Phải, trái

Giờ hãy ghi nhớ những gì ta nói. Hữu nhãn đang nhìn ngươi sâu trong Vĩnh Cửu. Tả nhãn thì nhìn ngược lại vào Thời Gian. Nếu ngươi phí nhọc thân xác mình luôn nhìn vào Tự Nhiên và các Vật Thể của Thời Gian, thì ngươi vĩnh viễn không bao giờ có thể đạt đến Thống Nhất mà ngươi khao khát.

Jakob Böhme

Không có cái gì là lớn lao đi vào cuộc đời của những kẻ trần tục mà lại không cùng với một tai ương.

Sophocles

Chương 26: PHẢI / TRÁI

Vào cuối thế kỉ mười bảy, nhà toán học Blaise Pascal đã phân biệt có hai loại hoạt động trí tuệ khác nhau. Loại thứ nhất được ông xác định có đặc tính là một sự nắm bắt kiến thức đột ngột, dẫn đến việc ngay lập tức cùng một lúc hiểu ra được toàn bộ mọi phương diện của một khái niệm; loại thứ hai được ông miêu tả là một quá trình suy lý phân tích kiên nhẫn, kéo dài theo trình tự thời gian. Mặc dù các nhà thơ, các nghệ sĩ, các thầy đồng đã hiểu được điều này từ lâu, nhưng Pascal là nhà khoa học đầu tiên khái niệm hóa được đặc tính kép này của trí tuệ. Rồi thêm một thế kỉ nữa trôi qua, trước khi tính lưỡng phân này trong quá trình hoạt động trí óc có được Cơ sở trong giải phẫu học, khi vào năm 1864, nhà thần kinh học vĩ đại John Hughling Jackson đã phỏng đoán rằng hai bán cầu của bộ não đã thực hiện những chức năng khác nhau.

Sử dụng những nhận xét của Jackson, nhiều bác sĩ tài năng đã dần dần chi tiết hóa được sự bất đối xứng trong hai bán cầu não, bằng việc ghi lại các biểu hiện tổn thương tại nhiều vùng khác nhau của bộ não. Bằng cách ngoại suy từ những thu thập về các triệu chứng hay hội chứng này, họ đã dựng lại được bức tranh ghép hình về tổ chức bình thường của bộ não.

Trong những năm cuối của thập kỉ 50 của thế kỉ hai mươi, nhà khoa học được giải Nobel Roger Sperry đã thực hiện phẫu thuật trên mèo và khỉ, chia cắt thể chai - một dải rộng các nơron kết nối hai bán cầu não. Những con thú bị phẫu thuật cắt chỗ nối ấy của ông không những sống sót, mà qua quan sát, người ta còn thấy hầu như không có nhiều các hậu quả xấu trong hành vi của chúng.

Được công trình của Sperry cổ vũ, hai nhà phẫu thuật thần kinh khác là Joseph Bogen và Philip Vogel đã thực hiện phẫu thuật mang tính cách mạng ấy trên người lần đầu tiên vào năm 1961. Hai ông chỉ chọn những bệnh nhân bị mất năng lực trầm trọng vì tai biến động kinh liên tục tái phát, và tất cả các loại thuốc chữa trị khác đã bất lực trong việc chữa trị cho họ. Hai ông đưa ra giả thuyết rằng bằng việc phẫu thuật chia cắt thể chai, họ sẽ có thể ngăn chặn được các cơn tai biến lan từ bán cầu não này sang bán cầu não kia, và như vậy, chặn trước được cơn tai biến và làm cho nó dễ khống chế hơn.

Các bệnh nhân của Joseph Bogen và Philip Vogel đã giảm rõ rệt mức độ trầm trọng của các cơn tai biến. Đồng thời, hai ông cũng tạo ra được một cơ hội chưa từng có cho các nhà khoa học nghiên cứu chức năng của hai bán cầu não trong tình trạng tách biệt. Sau khi các bệnh nhân này hồi phục, Sperry và Michael Gazzaniga đã tiến hành nghiên cứu họ, bằng cách yêu cầu họ thực hiện nhiều bài tập khác nhau, phối hợp giữa nhận thức và các kĩ năng vận động của bàn tay. Những kết quả mà hai người thu được đã thể hiện đầy sức thuyết phục về những đáp ứng khác nhau của mỗi vùng vỏ não này.

Ngày nay, những đặc tính cơ bản của sự bất đối xứng hai nửa phải/trái của bộ não đã được biết đến rất rõ ràng, bởi chúng đã được phổ biến rộng rãi. Ví dụ như mọi người đều biết rằng mỗi một bên của bộ não thì kiểm soát các chức năng của nửa thân thể ở phía đối diện: bán cầu não trái chỉ huy tay phải, còn bán cầu não phải thì chỉ huy tay trái. Người ta cũng biết rằng mỗi một bán cầu não thông thường hoạt động trong sự phối hợp chặt chẽ với bán cầu não kia, rằng chúng không thể chia cắt một cách dứt khoát khỏi nhau được theo những chức năng tách biệt của chúng. Tuy nhiên, phẫu thuật cắt chỗ nối của hai bán cầu não đã làm nổi bật một cách đầy ấn tượng các nhiệm vụ mà bên não nào làm tốt nhất.

