần sau là khi tôi học ở Ōsaka. Lúc này, ông Ebizō (Hải-Lão-Tạng), cha đẻ của Ichikawa Danjūrō (Thị-Xuyên Đoàn-Thập-Lang) đang công diễn ở phố Dōtombori. Một tối, người bạn đồng khóa rủ: “Tớ định đi xem ở phố Dōtombori bây giờ, bọn mình đi đi!”. Cậu ta bảo có cả rượu nữa, mà nghe thấy rượu là tôi đồng ý đi ngay. Trên đường đi cậu ta mua 1 Shō (khoảng 1.8l-ND) rượu và dẫn theo hai, ba người chúng tôi vào xem. Xem hai, ba cảnh vào buổi tối hôm đó là lần thứ hai trong đời tôi. Sau đó, tôi lên Edo. Từ khi Edo đổi tên thành Tōkyō, tôi cũng không nhớ là mình đã đi xem lần nào. Hơn nữa, cũng không có cơ hội đi xem.

Thời gian trôi qua, cách đây khoảng mười lăm, mười sáu năm, tự nhiên lần đầu tiên tôi đi xem ca kịch ở Tōkyō. Khi đó, tôi đã ngẫu hứng làm một bài thơ thế này:

Thùy đạo danh ưu kỹ tuyệt luân

Tiên sinh du hí sự vưu tân

Xuân phong ngũ thập độc tỉnh khách

Khước tác lê viên nhất túy nhân

Khi đọc như vậy chắc các bạn sẽ nghĩ tôi là một người kỳ quặc, nhưng thực ra tôi rất thích âm nhạc. Bởi vậy, tôi cho cả con gái lẫn cháu gái học các loại đàn truyền thống của Nhật như Koto (Cầm), Shamisen và học múa, vì nhờ đó còn có thể vận động thân thể.

Nguyên do của sự không biết đến phong lưu

Từ khi sinh ra tôi không phải là người vụng về. Tôi nghĩ, không có một sự định trước khi một người được sinh ra là họ sẽ trở thành một người bất tài và vụng về. Nhưng vì những nguyên do khác nhau từ khi còn nhỏ đã làm nên con người tôi ngày hôm nay hơn là do tính cách trời sinh. Trước hết, từ thuở nhỏ tôi đã không có ai kèm học và lớn lên không được luyện viết chữ cẩn thận. Thế nên, đến bây giờ cũng không viết thư pháp được.

Lớn lên, tôi có tự nhìn mẫu chữ học viết theo, nhưng khi đó lại vào trường Tây phương học, coi tất cả những Nho gia ở trên đời là đối địch và việc họ làm từ A đến Z tôi đều không hợp ý, nhất là về hành trạng, phẩm cách của họ. Miệng luôn nói đến Nhân, Nghĩa, Trung, Hiếu, nhưng khi bắt tay vào làm thì không có khí thế chút nào. Rất không hay là ở chỗ cứ uống rượu, làm thơ, viết thư pháp giỏi thì họ đánh giá cao. Tất cả mọi hành động của họ tôi đều không thấy hợp với mình. Và thế là chúng tôi, những người theo Tây phương học quyết định làm một cuộc đả phá.

Trong khi ở Edo, kiếm thuật đang thịnh hành trở lại thì chúng tôi lại đem bán hết đi. Cả thuật kiếm I'ai ngày xưa hằng ưa thích tôi cũng bỏ luôn và làm như mình không hề biết, theo kiểu những nhà Nho làm thơ thì chúng tôi cố tình không thèm làm, họ nói là viết được thư pháp đẹp thì chúng tôi cũng giả chơi bời mà viết nguệch ngoạc cho mà xem.

Việc không bỏ công sức ra luyện viết chữ là một thất bại của cuộc đời tôi. Nếu nói về gen di truyền của gia đình, cả cha và anh tôi đều là những người có chữ nghĩa. Đặc biệt, anh tôi đa tài, đến mức có thể viết chữ thảo rất đẹp, vẽ tranh rất khéo và còn biết viết cả theo lối triện. Vậy mà em trai lại bất tài, vô nghệ đến thế này! Tranh họa, thư pháp thì không cần phải nói, đến cả mỹ thuật cổ hay mỹ thuật hiện đại tôi cũng không quan tâm. Khi làm nhà cũng phải nhờ đến thợ thuyền. Cây đá trong vườn cũng phải gọi đến người hàng cây cảnh. Các mốt quần áo bên ngoài không hay, cũng không có ý định tìm hiểu, mà chỉ biết mặc những gì được người khác cho mặc.

Có lần, vợ tôi vắng nhà, mà tôi lại có việc gấp phải đi. Khi đó, nghĩ là phải thay quần áo, nên tôi liền mở tủ, lấy bộ để ở trên cùng mặc vào đi ra ngoài. Người ta bảo đó là bộ quần áo lót và tôi bị cười rất quê. Tôi nói tuềnh toàng ở đây là cùng cực của sự tuềnh toàng, chứ không phải chủ định ngầm khen ngợi gì mình.

Từ nhỏ, do hoàn cảnh mà đã hình thành nên con người tôi và có lẽ cứ như thế cho đến cuối đời. Đại thể, những điều người đời lấy làm vui, lại không là thú vui của tôi. Quả thực là một lối sống có phần bị thiệt thòi. Bởi vậy, những năm gần đây tôi đã đi xem kịch tuồng và mời cả những văn nghệ sĩ đến nhà, nhưng vẫn không cho đó là lạc thú tối thượng của con người. Với tôi, việc gọi các cháu lại cùng vui đùa, cho chúng tập các loại hình nghệ thuật, cho ăn những thứ chúng thích hay cả gia đình lớn nhỏ thân mật tâm sự, nói chuyện, vui cười, đó mới chính là một thứ âm nhạc mà tôi lấy làm thú vui lúc tuổi già.

Lấy vợ và sinh được chín người con

Tiếp đến tôi xin được kể về tình hình cũng như gia phong của gia đình mình. Năm Bunkyū thứ nhất (1861-ND), tôi nhờ một võ sĩ ở Nakatsu đứng ra làm mối và lấy cô con gái thứ hai nhà ông Toki Tarōhachi (Thổ-Kỳ Thái-Lang-Bát), gia đình võ sĩ cùng lãnh địa và làm sự vụ cho lãnh địa ở Edo. Đó chính là bà vợ đã lên lão của tôi hiện nay.

Khi kết hôn, tôi 28 tuổi và vợ tôi 17 tuổi. Nếu nói về đẳng cấp theo chế độ quy định của lãnh địa thì vợ tôi thuộc đẳng cấp cao, còn tôi chỉ thuộc hàng võ sĩ cấp thấp, có đôi chút không được môn đăng hộ đối, nhưng về mặt huyết thống thì cả hai đều khỏe mạnh. Xưa kia thế nào không biết, nhưng từ khoảng năm đời trở lại đây cả hai bên gia đình đều không có ai bị bệnh di truyền hay những bệnh phải kiêng khem. Cả hai đều vô bệnh, vô tật. Năm Bunkyū thứ ba (1862-ND), cậu con trai đầu lòng Ichitarō (Nhất-Thái-Lang) ra đời, tiếp đến là Sutejirō (Sả-Thái-Lang).

Dần dần, chúng tôi có được cả thảy là chín người con, bốn trai và năm gái. May sao, cả chín con tôi đều không gặp chuyện gì và đến nay không thiếu một ai. Trong chín người con thì nuôi bằng sữa mẹ đến cháu thứ năm, bốn cháu còn lại, chúng tôi nhờ vú nuôi để bảo đảm cho sức khỏe của người mẹ đã sinh nở nhiều lần.

Không ngăn cấm sự hiếu động của con

Cách nuôi dưỡng của tôi là chú ý đến ăn hơn mặc. Quần áo dù có thể giản dị, nhưng ăn uống nhất thiết phải đầy đủ. Cả chín con tôi từ nhỏ đều không bị thiếu dinh dưỡng. Cách dạy dỗ của tôi lấy phương châm là ôn hòa và hoạt bát. Ở mức độ có thể tôi cố gắng để cho con được tự do. Chẳng hạn, tôi không bao giờ cho nước nóng vào bồn tắm theo ý mình và bắt con vào tắm, mà đặt một thùng nước lớn gần đó để các con có thể pha nước nóng hay lạnh tùy ý. Mọi chuyện tôi đều cho các con được tự do, nhưng duy có việc ăn uống là tôi không để muốn ăn gì thì ăn.