Để xây dựng một mô hình loại suy giữa tổ chức não của một cá nhân đơn lẻ với ý thức toàn cầu của cả hành tinh này, tôi sẽ dùng mô hình tổ chức não của một người thuận tay phải và có bán cầu não trái trội hơn. Bằng phương pháp này, tôi không có ý định loại bỏ 8 đến 9 phần trăm dân số thế giới là những người thuận tay trái và có bán cầu não phải trội hơn. Thực ra, tôi mong muốn sử dụng phương thức thông dụng nhất để lập luận của mình tránh sa vào bãi lầy của những phản bác hay ca ngợi quá đáng. Trong thực tế, hầu hết những gì tiếp sau đây đều đúng cả với những người thuận tay trái theo chiều ngược lại. Tuy nhiên, sự tương đồng này không phải hoàn toàn, bởi vì người thuận tay trái không phải là ảnh gương của người thuận tay phải. Về mặt tương tác của con người, sự rối loạn chức năng do hậu quả tổn thương bán cầu não trái của người thuận tay phải lớn đến mức bán cầu não trái đã được coi là thùy trội của bộ não. Chính vì thế, trong chương này, tôi sẽ nói đến bán cầu não trái theo phương cách quy ước của nó - là bán cầu ở thế trội hơn[1].

Tuy trong những năm gần đây đã có nhiều người phản đối sự đơn giản hóa quá mức trong mô hình phân lập vùng bộ não, nhưng họ không thể bác bỏ được một số sự thật rõ ràng. Nếu như một người thuận tay phải bị một cơn đột quỵ liên quan đến việc kiểm soát bán cầu não trái, thì một đại tai biến về ngôn ngữ, hoạt động vận động hay suy nghĩ trừu tượng sẽ xảy ra. Ngược lại, một cơn đột quỵ đáng kể trong bán cầu não trái sẽ làm hư hại năng lực của người ấy trong việc giải quyết các vấn đề về không gian, nhận diện khuôn mặt hay thưởng thức âm nhạc.

Chỗ để ta bắt đầu sẽ nằm ở phía bên phải, bởi vì nói theo lý thuyết tiến hóa, nó là phần già hơn. Nó bắt đầu phát triển và trưởng thành sớm hơn bên trái trong những tháng đầu tiên của thời kì bào thai. Thêm vào đó, phía bên phải của bộ não già hơn bên trái bởi vì nó gần hơn với mẫu hình tiến hóa trước đó về hành vi.

Năm 1977, nhà bác học thần kinh Paul MacLean đưa ra giả thuyết cho rằng mỗi con người đều có một bộ não gồm ba lớp, tương ứng với toàn bộ lịch sử phát triển của não tất cả các loài. Ông gọi cái khối này là bộ não tam vị thể. Trong mô hình não của MacLean, tầng bò sát là tầng cổ nhất, nằm sâu trong não, và chỉ có thể tạo ra các phản xạ bản năng. Nằm chồng lên trên tầng bò sát là tầng động vật có vú cổ, phát sinh ra những cảm xúc cơ bản của chúng ta. Mọc lên từ trên hai tầng đó là lớp vỏ não mới của con người thông minh và biết tưởng tượng, được chia làm hai bán cầu trái và phải có khả năng sáng tạo ra nghệ thuật và vật lí. Theo MacLean, bộ não ba trong một này hoạt động như “ba máy tính sinh học liên kết qua lại với nhau, (mỗi máy tính) đều có trí tuệ riêng, tính chủ quan riêng, và cảm giác riêng của nó về không gian và thời gian..”. Phần não bò sát lại giống trong người mà MacLean gọi là phức hợp R, chứa các chương trình hành vi cứng nhắc, ám ảnh, bắt buộc, đều đều máy móc và hoang tưởng. Phần não động vật có vú cổ, theo thuật ngữ giải phẫu học là hệ ngoại vi, là chỗ của các cảm xúc cổ điều khiển hành động ăn, chạy trốn, chiến đấu, tình dục; và như vậy bảo đảm cho sự sống sót. Bởi vì tất cả cảm xúc đều hoặc là không hay hoặc là dễ chịu, cho nên khoan khoái hay đau đớn là hai tiêu chí mà hệ limbic phán định các trải nghiệm. Trong hai bán cầu não, thì bán cầu phải ở vị trí thông tin trực tiếp hơn với các bản năng cổ của loài bò sát và cảm xúc nguyên thủy của động vật có vú.

Bản năng không cho phép bất cứ biến dạng nào trong phản xạ của một cơ quan trước một kích thích nhất định. Bản năng đã được “tích hợp thành mạch cứng” trong não các con thằn lằn và rắn, buộc chúng phản xạ lúc nào cũng như lúc nào trước một kích thích cụ thể nào đó. Với động vật có vú, cảm xúc có thể được coi là những tàn dư bị chặt cụt của bản năng. Chúng khác với những phản ứng máy móc tự động của lớp bò sát ở chỗ chúng chỉ là bản năng một nửa. Một kích thích cụ thể nào đó chạm đến bộ máy các giác quan của động vật có vú sẽ luôn luôn kích hoạt việc giải phóng cùng một chuỗi phức tạp các chất trung gian thần kinh và hormone. Xúc cảm đã bắt buộc động vật có vú và cháu con của chúng, loài linh trưởng, phải thực hiện những mẫu hình hành vi bản năng lặp đi lặp lại. Sợ hãi buộc chúng chạy. Căm giận, bực tức và ghen tuông khiến chúng giết. Ghen tỵ và tham lam xui chúng ăn cắp, thèm khát dục tính gạt sang một bên tất cả thận trọng, làm chúng hành động theo một cách có thể gây nguy hiểm cho sự an toàn của chính chúng. Tuy nhiên, động vật có vú có bộ não phức tạp hơn bò sát và có thể đưa ra quyết định; vì thế chúng có năng lực lựa chọn một trong nhiều phản ứng. Ví dụ, thèm khát tính dục có thể làm một con hải cẩu voi đực mới lớn muốn lăn vào giao cấu với một con cái, nhưng nỗi sợ hãi sức mạnh của con đực đầu đàn sẽ làm cho nó ngập ngừng. Có một sự lựa chọn để cho con thú có vú ấy thực hiện, hoặc là thách thức con đực trưởng thành hơn, hoặc là kìm hãm ham muốn lại.