Tôi muốn cho các con phải thật linh hoạt, nên cũng lường trước là không thể trang trí, dọn dẹp nhà xuể được. Dù các con có làm rách giấy dán tường, tấm bình phong hay làm đổ vỡ đồ dùng, tôi cũng bỏ qua, chứ tuyệt nhiên không nói to hay mắng mỏ gì. Nếu có chuyện quá lắm, vợ chồng tôi chỉ nghiêm mặt lườm là hình phạt cao nhất, dù trong trường hợp nào cũng không bao giờ dang tay đánh các con.

Hơn nữa, khi cha mẹ nói với con đẻ hay con dâu, anh chị nói với các em cũng không bao giờ gọi tên trống không, trong nhà không phân biệt là cha phải nghiêm nghị và mẹ phải hiền từ. Nói là nghiêm, cả cha và mẹ đều nghiêm, hiền từ thì cả hai chúng tôi đều hiền từ. Cả nhà tôi như bạn hữu của nhau. Ngay cả bây giờ, các cháu nhỏ của tôi làm gì đó, có thể sợ mẹ của các cháu, nhưng đều nói người không sợ nhất là ông. Nếu so với bên ngoài có thể tôi hơi chiều các cháu, nhưng không phải vì thế mà các cháu của tôi ngang bướng khác người. Người trên có thể chơi đùa với người dưới, nhưng khi người trên nghiêm lại thì các cháu rất chịu khó nghe lời và không làm trái bao giờ. Vì vậy, tôi nghĩ không quá nghiêm khắc sẽ tốt hơn.

Trong nhà không có điều gì là bí mật

Giữa những thành viên trong gia đình không có điều bí mật chính là một nét gia phong của gia đình tôi. Giữa vợ với chồng, cha mẹ với con cái không hề giấu giếm, chuyện gì cũng có thể bày tỏ với nhau. Các con tôi dần trưởng thành lên, nhưng tuyệt nhiên không có chuyện nói với con này việc này mà giấu không nói với con kia. Cha mẹ trách con vì những khuyết điểm, con cũng có lúc cười cha mẹ về những sự sai lầm. Nếu với cách nhìn kiểu phong tục xưa, chắc sẽ thấy gia đình tôi không có chút lễ nghĩa trên dưới nào.

Như nhà thiếu lễ nghĩa

Nói về chuyện lễ nghĩa, bên ngoài thường hay có thói quen, khi người chủ của gia đình đi hoặc về, người vợ sẽ phải ra tận cửa tiễn hay đón và cúi lạy thật lễ phép, nhưng nhà tôi tuyệt nhiên không có chuyện đó. Khi đi ra ngoài, có khi tôi đi từ cửa nhà trên và cũng có khi lại đi từ cửa bếp. Lúc về cũng như vậy. Tôi bảo cả cậu phu xe lẫn người chăn ngựa rằng, khi tôi đi bằng xe về nhà thì không phải nói những câu thừa thãi như: “Ông đã về!”, nên dù có đứng ở cửa gọi to đến đâu cũng không có ai ra cả. Bà cụ họ hàng ở gần đó chắc thế nào cũng lấy làm lạ về gia đình tôi. Bà về làm dâu nhà Toki (Thổ-Kỳ), năm nay đã 77 tuổi. Trước đây, bà vốn là vợ của một võ sĩ và là người luôn coi trọng lễ nghĩa trong gia đình võ sĩ, nên khi nhìn vào gia phong nhà Fukuzawa chắc thế nào cũng lấy làm lạ và cho đó là điều không nên. Đấy là tôi thầm đoán như vậy.

Không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái

Tôi có chín người con, nhưng thực tế không hề có sự phân biệt yêu ghét, khinh trọng. Tất cả có bốn con trai và năm con gái. Tôi tuyệt nhiên không thấy sự khác nhau nào ở đấy cả. Người ta, khi sinh được con trai thì vui mừng ra mặt, khi sinh con gái, nếu không có bệnh tật gì cũng vui một chút, nghĩa là tự nhiên có một sự đối xử nặng nhẹ khác nhau. Nhưng với tôi, không thể có chuyện ngốc nghếch như thế. Con gái thì có gì là xấu? Dù cả chín con tôi đều là con gái, tôi cũng không lấy làm tiếc. Chỉ có điều, bây giờ tôi có bốn con trai và năm con gái, nên nghĩ như thế là cân bằng, vậy thôi.

Con trai hay con gái, con lớn hay con nhỏ, tôi đều thương tự đáy lòng như nhau, không hề có một sự phân biệt nhỏ nào. Một nhà đạo đức đã chẳng nói một điều cao cả rằng, trong khi đối xử với con người phải “Nhất thị đồng nhân” đó sao? Hơn nữa, với các con do chính mình sinh ra mà không “Nhất thị đồng nhân” được thì quả là tệ hại.

Cách chia tài sản cho con gái và con trai

Tuy nhiên, trong ý nghĩ của tôi, mặc dù con trai trưởng cũng giống như các con khác, nhưng nếu tôi chết đi, con trai trưởng sẽ nối dõi. Mà như thế, sẽ trở thành trung tâm của gia đình, nên khi phân chia tài sản tôi cho nhiều hơn các con khác. Hơn nữa, với những thứ mà chỉ có một, không thể chia cho ai, tôi cũng dành cho con trưởng Ichitarō. Còn lại mọi thứ đều đem chia đều như nhau.

Chẳng hạn có một chuyện thế này. Khoảng năm Minh Trị thứ mười bốn hay mười lăm gì đó, không còn nhớ chính xác ngày tháng, tôi đi đến chỗ người quen ở Nihom-bashi (Nhật-Bản-kiều) thì thấy trên sàn nhà có bày la liệt những tấm bình phong khảm vàng. Tôi hỏi họ làm gì vậy, thì được trả lời là sẽ đem xuất khẩu sang Mỹ. Lúc đó, tôi mới chợt nghĩ và xem qua, nhưng không có một bức nào tôi thích. Tất cả đều là những thứ không cần thiết. Nhưng nếu nói mua thì mua tất cả, không để sót một tấm nào. Họ đóng đi Mỹ tính ra tiền vàng là bao nhiêu tôi không biết, nhưng nếu họ bán, tôi sẽ mua hết. Tôi bảo sẽ mua nhưng không phải để sau đó bán đi lấy lời mà là để trang trí nhà.

Ông chủ không phải là một nhà buôn ngờ nghệch. Ông ta bảo: “Ừ, như thế có lẽ hơn. Đây là hàng lấy về từ Nagoya. Nếu bán đi Mỹ, ngần này hàng coi như mất. Nếu bán cho ông thì vẫn còn nguyên ở Nhật, nên thôi tôi bán cho ông đấy!”. Và tôi nói rằng, sẽ mua. Tôi không xem kỹ, nhưng đã mua hết vài trăm tấm bình phong với giá 2.200 hay 2.300 yên gì đó.

Tôi không có thú ngắm, không hiểu về giá trị nghệ thuật và cũng không nhớ số lượng, chỉ thấy chật nhà quá, nên khoảng năm, sáu năm trước đây đã chia cho chín người con và bảo chúng mang về nhà riêng. Các con nhộn nhịp kéo đến, chia làm chín phần và bốc thăm xem được phần nào. Chúng vui vẻ nhận. Có đứa đem về nhà, có đứa vẫn để lại trong kho nhà tôi. Chung quy lại, cách làm của tôi là chia đều, không có chuyện nhiều ít, nên chắc các con cũng không cảm thấy bất bình.

Không cảm phục cách để lại di chúc của người phương Tây

Gần đây, tôi có viết di chúc. Di chúc là chuyện thường có ở phương Tây. Tôi hay nghe kể rằng, sau khi người chủ gia đình mất đi, người ta mới mở di chúc ra xem và ai nấy đều ngã ngửa vì ngạc nhiên. Nhưng tôi không cảm phục với cách làm như vậy. Thật lạ, những điều có thể cho người khác xem sau khi mình chết mà lại không nói được khi mình còn sống. Người phương Tây phân vân trong cách xử sự mà dẫn đến việc làm chuyện ngốc nghếch như thế. Tôi bảo sẽ không bao giờ bắt chước người phương Tây làm như vậy. Tôi cho vợ và các con xem bản di chúc, dặn là để ở ngăn tủ đó, tất cả lấy mà xem. Nếu có thay đổi gì, tôi sẽ viết lại và sẽ đưa cho vợ con xem, nên bảo phải đọc kỹ. Tôi còn cười và nói rằng: “Sau khi ta chết đi, các con không được làm điều ti tiện là tranh nhau tài sản đấy!”.