Con người, do được ban tặng món quà là vỏ não, có ý chí tự do, là thứ giúp chúng ta có thể chế ngự được các cảm xúc của mình và điều chỉnh phản ứng của chúng ta trước những khiêu khích của môi trường. Một con người có nhiều lựa chọn; ngựa có rất ít, thằn lằn nhỏ hoàn toàn không. Bất kì ai là người quan sát sắc sảo môi trường của con người đều đồng ý rằng ở phần lớn thời gian, sự khác biệt là rất mờ nhạt. Lớp vỏ của nền văn minh rất giống cái tầng mỏng ngoài cùng của vỏ não. Cả hai đều là những hàng rào ngăn những sục sôi nguyên thủy đang vọt lên từ phía dưới sâu, đòi được giải thoát khỏi những con đường biên ngầm của chúng. Bởi vì bán cầu não phải già hơn bán cầu não trái, nên nó là bán cầu phản ứng với xúc cảm và bản năng - những kẻ lưu nhiệm lại giống từ một thời kì tiến hóa sớm hơn trước đó.

Trong những trình bày tiếp sau đây, tôi sẽ phân loại bốn đặc tính chủ yếu của mỗi bán cầu. Đặc tính lớn đầu tiên của bán cầu phải là tồn tại thuần tuý. Bởi vì ở gần hơn các di sản lại giống của loài người chúng ta, nên bán cầu não phải đánh giá tốt hơn bán cầu não trái những trạng thái tình cảm là những biểu hiện phức tạp của xúc cảm con người như tiếng cười, niềm tin, lòng yêu nước, cảm giác ngây ngất, tình yêu, cảm nhận mĩ học và sự hòa hợp.

Đối với những trạng thái tình cảm ấy, không có một sự xếp loại nào rạch ròi. Mỗi một thứ trong chúng chỉ đem đến cho người cảm thấy chúng một báo cáo không rõ ràng, không thể nói ra được một cách chính xác hay thỏa đáng bằng ngôn ngữ khoa học. Chúng rất mơ hồ mỗi khi có ai đó muốn ấn định về chúng một cách tách bạch. Chúng là không rời rạc.

Hơn thế nữa, các trạng thái tình cảm là phi logic, bất chấp mọi quy tắc của lẽ phải thông thường. Người ta không thể bị thuyết phục để có được hay thoát ra khỏi được một trạng thái tình cảm. Khi Blaise Pascal bình luận “Le coeur a ses raisons que la raison ne connaît pas” (“Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không hiểu được”), ông đã chỉ ra sự khác biệt giữa loại hiểu biết đang diễn ra trong nửa phải tình cảm của não, đối lập với loại ở nửa trái bên kia.

Các trạng thái tình cảm là đích thực, một khi ai đó trải nghiệm tình yêu hay cảm giác ngất ngây, anh ta biết được nó bằng một thẩm quyền bên trong của mình, và tính chân thực của nó là điều không còn tranh cãi.

Điểm mẩu chốt của một câu chuyện cười, niềm tin vào Chúa Trời, lòng yêu nước, tất cả đều không rời rạc, phi logic, và đích thực, cũng như lý do bạn đem lòng yêu ai đó, cái cách bạn có linh cảm về một chuyện nào đấy, hay tại sao một bức tranh là đẹp với người khác nhưng bạn lại không thấy đẹp, đó là: Những trạng thái tình cảm này, đứng trong bóng tối của những buổi đầu cổ xưa của chúng ta, tràn ngập bộ não gần đây vừa tiến hóa có thêm năng lực ngôn ngữ trôi chảy. Mỗi trạng thái tình cảm đều nằm phía trên vòng kiểm soát chặt chẽ của logic. Vì thế, khi bị ép phải giải thích các trạng thái tình cảm, con người chúng ta thường quay lại sự diễn tả lòng vòng: “Nó thế bởi vì nó là thế”.

Trạng thái tình cảm không phát triển theo kiểu đường thẳng, trái lại, nó xảy ra tất-cả-tức-thì. “Chộp” được điểm nút của câu chuyện hài hước sẽ làm rộ lên một tràng cười. Một hiểu biết sâu sắc bằng trực giác có vẻ như không biết từ đâu ra. Tình yêu bùng lên từ cái nhìn đầu tiên như khi Danté bắt gặp Beatrice - tất cả đều diễn ra ngay lập tức. Việc ngộ đạo cũng có thể xảy ra trong một chớp mắt, như lễ hiển linh mà Saul ở Tarsus đã có được trên con đường đi tới Damacus, để sau đó ông trở thành Thánh tông đồ Paul.