Ưu tiên thể dục trên hết

Lại nói thêm về cách dạy dỗ con cái, tôi coi trọng nhất là thân thể, nên khi các con còn nhỏ, tôi không hề bắt các con đọc sách. Trước hết là phải rèn thân thể, sau đó mới dưỡng nhân tâm. Đó là phương châm của tôi, nên từ khi các con sinh ra cho đến năm lên ba, lên năm, tôi không hề đem bảng chữ I, ro, ha ra cho đọc. Đến năm lên bảy, lên tám cũng có khi tôi bắt rèn chữ, cũng có khi không và vẫn chưa bắt đọc sách.

Cho đến lúc đó, tôi cho các con chơi nghịch thỏa thích. Tôi chỉ nhắc các con chuyện ăn mặc và phê bình khi các con vẫn còn nhỏ mà đi bắt chước ai nói tục hay làm việc gì không tốt. Ngoài ra, tôi để các con hoàn toàn tự do, chẳng khác cách nuôi con của những sinh vật như chó, mèo. Nghĩa là trước hết tôi chú trọng đến việc phát triển thân thể mang tính sinh vật của con người. Cũng may, các con tôi lớn lên như những chú chó con, mèo con mà không gặp tai họa hay bệnh tật gì.

Đến năm lên tám, chín hoặc mười tuổi, lần đầu tiên tôi mới cho các con đi học, mới thực sự quy định thời gian biểu hàng ngày và bắt các con chuyên tâm học hành. Nhưng cả khi đó tôi cũng vẫn không sao nhãng đến sức khỏe của các con. Các vị phụ huynh ở bên ngoài, hơi một chút là giục con học và học. Có nhiều người khi thấy con cái im lặng ngồi đọc sách thì khen ngợi, còn tôi chưa một lần khen con vì việc học hay đọc sách, mà có khi còn can ngăn. Các con tôi nay đã lớn và bây giờ tôi quay sang chăm sóc các cháu, nhưng đúng là vẫn theo cách cũ. Tôi có khen các cháu khi đi xa mà chịu khó vận động hay tập Nhu đạo, thể thao giỏi, chứ chưa khen vì chăm đọc sách bao giờ.

Lò hủy hoại sức khỏe của thiếu niên

Đây là chuyện của hai mươi năm trước. Tôi cho cả con trai đầu Ichitarō và con trai thứ Sutejirō vào học Trường dự bị của Teikoku-daigaku (Đế-quốc-đại học), nhưng liền sau đó các con bị đau dạ dày, nên tôi cho gọi về nhà và chữa chạy có khá hơn. Khỏi bệnh, tôi cho vào trường học, con bị đau trở lại. Ba lần tôi cho con vào học lại, cả ba lần đều ốm đau.

Khi đó, cậu Tanaka Fujimaro (Điền-Trung Bất-Nhị-Ma) đang là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nên nhiều lần tôi đã nói chuyện. Có lần, tôi còn không ngần ngại bảo rằng: “Thực tế tôi đã cho con vào Trường dự bị, nhưng nếu Bộ Giáo dục cứ giữ nguyên cách dạy thế này, chỉ có giết học sinh. Học sinh mà không chết thì cũng ngớ ngẩn. Chắc chắn là cả tâm lẫn thân đều suy yếu và thành kẻ tật nguyền, sống dở chết dở mà thôi! Con tôi sẽ phải học ở Trường dự bị mất khoảng ba, bốn năm. Tôi tạm thời cho con vào đó, nhưng trong khoảng thời gian này tôi muốn luật về các trường đại học nhanh chóng được sửa đổi. Cứ để nguyên như vậy, có thể gọi Đại học Tōkyō là “Lò hủy hoại sức khỏe thiếu niên” mất thôi!”. Nói thế, nhưng cũng không có gì sáng sủa hơn. Con tôi vẫn như cũ, ba tháng cho ở trường lại phải kéo về nhà ba tháng.

Không thể chịu đựng được việc học ở Trường dự bị, tôi đành từ bỏ ý định cho con học ở đó và chuyển vào trường Keiō-gijuku, tốt nghiệp ở một khoa bình thường, sau đó cho đi Mỹ học ở một trường đại học. Tôi không có ý nói rằng cách giảng dạy của các trường đại học ở Nhật là tồi, nhưng cách dạy dỗ quá nghiêm khắc làm tôi sợ như việc bắt các con phải vác một đồ vật quá nặng, nên đành tránh trường đại học của Bộ Giáo dục. Bây giờ tôi vẫn nghĩ như vậy. Dù thế nào, cơ thể con người vẫn là quan trọng.

Những ghi chép về tuổi thơ của các con

Trong ý nghĩ của tôi, con người khi lớn lên thường hay muốn biết về mình lúc còn nhỏ. Người khác thế nào, tôi không biết, nhưng tự tôi nghĩ như thế, nên viết rất cẩn thận về quá trình sinh ra và lớn lên của các con. Tôi ghi từ chuyện con sinh vào mấy giờ, mấy phút, ngày tháng năm nào, đẻ khó hay dễ, về tình hình sức khỏe khi còn bé, về khí chất yếu hay khỏe, các tật bẩm sinh…Vừa xem ảnh hồi còn nhỏ vừa đọc những dòng này chắc các con tôi sẽ rất thú vị và tự biết được về tuổi thơ của mình.

Những người như tôi quả là bất hạnh, không biết cả mặt cha đẻ của mình, cũng không có ảnh nữa. Chuyện thuở nhỏ tôi là đứa trẻ như thế nào thì chỉ được nghe qua lời kể của mẹ, chứ không có những dòng ghi chép lại. Từ khi còn nhỏ, tôi thường lắng tai nghe người già nói về những chuyện như vậy và rất lấy làm tiếc. Tôi đã phải trải qua những giây phút như thế, nên đến lượt mình làm cha, tôi gắng viết những dòng kể về chính mình để truyền lại cho con.

Về chuyện hơn ba trăm bức thư

Còn một chuyện nữa là về cách thể hiện tình cảm giữa cha mẹ và con cái trong gia đình tôi. Tôi cho rằng, cha mẹ và con cái tranh luận về những vấn đề mang tính lý thuyết là việc làm vô bổ. Về chuyện này, cả tôi và vợ tôi cùng chung ý nghĩ, đều muốn làm sao để cha mẹ và con cái không có khoảng cách với nhau. Chẳng hạn, trước đây con trai thứ nhất và thứ hai của tôi đi Mỹ học trong vòng sáu năm. Khi đó, tàu chở bưu phẩm của Mỹ, cứ một tuần hay thỉnh thoảng là hai tuần về Mỹ một lần, sau đó quay lại Nhật. Trong thời gian hai con ở Mỹ, mỗi khi có việc thì tất nhiên, cả khi không có việc gì, tôi cũng viết. Chuyến nào tôi cũng gửi thư đi.

Trong sáu năm liền, tôi đã viết được chừng hơn ba trăm lá thư. Tôi cứ viết ra trước, còn vợ tôi là người “hiệu đính” và dán phong bì, nên đó quả thực là những nét bút thể hiện được tình cảm của cả hai chúng tôi. Hai con tôi ở bên đó, mỗi chuyến tàu về cũng lại gửi một lá thư. Trong thư, tôi có răn dạy hai con rằng: “Trong thời gian lưu học, mỗi chuyến tàu nhất thiết đều phải gửi thư, có việc hay không cũng phải viết. Cha sẽ mừng hơn nếu các con khỏe mạnh. Dù không học hành được gì hay mù chữ còn hơn là thấy các con học tập chuyên cần, trở về thành một bác học mà xanh xao, ốm yếu. Không được học hành quá sức mà coi thường sức khỏe. Tiết kiệm được thì phải thật tiết kiệm. Nhưng khi có bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe mà cần đến tiền thì cân nhắc cho kỹ để chi tiêu. Cha không khó khăn gì chuyện đó!”.

Đấy như là mệnh lệnh của tôi. Nhờ thế, sau sáu năm học tập, cả hai con tôi đều trở về bình an vô sự.

Ở hiền gặp lành

Không đến mức phải khen rằng, việc vợ chồng, con cái tôi thương yêu nhau là đạo đức của tôi. Trên đời này có biết bao nhiêu quân tử đàng hoàng, đứng đắn! Tôi tin rằng, tôi không ngu ngốc đến độ tự cao tự đại, nghĩ mình tu thân đạt đến mức đã làm được tất cả những điều cần làm, đã thực hiện được mục đích duy nhất, tối cao của con người. Nhưng có một điều kỳ diệu là quan hệ xã hội của tôi ngày càng được mở rộng và phát huy sức ảnh hưởng đến cả những việc không ngờ đến.