Sau tồn tại, đặc tính chủ chốt thứ hai của bán cầu não phải là nhận biết hình ảnh. Chỉ bằng một cái nhìn liếc qua, bán cầu não phải có thể chụp được toàn bộ bức ảnh và ghi nhận tất cả bức tranh theo cách tổng thể. Nó có khả năng đánh giá được mối quan hệ giữa các thành tố của một toàn bộ, và phục dựng hoàn chỉnh hình ảnh chỉ từ mấy mảnh vụn của hình ảnh đó. Bán cầu não phải nhận thức các hình ảnh như các gestalt - các dạng thức hoàn chỉnh, tức là nhìn thấy tất-cả-tức-thì.

Có thể minh họa năng lực nhận biết hình ảnh của bán cầu não phải bằng cách thức mà chúng ta nhận diện các gương mặt người. Bộ mặt của một con người có thể thay đổi ghê gớm bởi các nếp nhăn hay hói rụng hết tóc, ấy vậy mà chúng ta vẫn có thể nhận ra được một đứa bạn thời thơ ấu giữa một đám đông, sau mấy chục năm không gặp. Cái năng lực nhận diện kì lạ ấy mang tính bẩm sinh đến nỗi trong hầu hết mọi trường hợp, chúng ta đều coi đó là đương nhiên. Nhưng một vài người không may, bị một cơn đột quỵ hay thương tổn nào đó với bán cầu não phải, đã không thể nhận diện được khuôn mặt của những người chung quanh. Thậm chí trầm trọng hơn, đôi khi họ còn không có thể nhận ra chính bản thân mình. Bộ mặt của chính họ trong gương trở thành mặt của những người xa lạ, buộc họ hằng ngày đều phải đánh vật làm quen trở lại với những kẻ luôn là người dưng ấy.

Ẩn dụ, đặc tính lớn thứ ba của bán cầu não phải, là một sáng tạo của trí tuệ, nảy sinh từ một tổ hợp độc đáo giữa các trạng thái tình cảm và hình ảnh. Mặc dù không có những cái thang đẹp đẽ gọn gàng mang các bậc đánh số thứ tự đâu vào đấy để dẫn lên đến cái bệ mà các trạng thái tình cảm đang ngự ở đó, nhưng bằng tấm thảm bay thần kì của phép ẩn dụ, chúng ta vẫn có thể lên tới được đó, Ẩn dụ, metaphor, có nguồn gốc từ hai từ Hi Lạp meta “trên cao” và pherein “đem băng qua”, Ẩn dụ cho phép có được một bước nhảy băng vọt qua cái vực thẳm giữa một ý nghĩ này sang một ý nghĩ khác tiếp theo. Các ẩn dụ mang nhiều tầng nghĩa được nhận thức ngay lập tức một lúc và mang lại cho ngôn ngữ một độ mềm dẻo thích hợp, mà không có nó, quá trình giao tiếp trong hầu hết mọi trường hợp sẽ kém thú vị, hay rất khó khăn trong một số trường hợp, thậm chí trong vài trường hợp, là bất khả thi. Thông tin về bất kì một xúc cảm hay trạng thái tình cảm nào phụ thuộc lớn vào việc sử dụng ẩn dụ, bởi vì nếu như cái được gọi là thế giới khách quan có thể miêu tả được, đo đếm được và phân loại được một cách khá chính xác, thì cái thế giới bên trong của các xúc cảm và trạng thái tình cảm lại vượt quá một sự phân tích kiểu như vậy.

Hình thức nghệ thuật ẩn dụ nói lên lời chính là thi ca. Bằng chứng thú vị để tin rằng ẩn dụ là một chức năng của bán cầu não phải chính là việc các nhà thần kinh học đã phát hiện ra rằng một số bệnh nhân thuận tay phải trội não trái, bị một chấn thương lớn ở thùy trái khiến không thể nói được nữa, lại vẫn có thể đọc ra lại được các bài thơ mà họ đã biết trước khi bị chấn thương. Nhà triết học Hannah Arendt cũng tán thành:

“Ấn dụ, chiếc cầu bắc qua vực thẳm giữa các hoạt động vô hình bên trong và thế giới của các hình ảnh hiện hình bên ngoài, chắc chắn là món quà vĩ đại nhất mà ngôn ngữ trao tặng cho tư duy, và vì thế, cho triết học, nhưng bản thân ẩn dụ có nguồn gốc thi ca hơn là nguồn gốc triết học”

Những anh chị em họ của ẩn dụ - ví von, so sánh, phúng dụ, tục ngữ, ngụ ngôn - mỗi thứ mỗi cách đã đem lại sự đa nghĩa cùng một lúc cho việc giải thích một chuỗi từ ngữ cố định đơn lẻ. Việc sử dụng chúng để giải thích các giấc mơ hay dùng chúng trong thần thoại và tôn giáo đã được thiết lập vững chắc ở nhiều nền văn hóa. Có bằng chứng gợi ra rằng nằm mơ cũng xảy ra tại bán cầu não phải, bởi vì những bệnh nhân bị phẫu thuật phân chia não, những người nói được những gì đang xảy ra trong bán cầu não trái, mà bán cầu não trái hầu như đã cắt lìa khỏi bán cầu não phải của họ, đều báo cáo là đã dừng không còn mơ nữa. Các câu chuyện thần kì và các giấc mơ, cả hai đều liên quan chặt chẽ đến ẩn dụ, đều chủ yếu trú ngụ ở bán cầu não phải.

Kết hợp có sức mạnh lôi cuốn nhất giữa ẩn dụ và hình ảnh chính là hội họa. Tác phẩm lớn của nghệ thuật thị giác đều mang tính không rời rạc, phi logicđích thực. Người nghệ sĩ thường xuyên sử dụng ẩn dụ thị giác để đưa người xem từ một trạng thái cảm xúc trung tính đi đến những trạng thái tình cảm phức tạp, ví dụ như niềm kính sợ. Khi nghệ thuật thành công trong việc “đưa” chúng ta “vượt lên băng cao qua” một cách ẩn dụ, thì không có quá trình chuyển tiếp nữa. Đó là một bước nhảy lượng tử tất-cả tức-thì. Khi điều này xảy ra, chúng ta biết rằng mình đang chứng kiến sự hiện diện của một thứ nghệ thuật lớn lao. Henri Matisse có lần đã viết:

“Điều đúng đắn duy nhất trong nghệ thuật là nó không thể đem ra giải thích được. Giải thích sự huyền bí của một tác phẩm hội họa vĩ đại sẽ hủy hoại nó đến mức không thể sửa chữa, bởi vì khi anh giải thích hay định nghĩa một cái gì đó, anh đã lấy lời giải thích hay định nghĩa thay mất hình ảnh của chính nó”.

Bán cầu não phải giúp chúng ta có thể nhận diện các khuôn mặt và cũng lại giúp chúng ta đánh giá được những nét tinh tế của tranh chân dung. Các đặc tính của nghệ thuật thị giác không chỉ là những đáp ứng nhiệt tình đối với các năng lực của bán cầu não phải, mà hình ảnh đơn lẻ phổ biến nhất thấy được trong nền nghệ thuật phương Tây lại chính là sự thể hiện của khuôn mặt người. Đưa thêm một bằng chứng nữa về việc nghệ thuật nằm ở bán cầu não phải, nhà thần kinh học T. Alajoanine đã miêu tả trường hợp một họa sĩ xuất sắc bị đột quỵ nặng ở não trái khiến ông bị mất ngôn ngữ:

“Hoạt động nghệ thuật của ông vẫn không bị xáo trộn; mà thực tế thậm chí ông còn tăng được cường độ và sự sắc sảo trong nhận thức nghệ thuật của mình, dường như trong ông giờ đây người mất ngôn ngữ và nhà họa sĩ cùng chung sống”.

Đặc tính thứ tư và là đặc tính lớn cuối cùng của bán cầu não phải là năng lực thưởng thức âm nhạc của nó. Đặc tính này chia sẻ với các cảm xúc điểm tương đồng rằng nó cũng là một phản ứng nguyên thủy, hiện diện trong nhiều loài vật khác. Âm nhạc khác với âm thanh thuần tuý ở chỗ tuy cùng diễn tiến theo thời gian, nhưng thùy não phải đã tích hợp những âm thanh đa dạng đồng thời phát ra từ những nguồn khác nhau thành một trạng thái tình cảm hòa hợp tất-cả-tức-thì mà chúng ta nhận thấy là khác biệt với những âm thanh khác. Chúng ta gọi cái này là âm nhạc. Tuy định nghĩa nó vô cùng khó, nhưng sự khác biệt giữa tiếng ồn với âm nhạc là một thứ mà mỗi người chúng ta chắc chắn biết rằng mình phân biệt được. Lại một lần nữa, âm nhạc chứng tỏ khả năng của bán cầu phải có thể xử lý thông tin một cách tất-cả-tức-thì.

Tổn thương của bán cầu não trái thường làm tắt tiếng nói của ngôn ngữ, nhưng năng lực âm nhạc để có thể hát lên thì thường vẫn còn. Có lẽ quan sát sớm nhất có được về sự chia tách này là ghi chép của Dalin vào năm 1745 về một bệnh nhân:

“… bị một trận ốm nặng, dẫn đến hậu quả là liệt toàn bộ nửa người bên phải và mất toàn bộ ngôn ngữ… Ông ta vẫn có thể hát được một số bản Thánh ca mà ông ta đã học được trước khi bị ốm, hát một cách rõ ràng và rành rọt như bất kì một người khỏe mạnh nào.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi bắt đầu vào bài ca, ông ta cần phải có một người khác giúp đỡ, hát cùng một đoạn. Tương tự như vậy, ông ta có thể lặp lại một số lời cầu nguyện không phải là hát, nhưng mang nhịp điệu nhất định và theo một giọng the thé như gào lên. Tuy thế nhưng người này bị câm thực sự, không nói nổi lấy một lời, ngoài mỗi tiếng “vâng”, muốn nói gì phải ra hiệu bằng tay”.

Các bác sĩ vẫn tiếp tục ghi lại những quan sát tương tự trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, về các binh lính bị chấn thương bán cầu não trái rồi bị câm, nhưng vẫn có thể hát được nhiều bài ca mà họ đã thuộc trước khi bị thương. Những ví dụ khác về sự chia tách này bao gồm cả trường hợp của nhà soạn nhạc Maurice Ravel người Pháp, bị một cơn đột quỵ ở bán cầu não trái khiến ông không thể nói, viết, đọc được nốt nhạc. Bất chấp điều đó, ông vẫn có thể hát, chơi đàn dương cầm bất kì bản nhạc nào mà ông đã thuộc trước khi bị tai biến. Nhà thần kinh học người Nga Alexander Luria đã thông báo về trường hợp một nhà soạn nhạc lại sáng tác ra được những tác phẩm xuất sắc nhất của mình, sau khi bị một cơn đột quỵ ở bán cầu não trái làm mất hẳn lời nói.

Lịch sử về những trường hợp ấy làm cho câu chuyện về Mozart yêu cầu vợ đọc cho nghe các mẩu chuyện trong khi ông tiến hành soạn nhạc trở nên đáng tin. Để não trái phân tán sự chú ý vào ngôn ngữ nói, não phải của ông sẽ không bị cản trở và được tự do hơn trong việc sáng tác nhạc. Carl Orff, chỉ huy dàn Hợp xướng thiếu nhi nam nổi tiếng của thành phố Vienna dường như cũng hiểu rõ sự phân đôi chức năng não này một cách trực giác, bởi vì ông không nhận bất cứ cậu bé nào đã bắt đầu học đọc học viết vào dàn Hợp xướng của mình.

Sự phân lập giữa các trung tâm ngôn ngữ và âm nhạc trong bộ não đã được chứng minh một cách hết sức thuyết phục trong các thí nghiệm với những bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt chỗ nối giữa hai bán cầu não. Vốn biết rằng khi âm thanh đi vào một bên tai thì nó sẽ lan ra cả sang hai bán cầu não, các nhà khoa học thần kinh đã cho phát một bản nhạc được ghi âm sẵn vào tai của các bệnh nhân đã được phẫu thuật nói trên. Rồi sử dụng những màn hình được thiết kế đặc biệt có thể hiện sáng lên những câu hỏi đối với bán cầu này mà bán cầu kia không biết, họ yêu cầu mỗi bán cầu nhắc lại những gì nó đã được nghe. Khi câu hỏi được đặt ra cho não phải, thì bệnh nhân ngâm nga được giai điệu của bài ca, nhưng không thể nói ra được lời hát. Còn khi não trái được hỏi nó đã nghe thấy gì, thì bệnh nhân chỉ nói ra được ca từ còn không thể hát lên được giai điệu. Kết luận rút ra từ tất cả những bằng chứng trên là hết sức rõ ràng. Âm nhạc là chức năng trú ngụ chủ yếu ở bán cầu não phải. Orpheus, vị thần thi sĩ và nhạc sĩ, thiết triều ở bán cầu trội bên phải.

Chúng ta có thể thấy rằng bán cầu phải xử lý thông tin như một dạng tổng thể tất-cả-tức-thì, bằng cách sử dụng các định tố đầu vào, hội tụ với nhau và tích hợp chúng lại. Tính tức thì, đối lập với thời gian chuỗi, là đặc điểm độc đáo của bộ não phải, bán cầu hoạt động tốt nhất trong một bối cảnh thị giác-không gian, liên kết các bộ phận với tổng thể, cùng lúc đó hình dung ra các mối quan hệ của chúng một cách trực giác. Bởi vì các định tố đa dạng, các cảm xúc đa sắc thái, các ý nghĩa đa tầng, các hình ảnh đa diện mạo và các âm thanh đa thanh hội tụ thành một trạng thái, có thể diễn đạt một cách dễ dàng nhất bằng ẩn dụ của không gian, nên phần bên phải của bộ não là cái phần tốt hơn cho chức năng nhận biết về các chiều và xác định các khoảng cách. Lái xe, trượt tuyết, nhảy múa là lãnh địa của bán cầu phải. Các hình ảnh phức tạp, ví dụ như gương mặt con người chứa đầy những biểu hiện tinh tế, liên tục và thường xuyên thay đổi của các tình cảm khác nhau, cũng được nhận biết tốt nhất bằng bán cầu não phải. Thực tế, tất cả những thuộc tính chủ yếu của bán cầu não phải là tồn tại, hình ảnh, ẩn dụâm nhạc - đều là những tiếng vọng của các kĩ thuật tiến hóa được những tổ tiên động vật gần cận loài người chúng ta sử dụng để nhận biết thực tại và đều được Cảm nhận một cách tổng thể.

Đối lập với những điều trên, bán cầu não trái, trẻ trung hơn lại kiểm soát bàn tay phải trội hơn và liên quan đến hành động, chứ không phải là tồn tại. Bởi vì hành động của ý chí hầu hết xuất phát từ bán cầu não trái, nên thông thường bàn tay phải vặt quả dâu, ném lao, chế tác ra công cụ. Thay cho tính tức thì, cái phẩm chất tạo nên chúng ta thành Homo faber, người chế tác công cụ, phụ thuộc vào mỗi chuỗi các bước hành động tồn tại trong thời gian.

Tôi ngờ rằng các lý do khiến cho bán cầu não trái vượt trội lên trong não, hơn hẳn người anh sinh đôi già hơn của nó là ở chỗ những âm thanh chỉ loài người mới có - lời nói - được phát sinh ra từ chỗ này. Rất phù hợp với thần thoại về nguồn gốc của bảng chữ cái - Vua Cadmus đã chôn các răng rồng và các con chữ đã vọt lên từ dưới đất dưới dạng các binh sĩ đầy đủ giáp trụ - ngôn ngữ cũng mang tính chất hướng về hành động. Từ ngữ chính là cốt lõi của phương thức hành động; con người chúng ta dùng chúng thực hiện tách bạch, phân biệt, phân tích và chia xẻ thế giới ra thành các mảnh, các vật thể, các phạm trù, để ta có thể nắm chặt được nó theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Kho từ vựng chính là một bộ công cụ mà chúng ta dùng để tác động tới môi trường.

Bán cầu não trái là nơi ở của 90 phần trăm các trung tâm ngôn ngữ tồn tại trong bộ não của những người thuận tay phải. Từ bán cầu trái phát xuất ra sự hình thành và hiểu biết lời nói với tất cả những sự phức tạp tinh vi của nó về ngữ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa. Lời nói cho phép chúng ta không những giao tiếp được với nhau, lời nói còn cho phép chúng ta tự trò chuyện với mình ở bên trong chính chúng ta. Các sinh vật bậc thấp có thể ra tín hiệu, các con thú bậc cao có thể thông tin, nhưng chỉ có con người mới có thể đặt câu hỏi, và hơn thế nữa, phản bác lại câu trả lời. Từ ngữ chính là thuộc tính chủ yếu thứ hai của thùy não trái.

Sự phát triển của ngôn ngữ mà theo đó việc đặt câu hỏi và phản bác lại câu trả lời đã đi cùng với đặc tính thứ ba của thùy não trái - tư duy trừu tượng, cái năng lực xử lý thông tin không cần hình ảnh, đối lập với tư duy bằng ẩn dụ. Từ ngữ là những vật thay thế bằng ngôn ngữ mà trí tuệ dùng để xây dựng nên các khái niệm. Sau đó chỉ dùng ngôn ngữ, trí tuệ có thể sắp xếp lại các khái niệm và giải quyết các vấn đề. Khi con người vượt qua được kiểu tư duy dùng hình ảnh, họ đã thực hiện được một bước nhảy tiến hóa khổng lồ. Những âm vị vô nghĩa phát ra từ thanh quản của người tiền sử đã thành các từ của lời nói và công cụ của tư duy trừu tượng. Rồi sau đó muộn hơn, khi con người kết hợp các con chữ vô nghĩa của một bảng chữ cái ngẫu nhiên để tạo thành những từ nhìn thấy được để thể hiện thế giới, họ đã sáng tạo ra hình thức nghệ thuật trừu tượng đầu tiên: ngôn ngữ viết bằng bảng chữ cái. Loài người đã kết hợp những âm thanh vô nghĩa với những kí hiệu vô nghĩa và tạo ra nền văn minh.

Tư duy trừu tượng, hầu hết, đều được thực hiện trong bối cảnh của tính nhân quả. Rất có thể nó đã tiến hóa từ việc con người nguyên thủy cố gắng phân loại thế giới thành các sự kiện không gian xảy ra trong thời gian. Cái màng lưới vô hình trong não người, kết quả của việc khái niệm hóa sự giao cắt của không gian và thời gian ấy sau đó có thể đã tạo ra các điều kiện để nhận ra tính nhân quả và hình thành nên suy lý logic. Và cái lợi ích chủ yếu mà loài người chúng ta rút ra được từ việc sử dụng tư duy trừu tượng là tăng được tầm nhìn xa thấy trước của mình.

Suy lý logic dựa trên mệnh đề nếu - thì. Một bối cảnh hay ý niệm giả định “nếu” sẽ được vạch ra trong tâm trí và đặt ở phía bên trái của bấy giờ, tức là trong quá khứ. Sau đó, bộ não đưa ra một bối cảnh hay ý niệm “thì” mang tính giả định không kém và đặt nó ở phía bên phải của bây giờ, tức là ở trong tương lai. Rồi từ đó, người ta có thể suy ra trong tâm trí khả năng giả định “nếu” có thể sẽ dẫn đến giả định “thì” như thế nào và thực hiện hay không thực hiện hành động cho phù hợp. Rõ ràng, logic không mang tính tổng thể, cũng không được coi là một dạng thức. Nó chủ yếu dựa trên khái niệm về trình tự chuỗi.

Suy luận logic kiểu “nếu-thì” đã trở thành phương tiện tin cậy nhất để báo trước tương lai, thay thế cho các loại điềm triệu, tiên tri, sấm kí. Các nguyên tắc của logic đã tạo nên nền tảng cho khoa học, giáo dục, kinh doanh và chiến lược quân sự. Suy nghĩ theo logic khác với các hoạt động trí tuệ thông thường khác như hình dung, trực cảm, hồi tưởng, suy tư, ngẫm ngợi hay mơ mộng hão huyền ở chỗ chỉ có một mình nó là phụ thuộc vào niềm tin về một hệ tọa độ chặt chẽ của không gian tuyệt đối và thời gian bất biến.

Tính chất thứ tư chỉ có ở bán cầu não trái là giác cảm về con số. Mặc dù năng lực đếm đã được bắt đầu từ bán cầu não phải không gian-thị giác và các động vật bậc cao cũng có thể phân biệt được khái niệm của “cái một” với “cái hai” hoặc “cái nhiều”, nhưng năng lực của con người có thể hoán vị các con số lớn hơn nhiều là một điều gì đó mới mẻ một cách cơ bản trong thế giới loài vật. Tính toán yêu cầu một cấp độ trừu tượng vượt quá các vận hành cụ thể của bán cầu não phải. Bên cạnh ngôn ngữ của lời nói, bán cầu trái đã phát triển nên một ngôn ngữ các con số. Qua toán học, bộ não trái có thể tái sắp xếp lại những kí hiệu vô nghĩa đại diện cho các con số, thành môn số học đơn giản, hay nó có thể biến chúng thành các phép tính vi tích phân phức tạp. Ý nghĩa quyết định của cảm giác về con số thể hiện rõ ở thực tế là khi trẻ nhỏ bắt đầu học bảng chữ cái, chúng cũng học đếm luôn.

Tất cả những đặc điểm mang tính đổi mới ấy của bán cầu não trái - hành động, từ ngữ, tư duy trừu tượng - đều được xử lý chủ yếu trong thời gian. Để phát triển kĩ năng, chiến lược, ngôn ngữ, logic hay toán học, trí tuệ phải bao quát tới lui dọc theo con đường của quá khứ, hiện tại, tương lai. Cái khả năng nghĩ ra rồi làm nên một công cụ đã phát xuất từ bán cầu não trái và phụ thuộc nặng vào năng lực có thể ghi nhớ được một loạt các bước nằm theo chuỗi thứ tự[2]. Bàn tay phải mang tính trội là một chi đặc biệt, là một sự kéo dài của bán cầu não trái hoạt động theo chuỗi thời gian.

Chức năng của thời gian hiển hiện rất rõ trong lời nói, bởi vì ngôn ngữ chỉ có thể hiểu được khi trong một thời điểm chỉ một người nói. Một người chúng ta rất khó theo dõi hai cuộc trò chuyện diễn ra đồng thời. Ngược lại, chúng ta có thể lắng nghe được âm thanh từ tất cả các nhạc cụ của một dàn giao hưởng bảy mươi người phát ra và cảm nhận được chúng một cách tổng thể, tất-cả-tức-thì. Khác với âm nhạc, ta chỉ có thể trải nghiệm tiếp nhận ngôn ngữ lần lượt mỗi lúc một từ, một câu, một ý tưởng.

Logic, đại số và các phương trình vật lý - tất cả đều được diễn tiến trong thời gian; các bằng chứng được trình bày hết hàng này đến hàng kia là đặc điểm cốt lõi của chúng. Tính chuỗi là trụ cột của ngôn ngữ số; tư duy về số học mà không có khuôn khổ thời gian thì là điều bất khả. Thực tế, bản thân chuỗi số cũng chính là một chuỗi.

Các nghiên cứu về sự phân vùng ở não đã khẳng định thực sự có hai kiểu nhận thức khác nhau. Một kiểu là việc học hỏi mang tính chất tiến hóa loài từ cổ xưa, có gốc rễ tại bán cầu phải, dựa trên thị giác và phụ thuộc vào không gian. Bán cầu não trái tiến hóa muộn hơn, học hỏi thông tin bằng quá trình lặp lại theo chuỗi thời gian. Chúng ta hành động khi hai bán cầu não của mình đạt được sự nhất trí tương liên với nhau. Bốn đặc tính chủ yếu của não phải là sự tích hợp toàn cảnh và tổng thể của nó về tồn tại, hình ảnh, ẩn dụâm nhạc. Nó hoạt động theo phương thức tất-cả-tức-thì. Có thể vẽ được bản đồ địa hình của hầu hết bán cầu não phải bằng việc sử dụng các vectơ không gian. Đối lập lại, bán cầu não trái xuất sắc trong hành động, từ ngữ, tư duy trừu tượngcảm nhận về con số (Hình 26.1). Nó hoạt động theo phương thức chuỗi lần-lượt-từng-thứ, và các khả năng của nó dựa vào các khoảng thời gian. Tồn tại, ẩn dụ, hình ảnh và âm nhạc là cốt lõi của nghệ thuật. Hành động, suy lí, tư duy trừu tượng và con số là then chốt của vật lí. Nghệ thuật sống chủ yếu ở bên phải; còn vật lý trú ngụ chủ yếu là ở bên trái.

Hinh26 1.jpeg

Hình 26.1. Các đặc tính chủ yếu của mỗi bán cầu não

Chú thích

  1. Tuy nhiên, các độc giả thuận-tay-phải trội-não-trái trở nên tự mãn. Không cần đọc tiếp chú thích này, xin hãy làm một thí nghiệm đơn giản cùng với tôi. Trước hết, nắm hai bàn tay lại với nhau để cho các ngón tay đan xen vào nhau. Rồi bây giờ quan sát xem ngón tay cái nào nằm ở trên cùng. Nếu bạn đã để ngón cái trái nằm lên trên ngón cái phải - như rất nhiều người thuận tay phải khác làm thế - thì như vậy là cái phần bên phải không trội của bộ não bạn đã đóng một vai trò trong tâm trí bạn lớn hơn bạn đã từng nghĩ trước đó đấy.
  2. Trong khi chim chóc và hải li cũng thực hiện một hành động phức tạp tương tự, nhưng chúng đã không "học" để biết cách xây tổ chim hay đập nước, và cũng không nhớ được các bước chính xác để xây dựng các công trình này. Hành vi của chúng là những hành vi bản năng.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!