Tôi xin kể một ví dụ. Nếu hỏi lãnh chúa Okudaira của lãnh địa Nakatsu trước đây xem tôi là người thế nào, chắc sẽ có câu trả lời rằng: “Là một võ sĩ hạng thấp, không có sức ảnh hưởng gì, theo Tây phương học, hay nói ra những điều khác thường”, hoặc là “Đã đi ra nước ngoài, dịch sách nước ngoài, hay nói những lời hùng hồn, hơn nữa lại còn khinh miệt một cách không thương tiếc những người theo Nho giáo”… Tựu trung lại, họ sẽ cho tôi là một kẻ ngoại đạo phản nghịch. Mọi người ở lãnh địa đều nhìn nhận như vậy và có lẽ điều đó cũng đến tai lãnh chúa. Đại thể họ có bằng chứng Fukuzawa Yukichi là kẻ đáng phải để mắt, chứ không sai.

Nhưng mọi vật đổi thay, các vì sao cũng chuyển vần, dần dần thời thế cũng biến thiên. Cuộc Vương chính duy tân xảy ra làm nếp nghĩ của lãnh địa cũng đổi theo. Khi cả xã hội rộ lên phong trào Tây phương học, thì với họ, Fukuzawa lại trở thành một vị thánh! Từ lúc lan ra lời bàn tán cho rằng, thời buổi này nếu gần Fukuzawa sẽ có lợi thì ông Shimazu Suketarō (Đảo-Tân Hữu-Thái-Lang), cao lão công thần của lãnh chúa Okudaira, một người khá am hiểu, hay nói cách khác là một người có kiến thức sâu rộng, đã quan sát sự chuyển biến của thời đại và thấy rằng tình thế này mà loại trừ Fukuzawa là bất lợi, nên đã bắt đầu để mắt đến tôi.

Lúc đó, có bà lãnh chúa Hōren'in-sama (Phương-Liên- Viện-dạng), người vốn thuộc dòng họ Hitotsubashi (Nhất-Kiều), sau đó hạ cố về làm dâu nhà lãnh chúa Okudaira. Bà đã cao tuổi và là người được vị nể nhất trong gia đình Okudaira. Bởi vậy, ông Shimazu đã kể nhiều chuyện về phương Tây cho bà nghe, như ở bên đó văn, võ đều vẹn toàn, đất nước giàu mạnh, về y học thì hiểu biết thấu đáo, thuật hàng hải cũng giỏi giang. Họ có nhiều phong tục khác với người Nhật, nhưng có một điều thú vị là giữa nam nữ bình đẳng, không có sự trọng khinh, người thuộc đẳng cấp nào cũng chỉ được một vợ một chồng. Đây chính là một nét đặc sắc của phương Tây.

Nghe thấy chuyện đó, bà lãnh chúa nhớ lại chính mình hồi còn trẻ và không thể không xúc động được. Lúc đó bà mới hiểu ra mọi điều và tìm cách gần gũi với Fukuzawa. Dần dần, mối kết giao với bà lãnh chúa được mở ra. Bà lãnh chúa và những người có chức vị cao khác thử gặp tôi, thì thấy kẻ bị coi là ngoại đạo Fukuzawa cũng bình thường như bao người khác, không có sừng, cũng chẳng có đuôi, hơn thế lại là một người hết mực khoan hòa. Dần dần, họ có cảm tình với tôi hơn.

Câu chuyện này nhiều năm sau tôi được nghe kể lại từ ông Shimazu. Nói như thế để thấy rằng, lý luận về hôn nhân một vợ một chồng ở một nơi nào đó ẩn chứa sức ảnh hưởng riêng. Bây giờ, ai mà bảo rằng phải bỏ hủ tục đa thê và theo trào lưu phương Tây sẽ bị coi là lỗi thời, nhưng nếu cứ cãi cố cũng không hề gì. Lý luận nhất phu nhất thê tuyệt nhiên không phải là một thứ lý luận lỗi thời. Đại đa số mọi người đều đồng tình và bà lãnh chúa cũng đứng về phía ủng hộ tôi. Mặc dù không biết còn sống đến bao giờ, nhưng ở chừng mực có thể tôi sẽ dồn hết sức tranh đấu với bất kỳ kẻ đối địch nào mà không cần phải nhìn trước sau, phải trái. Tôi muốn làm sao chấm dứt được tình trạng hôn nhân đa thê, chí ít là ở bộ mặt bên ngoài của xã hội này.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha