Những năm tháng về già

13. Những năm tháng về già

Cuộc đời tôi không có gì thay đổi khác người, tức là thuở nhỏ thì chịu nhiều khổ hạnh, còn những năm về già lại được hưởng cuộc sống an nhàn. Đó không phải là điều hiếm có trên đời. Tôi đã nếm trải mọi khổ cực cũng như sung sướng của một con người bình thường, cho đến nay chưa có điều gì phải quá xấu hổ, cũng như chưa có điều gì quá hối hận và được sống những năm tháng thanh thản. Trước hết phải nói tôi là một người hạnh phúc.

Mục lục

Nguyên do của việc ghét làm quan chức

Cuộc đời tôi không có gì thay đổi khác người, tức là thuở nhỏ thì chịu nhiều khổ hạnh, còn những năm về già lại được hưởng cuộc sống an nhàn. Đó không phải là điều hiếm có trên đời. Tôi đã nếm trải mọi khổ cực cũng như sung sướng của một con người bình thường, cho đến nay chưa có điều gì phải quá xấu hổ, cũng như chưa có điều gì quá hối hận và được sống những năm tháng thanh thản. Trước hết phải nói tôi là một người hạnh phúc.

Thế nhưng, thiên hạ thì vô vàn. Từ xa mà nhìn những sự sướng khổ của tôi, có lẽ mỗi người sẽ đánh giá khác nhau và cũng có người không khỏi hoài nghi. Đặc biệt, họ cho rằng, việc tôi không phải là một kẻ ngu dốt, ngược lại có nhiều hiểu biết về chính trị, mà kết cục lại không ra làm quan chức cho chính phủ là một điều lạ đời. Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức. Vậy mà chỉ có một mình ông Fukuzawa không thích. Thật là khó hiểu!

Họ không chỉ xì xào bình luận mà có người còn trực tiếp hỏi tôi. Họ cho rằng, tôi không phải là một người Nhật bình thường. Ngay cả một người nước ngoài mà tôi quen cũng thắc mắc về việc tiến thoái này. Một người Mỹ còn nhiều lần đến bảo tôi sao không ra chính phủ làm việc. Chiếm một vị trí tốt trong chính phủ và làm những việc mình cho là đúng, vừa có danh, vừa có lợi. Như thế chẳng hay sao? Tôi chỉ cười chứ không đối đáp gì.

Ngay sau cuộc duy tân, nhóm những người lập nên chính phủ mới bàn luận và cho tôi là một người theo Phái Tá Mạc, giữ tấm lòng trung tiết với Mạc phủ trước đây, nên không ra làm quan phục vụ chính quyền mới, chỉ vui với chính trị của Mạc phủ mà ghét chính phủ của Thiên hoàng. Trong lịch sử cách mạng từ xưa đến nay, có những người được gọi là “Di thần” của triều đình cũ và Fukuzawa có vẻ như bắt chước những “Di thần” đó, siêu phàm phiêu du ở ngoài cõi đời thực, nhưng thực ra trong tâm thì ôm mối bất bình vô hạn, nên không thể nghĩ ra điều gì tốt đẹp cho chính phủ mới được. Chính phủ mới không thể chủ quan với những kẻ như thế.

Tôi biết người ta tưởng tượng thế này, thế kia về mình, nhưng “ngài di thần” được mang ra bàn luận ấy, từ xưa đã cạn lòng yêu mến với chế độ đẳng cấp và chủ trương bế quan tỏa cảng của thể chế cũ. Trong cuộc duy tân, khi các trung thần nghĩa sĩ của Mạc phủ xôn xao bàn luận về lòng trung nghĩa, bày tỏ nhiệt huyết đối với phong trào Tá Mạc đến mức bỏ trốn đi theo, thì “ngài di thần” đã không bàn luận gì, thậm chí, nếu biết có người bỏ trốn còn khuyên họ không nên làm những việc vô bổ, bảo họ rằng, chắc chắn sẽ thất bại, thôi đi thì hơn.

Vì vậy, kết luận cho tôi là di thần của thể chế cũ là không ăn khớp. Nói là di thần của chính phủ cũ, thì trong cuộc duy tân, các trung thần nghĩa sĩ của Mạc phủ đúng với chức danh này nhất. Tuy nhiên, chỉ trong chính phủ cũ họ mới là người trung nghĩa thứ nhất mà thôi. Không biết từ lúc nào, họ đã thoắt biến đổi, nhanh chóng chuyển thành người trung nghĩa thứ hai, nên không thể gọi họ là di thần được. Mà thôi, chuyện trung thần thì tạm gác, ta sẽ cùng trở lại vấn đề tiến thoái của tôi.

Như đã nói từ trước, vì ghét chế độ đẳng cấp và chủ trương bế quan tỏa cảng từ đáy lòng, nên trong cuộc duy tân tôi không hề có ý theo Phái Tá Mạc. Thế nhưng, nếu quan sát hành động của những người theo Phái Cần vương thì so với Mạc phủ họ còn chủ trương tỏa quốc và Nhưỡng di hơn nhiều. Tôi không có ý trợ sức cho những phe phái như vậy. Tôi quyết định sẽ đứng trung lập, độc lập một mình, thì chính phủ mới đưa ra một mệnh lệnh đáng được đánh giá cao là mở cửa đất nước. Nhưng chỉ mang tiếng là chủ trương mở nước, chứ thực ra đâu đâu cũng đóng kín. Tôi không thể tin tưởng được điều gì. Nhìn xung quanh Đông Tây Nam Bắc không có lấy một người để hàn huyên, nên đành âm thầm làm những việc mình có thể.

Trong khi tôi chủ trương mở cửa đất nước và tiếp thu văn minh phương Tây, thì tư tưởng mở cửa đất nước của chính phủ dần trở thành hiện thực, chứ không phải là không có cải biến gì. Chính sự tiến bộ nhanh chóng của xã hội làm tôi vui mừng và phấn khởi. Đó thực là điều kỳ diệu. Ước vọng lớn lao của tôi cũng đã được thực hiện, nên tôi không còn ca thán về những điều bất bình nữa.

Nảy sinh vấn đề

Ở đây, ngày càng nảy sinh vấn đề trong việc tiến thoái của tôi. Cho đến nay, việc tôi không tiến thân cho chính phủ mới là vì họ chủ trương tỏa quốc, Nhưỡng di, mà tôi thì ghét điều đó. Chẳng hạn, dù họ có đưa ra chính sách mở mang đất nước, tôi cũng cho rằng, thực ra cốt lõi của việc làm đó vẫn là tỏa quốc, Nhưỡng di. Thế nhưng, khi chủ trương của chính phủ dần chuyển sang mở mang đất nước, khai hóa văn minh thì hình như nhiều người bắt đầu nghĩ rằng, chính lúc này đây tôi sẽ dốc sức cho việc công, sẽ cùng với những người của chính phủ tiến hành quốc sự theo đường văn minh, nhưng đến thời điểm đó tôi vẫn chưa hề động tĩnh gì.

Không gia nhập hàng ngũ của những kẻ hống hách

Có một chuyện mà cho đến nay, tôi chưa bày tỏ với ai, vẫn im lặng, vì nghĩ rằng, không cần thiết phải nói, nên vợ con tôi vẫn không biết. Nếu nói sự thực, tại sao tôi không thể ra làm quan chức là vì, cùng với việc chính phủ quyết định mở cửa đất nước, khai hóa văn minh, tiến hành cải cách lớn về mặt chính trị, thì những công chức lại ra oai với dân chúng một cách quá đáng. Sự ra oai đó cũng có lý do biện minh là để thể hiện sự uy nghiêm về mặt chính trị. Thế nhưng, trên thực tế không phải như vậy. Họ khoái chí với sự ra oai như thế, trong khi không có thực quyền gì.

Chẳng hạn, cùng với việc thực hiện Vương chính duy tân và tổ chức chính trị một cách văn minh thì những thứ như giấy ghi nhận công danh, phẩm tước cổ xưa vẫn không bị bỏ đi, mà lại gắn thêm vào người những chức danh vô nghĩa, tạo ra sự phân biệt trên dưới, sang hèn một cách không cần thiết trên khắp nước Nhật. Hơn nữa, họ còn phân chia xã hội thành hai hạng người công chức và thường dân. Nói rằng chính phủ cao quý thì tự nhiên những người ở trong chính phủ cũng trở nên được kính trọng. Mà được kính trọng, tự nhiên sẽ sinh tật hống hách. Sự hống hách đó chỉ là “thùng rỗng kêu to”, không có thực quyền mà cũng ra oai.

Tôi biết đó là điều không tốt, nhưng theo dòng chảy của tự nhiên, nếu như nhập vào đội ngũ của những công chức, một lúc nào đó tôi cũng sẽ trở nên lộng hành như họ. Mà mình ra oai với người dưới thì lại bị người trên hành hạ. Cũng như trò mèo, chuột vờn nhau, thực ra việc đó thật ngu ngốc và không có gì là hay ho cả. Chừng nào tôi chưa vào chính phủ, vẫn còn có thể đứng ngoài nhìn vào trò lộng hành của những kẻ ngu ngốc và cười nhạo được, chứ nếu theo trào lưu của xã hội Nhật hiện nay mà nhập vào hàng ngũ của những công chức, dù có ở vị trí tối cao, thế nào cũng sẽ phạm phải những điều khó coi mà người ta hay gọi là “thùng rỗng kêu to”, hống hách, trong khi không có thực quyền. Điều đó là không thể với tính cách vốn có của tôi.

Coi những kẻ không có phẩm hạnh thuộc loại người khác

Điều thứ nhất, như tôi đã nói ở trên. Điều thứ hai tuy khó nói, nhưng nhìn vào lối sống của toàn thể những công chức, thấy phẩm cách vốn có của họ không phải là cao quý gì. Sinh thời, họ ăn sang, mặc đẹp, ở trong những dinh thự lớn, tiêu xài xa hoa, mọi việc đều suy nghĩ thấu đáo, đối nhân xử thế hay, làm chính trị đều không phải là tồi, nhưng chuyện gì họ cũng bắt chước tính vô tư của người Trung Quốc, không giữ gìn bản thân. Chỉ cần chán nản một chút là đã uống rượu, hay bỡn cợt với phụ nữ và có vẻ như coi nhục dục là thú vui tối thượng của con người. Cả ở trong và ngoài nhà đều có nuôi vợ bé, phạm tội đa thê mà không biết xấu hổ. Không những không có ý định giấu giếm những việc xấu như vậy, mà còn ra vẻ vênh vang.

Phải nói rằng, một mặt, họ vừa tiến hành công cuộc cải cách theo văn minh phương Tây, mặt khác, lại học theo những thói quen xấu của Nhật Bản ngày xưa. Bởi vậy, gác lại chuyện khác, chỉ cần nhìn về việc này thôi đã có thể thấy họ rơi xuống hạng người thấp hèn.

Thế nhưng, tôi cũng chỉ coi đó là một thói đời, từ xa nhìn lại cũng không có gì là thù ghét hay có ý định cấm đoán. Đôi khi, tôi có qua lại chỗ họ, nói chuyện về những việc cần hay cười đùa vui vẻ, nhưng nếu bảo gia nhập vào hàng ngũ của họ, ăn chung với họ một nồi cơm hay lại gần họ thì tôi cảm giác như có gì bẩn thỉu, ô uế và thấy khó chịu. Đó cũng là do tôi có thói quen quá sạch sẽ và thích sự thanh khiết, nói chung là không độ lượng, nhưng vì là tính cách bẩm sinh, nên không làm thế nào khác được.

Ghét thói bội bạc của những người được gọi là trung thần, nghĩa sĩ

Điều thứ ba là cuối thời Mạc phủ, khi hai phái Tá Mạc, Cần vương chia rõ ở hai vùng Đông và Tây, vì ghét chế độ đẳng cấp phong kiến từ thời xưa, nên tôi ghét cả chủ trương tỏa quốc Nhưỡng di. Tôi vốn không tâm phục khẩu phục Mạc phủ và quả quyết cho rằng, chính phủ đó thà lật nhào còn hơn. Nói như thế, nhưng khi nhìn vào tình hình của Phái Cần vương, thấy lý luận về tỏa quốc Nhưỡng di của họ còn mạnh mẽ hơn cả Mạc phủ. Vì vậy, ngay từ đầu, tôi đã không thể dành tâm trí cho những bè đảng như thế.

Trong khi tôi chỉ im lặng và đứng ngoài quan sát thì xảy ra cuộc bạo động theo hướng duy tân và Tướng quân Tokugawa trốn đi nay lại trở về. Tức thì những người của Mạc phủ, tất nhiên là bè đảng Tá Mạc từ các miền lại trở nên huyên náo, đưa ra hàng trăm thứ lý luận để tranh cãi.

Họ không chỉ cho rằng, di nghiệp ba trăm năm của Tōshōshinkun (Đông-Chiếu-Thần-Quân) không thể bị ném đi một sớm một chiều. Với tư cách là một thần tử, không được quên ơn nghĩa đối với chủ tướng trong suốt ba trăm năm. Lực lượng của Satsuma và Chōshū chỉ là những võ sĩ hàng phục trong trận Sekigahara, còn tám vạn bộ hạ kỵ binh hùng dũng của Mikawa (Tam-Hà) có danh dự, chứ sao lại phải gập gối trước những võ sĩ đã từng hàng phục đó? Với khí thế hừng hực, có người còn định đón đánh quân phản tặc Satsuma và Chōshū ở Hokkaidō, lại cũng có người đào tẩu bằng quân hạm. Còn những sách sĩ, luận khách thì vào yết kiến Tướng quân và thúc giục tuyên chiến. Can gián xong, họ lại gào rống lên làm tình hình càng rối tung.

Đó là Hội cùng tiến của những trung thần, nghĩa sĩ, nhưng họ cũng không thực hiện được lý tưởng trung nghĩa đó, mà cuối cùng Mạc phủ bị giải tán, có những người lên quân hạm đến ở vùng Hakodate, có người lại chỉ huy bộ binh chiến đấu ở vùng Đông Bắc. Ngoài ra, còn có những người giận đùng đùng mà đi về vùng Shizuoka. Trong số đó, những người mang lòng trung nghĩa sâu sắc, gọi Tōkyō là “tặc địa", những thứ được làm ở Tōkyō như bánh kẹo cũng không ăn, đêm nằm ngủ không hướng đầu về phía Tōkyō, nói đến chuyện Tōkyō thì ô uế miệng, mà nghe chuyện Tōkyō thì ô uế tai. Họ là những Bá Di, Thúc Tề hiện đại, còn Shizuoka là Thủ Dương Sơn, quả là ghê gớm!

Nhưng chỉ một hai năm sau đó, không hiểu có phải các ngài Bá Di, Thúc Tề đó cảm thấy được hết sự thiếu thốn warabi ở Thủ Dương Sơn hay không mà họ lục tục kéo xuống chân núi, không chỉ thò đầu xuống vùng “tặc địa” mà còn lộ nguyên hình ra đầu quân cho chính phủ mới. Cả những kẻ đã đào tẩu trong hải quân, cả những Bá Di, Thúc Tề, tất thảy đều tụ tập lại quanh chính phủ, xin yết kiến những vị quan chức, mà trước đây họ cho là những kẻ phản nghịch. Họ không nói là lần đầu tiên được diện kiến mà bảo mình cũng là những thần dân của Nhật Bản, đã từng biết nhau từ trước kia. Là quân tử không nhắc lại những điều đã qua, tiền ngôn, tiền hành chỉ là chuyện đùa, hai bên sẽ cùng sẻ chia làm sao để chính trị yên ổn, không còn phong ba bão táp mới là điều thực lấy làm mừng.

Điều đó không cần phê phán nữa, nhưng tôi cũng có một chút lý luận riêng. Đại thể cuộc chiến loạn theo phương châm Vương chính duy tân là bắt nguồn từ những sự đồng dị về chủ trương chính trị. Chẳng hạn, những nhà Cần vương thì chủ trương tỏa quốc, Nhưỡng di, còn những nhà Tá Mạc thì lại đề xướng chính sách cải tiến, mở nước.

Cuối cùng, Mạc phủ bại trận, nhưng sau đó những nhà Cần vương phản tỉnh lại và chuyển sang chủ trương mở cửa đất nước, đúng như túc luận của những nhà Tá Mạc, nên những phương châm sau này nghe có vẻ lọt tai, nhưng trong cuộc chiến loạn lúc đó, không có chút biểu hiện của sự khai tỏa nào hết. Sự tiến thoái của các nhà Tá Mạc nhất cử nhất động, đều xuất phát từ ý thức danh phận, quân thần.

Họ nói là chiến đấu vì thiên hạ của Tướng quân Tokugawa trong suốt ba trăm năm, nhưng khi thiên hạ đó không còn nữa thì tiêu điểm tranh đấu cũng mất mà họ vẫn thản nhiên như thường được cũng lạ. Nếu là những tiểu nhân không hiểu gì về lý luận còn được, nhưng đây họ lại là những người đã khởi phát các tranh luận, đề xướng tinh thần trung nghĩa, học theo Bá Di, Thúc Tề mà chính họ lại là những kẻ bỏ trốn và làm náo loạn thiên hạ, thì tôi không hiểu họ ra sao.

Thắng thua là vận của thời cuộc. Có thua cũng không phải là điều xấu hổ. Lý luận không đúng cũng không sao. Nếu thất bại, đành bỏ cuộc, vì tin rằng vận mình không còn, trở thành sư trong chùa, ẩn mình nơi rừng núi qua ngày thì còn được. Nhưng đây, họ không trở thành nhà sư đã đành, mà còn nhao nhao tranh nhau quyền cao chức trọng và mừng rỡ với điều đó thì không hợp ý tôi chút nào. Không thể kỳ vọng gì ở các trung thần, nghĩa sĩ được.

Lý luận về danh phận của quân thần, chủ phụ cũng là thứ bị phản bội. Tôi quyết định đứng một mình còn dễ chịu hơn là vào hàng ngũ của những kẻ bạc bẽo như vậy. Ngay từ đầu tôi đã giữ điều tâm niệm đó, về chính trị tất cả đều mặc cho người khác làm và giữ mình ở mức chỉ nỗ lực vì bản thân mà thôi. Bản thân tôi thực ra không có liên quan gì, chỉ là những sự quan tâm không cần thiết, nhưng tôi biết rất rõ tình hình, nên nhìn đường đi nước bước của các trung thần, nghĩa sĩ thì thấy thương hại. Nhìn họ thành những kẻ hết dũng khí, nhút nhát mà không thể không nghĩ cho được.

Đó có lẽ là do tính dễ bất bình với sự đời và cũng chính là nguyên nhân tự nhiên làm cho tham vọng công danh của tôi nguội lạnh.

Định làm mẫu về tinh thần độc lập

Điều thứ tư, xin được tạm gác lại những lý luận lằng nhằng như Cần vương hay Tá Mạc. Khi nền tảng cơ bản của chính phủ duy tân được định hình, không chỉ võ sĩ trên khắp nước Nhật, mà cả con của Hyakushō (Bách-tính) và em của Chōnin, đại thể tất cả những người biết chút chữ nghĩa, đều muốn trở thành viên chức chính phủ. Chẳng hạn không làm viên chức được thì họ vẫn có nhiệt ý được gần chính phủ và nhận tiền gì đó. Tình cảnh này không khác gì đàn ruồi bâu vào một vật đang bốc mùi. Nhân dân trên cả nước đều nghĩ, nếu không dựa vào chính phủ thì không lập được thân, mà không hề có ý nghĩ tự thân độc lập.

Thỉnh thoảng có những học sinh tu nghiệp ở nước ngoài về và nhiều người rất nghiêm chỉnh đến chỗ tôi, lòng đầy nhiệt huyết bảo rằng, không bao giờ có ý nghĩ sẽ làm quan chức suốt đời cho chính phủ. Vì từ đầu, tôi đã không kỳ vọng gì điều đó, nên cũng chỉ nghe cho qua chuyện. Nhưng lâu lâu không thấy “tiên sinh giương tinh thần độc lập“ ấy đâu, hỏi ra mới biết đã chễm chệ thành một thư ký cho bộ nào đó. Theo kiểu kẻ nào gặp vận may thì thành quan to ở địa phương, nên tôi không ngăn gì chuyện đó. Sự tiến thoái của mỗi người là tự do, tự tại của họ, nhưng việc tất cả mọi người trên đất nước này đều hướng đến mục đích duy nhất là chính phủ và nghĩ chắc chắn rằng, không còn cách lập thân nào khác chính là hủ phong còn rớt lại của nền giáo dục Nho giáo. Như thế có nghĩa là, chí “túc tích thanh vân" đã trở thành một thứ mê muội truyền từ tổ tiên.

Bây giờ, để thức tỉnh khỏi sự mê muội này và nói về ý nghĩa căn bản của sự độc lập, văn minh thì dù trong thiên hạ chỉ có một mình tôi cũng muốn chỉ ra hình mẫu thực đó. Hơn nữa, có lẽ có những người mà tự bản thân họ cũng đang theo phương châm đó. Sự độc lập của một quốc gia là bắt nguồn từ chính tinh thần độc lập của mỗi người dân. Cả nước đều giữ căn tính lệ thuộc vào cổ phong thì không thể giữ được nước.

Tôi không chần chừ xem có làm được hay không mà quyết tâm chính mình sẽ thử làm mẫu. Tôi chuẩn bị tinh thần không để ý đến mọi sự xung quanh, chỉ tâm niệm một điều là tự thân độc lập, nên không có ý ỷ lại vào chính phủ hay nhờ vả các viên chức. Nếu nghèo, không tiêu tiền nữa. Nếu có tiền thì tự chi tiêu theo ý mình. Khi giao thiệp với người khác sẽ cố gắng chân thành ở mức có thể. Đến thế mà họ vẫn bảo không thích thì thôi đừng kết giao với tôi nữa cũng được. Nếu mời khách, tôi sẽ chuẩn bị và đón tiếp theo gia phong của gia đình mình. Nhưng họ không thích gia phong đó và không đến, cũng không sao.

Tôi cố gắng hết sức làm tròn điều mình có thể, còn thế nào là việc của phía bên kia. Khen ngợi hay chê trách, vui mừng hay nổi giận, họ cứ tự mà làm. Tôi có được khen cũng không mừng nhiều, mà bị chê cũng không giận lắm. Nếu thấy không hợp, thì tránh xa không kết giao nữa. Tôi quyết định một nguyên tắc là không để ý đến cả con người và sự vật, xả thân để đi qua cuộc đời, nên dù thế nào cũng không thể làm quan chức cho chính phủ được. Cách sống đó mà làm gương cho thiên hạ liệu có phải là điều xấu không, tôi cũng không quan tâm. Nếu là tốt thì quý, mà xấu thì đó chỉ là chuyện của lúc ấy. Tôi không hề định gánh trách nhiệm từ đó trở về sau.

Coi thường và không nhiệt tâm với chính trị

Vì đặt các đề mục từ một đến bốn như đã sắp xếp ở trên để kể, thì có vẻ như việc tôi không ra làm cho chính phủ là do khởi đầu tôi đã định rõ một lý luận và bó hẹp mình trong đó, nhưng thực ra không phải tẻ nhạt đến như vậy và cũng không phải là cao siêu đến như vậy. Chỉ có điều bây giờ tôi viết ra để mọi người hiểu, nên phải sắp xếp câu chuyện theo tuần tự. Vì vậy, tôi mới nhớ lại những người đã bàn luận, những việc đã làm, những vật đã chạm đến từ thuở xưa đến nay và thử tập trung những điều quẩn quanh trong ký ức như khi đó đã có chuyện kia, khi này lại có chuyện này thì thành được câu chuyện như tôi đã viết.

Tựu trung lại, sự coi thường và không có nhiệt tâm với chính trị là nguyên nhân khiến tôi không thể lại gần chính giới. Chẳng hạn, trong tính cách và thể chất của con người, có người gọi là Geko (Hạ-hộ) và cũng có người gọi là Jōgo (Thượng-hộ). Geko thì không vào hàng rượu, còn Jōgo thì không lại gần hàng bánh nếp. Cũng như thế, nếu chính phủ là hàng rượu thì có lẽ tôi là Geko của chính phủ.

Là người bắt bệnh chứ không chữa bệnh cho chính trị

Mặc dù nói như vậy, nhưng không phải là tôi không biết gì về chính trị. Tôi có đàm luận bằng lời nói và cũng viết cả trên giấy. Tuy nhiên, tôi chỉ đàm luận và viết lách, chứ không bao giờ nghĩ mình sẽ đứng ra làm chuyện đó. Điều này cũng giống như tôi là bác sĩ khám, chỉ bắt bệnh mà không nghĩ đến việc chữa bệnh. Hơn nữa, sự thực là tôi cũng không có tay nghề để trị bệnh. Thế nhưng, dù không biết gì về cách trị bệnh, việc bắt bệnh đôi khi cũng có ích. Bởi vậy, người đời cũng xem những cuốn sách bắt bệnh cho chính trị của tôi. Qua đó mà đoán tôi là bác sĩ có thể trị bệnh hay cầu cho mình thêm nhiều bệnh nhân là hoàn toàn sai lầm.

Chính biến năm Minh Trị thứ mười bốn

Tôi xin nói một chút về điều này. Vào năm Minh Trị thứ mười bốn (1881-ND) đã diễn ra một cuộc tao động lớn về mặt chính trị, xã hội và bản thân tôi cũng có một chuyện lạ, đáng để cười ngặt nghẽo.

Mùa đông năm Minh Trị thứ mười ba (1880-ND), bộ ba chấp chính lúc bấy giờ là Ōkuma (Đại-Ôi), Itō (Y-Đằng) và Inoue (Tỉnh-Thượng) có ý muốn bàn chuyện gì đó với tôi. Khi đến chỗ hẹn, họ bảo muốn lập một tờ báo kiểu như công báo hoặc quan báo và nhờ tôi chịu trách nhiệm chính. Lúc đầu chưa hiểu ra sao, nên tôi từ chối. Nhưng sau đó người ta đến đi đến lại nhiều lần, câu chuyện cũng dày thêm và cuối cùng mới rõ ra bí mật chính phủ dự định mở quốc hội. Họ muốn thiết lập một tờ báo để chuẩn bị cho điều đó. Nghe thấy vậy, tôi bảo: “Chuyện này hay đấy! Nếu đúng như vậy tôi sẽ nghĩ lại và sẽ nhận lời làm báo". Như thế coi như đã thỏa thuận xong, nhưng chưa định ngày. Mọi việc cứ nguyên như thế cho đến khi năm đó qua đi, năm Minh Trị thứ mười bốn (1881-ND) đã đến.

Sang năm Minh Trị thứ mười bốn xuân qua, thu tới vẫn không có chút động tĩnh. Nhưng về phía tôi cũng không vội. Cứ để nguyên như vậy thì có vẻ như trong chính phủ có sự bàn cãi gì đó. Bộ ba Ōkuma (Đại-Ôi), Itō (Y-Đằng) và Inoue (Tỉnh-Thượng) rất mực hợp ý từ trước mà nay lại nảy sinh bất hòa. Kết quả là ông Ōkuma (Đại-Ôi) từ chức. Việc ông Ōkuma (Đại-Ôi) từ chức không có gì phải ngạc nhiên, vì sự tiến thoái của các bộ trưởng là điều thường thấy, không hiếm hoi gì. Thế nhưng, sự kiện từ chức này lại ảnh hưởng đến cả Fukuzawa mới buồn cười. Sự rối loạn trong chính phủ thời đó không phải chuyện thường. Chính phủ mà có sự thay đổi thì cả những viên chức nhỏ bé trong chính giới cũng nhất loạt cử động theo. Bởi vậy, cũng có nhiều người tạo ra những đồn thổi khác nhau. Một, hai lời bàn tán đó cho rằng, ông Ōkuma (Đại-Ôi) là người chuyên quyền và đằng sau những mưu đồ đó có Fukuzawa là chủ mưu. Hơn thế nữa, Iwasaki Yatarō (Nham-Kỳ Di-Thái-Lang) của công ty Mitsui lại là Mạnh Thường Quân và hình như đã bỏ ra một khoản tiền lớn là 30 vạn yên. Người ta phao tin làm như một vở kịch vậy.

Thế và cùng với sự từ chức của ông Ōkuma (Đại-Ôi), những phương châm lớn của chính phủ được quyết định. Việc thiết lập quốc hội đã được hứa với người dân là đến năm Minh Trị thứ hai mươi ba (1890-ND). Trong khi thực thi rất nhiều cải cách thì cũng cải cách lại phương pháp giáo dục trước kia, nhưng lại khôi phục Nho giáo làm Bộ Giáo dục trong một thời kỳ hoạt động không ra sao. Người ta bắt tất cả mọi người phải theo cách đó và có lẽ sau mười mấy năm, cho đến tận bây giờ vẫn làm khổ các viên chức của chính phủ. Chính biến lúc này có thể nói đã làm các viên chức của chính phủ như phát cuồng lên.

Ông Iwakura nhiều lần cho người đến gọi tôi và đã bí mật gặp nhau ở sau trà thất. Trông chủ nhân có vẻ rất lo lắng. Ông bảo sự biến lần này không dễ giải quyết trong nội bộ chính phủ. Ông cũng đã rất vất vả khi xảy ra cuộc Chiến tranh Tây Nam, nhưng kết cục từ nay về sau còn khó hơn nhiều. Tôi nghe xong, đoán chắc là đã xảy ra chuyện khá căng. Thực ra chính phủ chẳng ra sao. Họ hứa với quốc dân là năm Minh Trị thứ hai mươi ba sẽ thiết lập quốc hội và đưa ra văn bản hướng dẫn nói mười năm sau đó sẽ làm. Thế nhưng trong khoảng mười năm đó họ toàn làm những điều không hợp với lòng người. Khi thì bắt bớ người nhốt vào tù, khi lại đuổi ra khỏi Tōkyō. Như thế vẫn chưa đủ, viên chức chính phủ bắt chước những ngài lãnh chúa ngày xưa trở thành Kazoku (Hoa-tộc) và hống hách ra mặt, nên người người đều giận dữ và gây bạo loạn. Chưa có gì, chủ và khách chưa hề gặp mặt, sừng nhọn đã chĩa vào nhau. Thật là buồn cười.

Tình hình năm Minh Trị thứ mười bốn, tôi viết rất chi tiết và để trong nhà, nhưng im lặng không đưa ra những điều mà người ta không thích nghe. Khi đó, tôi với anh Terashima (Tự-Đảo) rất mực thân thiết, chuyện gì cũng có thể kể cho anh nghe. Tôi bảo: “Anh thấy sao? Bây giờ mà tôi nói hết ra thì trong chính phủ khối kẻ nguy đấy!". Anh Terashima cũng mới được nghe lần đầu, nên rất ngạc nhiên. Nghe xong, anh bảo: “Ừ, đúng thế! Vẫn nói mưu đồ chính trị là thứ nhơ bẩn, nhưng chuyện này thì quá đáng quá! Cậu cứ bắt bẻ họ một chút cũng được chứ sao!". Anh có ý khuyên tôi như vậy, nhưng tôi không nghĩ đến như thế. Tôi bảo: “Tuổi mình chẳng phải cũng đã hơn bốn mươi rồi hay sao? Trước hết phải thôi trò sát sinh một cách vô ích thế này đi chứ!". Chúng tôi cùng cười và chia tay nhau.

Điều lệ bảo an

Với lý do đó, từ chính biến năm Minh Trị thứ mười bốn, thực tế tôi không hề liên can gì đến chính trị. Thật ra mà nói, tôi không hề nghĩ đến những tham vọng chính trị, nên thản nhiên nhìn người khác tất tả. Nhưng dưới con mắt của chính phủ, đây là một nhân vật khó hiểu, phản ánh nhiều bóng dáng khác nhau.

Năm Minh Trị bao nhiêu đó, khi “Điều lệ bảo an” được đưa ra, nghe phong thanh tôi cũng là đối tượng của điều lệ này. Là vì khi đó, cậu Ono Tomojirō (Tiểu-Dã Hữu-Thứ-Lang), học trò trường tôi có người thân bên Sở cảnh sát và đã bí mật nghe được chuyện. Cậu ta bảo tôi với cậu Gotō Shōjirō (Hậu-Đằng Tượng-Nhị-Lang) sẽ bị đuổi cùng lúc, nên tôi nói: “Có gì đâu! Dù sao cũng không phải là bị giết. Nếu có chuyện thì ta đi đến vùng Kawasaki là được". Trong khi đó, ngay ngày hôm sau hay ngày hôm sau nữa, cậu Ono lại đến bảo người ta đã dừng lại chuyện đó và việc coi như xong.

Người làm chứng của Inoue Kakugorō

Lại có một chuyện xảy ra vào khoảng năm Minh Trị thứ 20. Cậu Inoue Kakugorō (Tỉnh-Thượng Giác-Ngũ-Lang) bị bắt, vì đã làm gì đó ở Triều Tiên. Vụ việc rất căng thẳng, cảnh sát đến cả nhà tôi để khám. Sau đó, cậu Inoue bị điều tra, xét hỏi và bảo nhờ thầy Fukuzawa làm chứng, nên người ta cố công cho gọi tôi đến tòa án, hỏi những câu không đâu vào đâu. Có vẻ như họ cũng muốn biến Fukuzawa thành đồng phạm thì phải. Tất cả những điều đó là hoàn toàn sai, tôi không có tội gì cả. Ngược lại, tôi chỉ quan sát những thay đổi của nhân tâm con người và động thái đó.

Nhưng thẳng thắn mà nghĩ thì việc tôi bị những chính trị gia nghi ngờ cũng không phải hoàn toàn là vô lý. Thứ nhất, dù thế nào tôi cũng không có ý trở thành viên chức chính phủ. Đó là điều ít có trong thiên hạ. Khi mà người ta ào ào đổ đi làm quan, thì chỉ mình tôi là ghét làm việc đó. Chỉ nhìn một chút đã thấy có điều đáng ngờ.

Như thế, nếu không muốn làm quan thì bó gối ở quê cho xong. Thế mà tôi lại sống ở giữa thành phố và giao thiệp với nhiều người. Miệng nói cũng giỏi mà ngòi bút cũng tài, ăn nói, viết lách ào ào, nên dễ chạm vào ánh mắt của người đời. Bởi vậy, việc người ta đem lòng nghi ngờ cũng là lẽ tự nhiên.

Luận thuyết một chiều mà cũng lay động nhân tâm

Đó mới chỉ là một. Còn một sự thật nữa là bằng những luận thuyết có lẽ tôi cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến nền chính trị, xã hội Nhật Bản. Chẳng hạn, có chuyện thú vị mà không ai biết. Năm Minh Trị thứ mười (1877), sau khi Chiến tranh Tây Nam đã được giải quyết xong, xã hội yên ắng trở lại thì người ta lại chán với cảnh an bình. Khi đó, tôi chợt nghĩ, nếu mình lý luận các vấn đề về quốc hội, thế nào cũng có người hưởng ứng, chắc sẽ rất thú vị. Và tôi đã khởi xướng lên lý luận này.

Lúc đó tờ Jiji shimpō (Thời-sự tân-báo) vẫn chưa được xuất bản, nên tôi đưa bản thảo cho chủ bút tờ Hōchi shimbun (Báo-tri tân-văn) là cậu Fujita Mokichi (Đằng-Điền Mậu-Cát) và Mino'ura Katsundo (Ky-Phổ Thắng-Nhân). Tôi bảo: “Nếu luận thuyết này có thể đưa ra làm xã luận cho báo thì hãy đăng hộ tôi. Chắc chắn mọi người sẽ mừng. Chỉ có điều, để nguyên bản thảo như thế mà in, dễ lộ giọng văn và người ta sẽ hiểu ngay là của Fukuzawa. Thế nên, nội dung câu văn, tất nhiên là câu chữ cũng phải theo bản thảo, chỉ có những chỗ không ảnh hưởng đến ý nghĩa, các cậu cứ sửa theo ý của mình và thử cho đăng đi. Để xem thiên hạ đón nhận như thế nào? Đó chẳng phải là điều thú vị sao?".

Cả Fujita và Mino'ura đều trẻ và đầy nhiệt huyết, nên họ rất mừng, đem bản thảo về và lập tức cho đăng lên mục xã luận của tờ Hōchi shimbun. Khi đó, thiên hạ vẫn chưa có thế lực nào đưa ra lý luận về quốc hội, nhưng xã luận của tôi sẽ trở nên nổi tiếng hay lặn tăm như không có gì? Triển vọng nào cho bài báo đó là điều không ai có thể đoán trước được.

Thế là, trong suốt một tuần, ngày nào cũng như ngày nào, cột xã luận được viết kín mít. Fujita và Mino'ura còn thêm thắt vào như là để kích động các đồng nghiệp ở Tōkyō và xem tình hình thiên hạ ra sao. Kết quả thật khó tưởng tượng trước. Trong suốt hai, ba tháng các tòa báo nội thị Tōkyō thì tất nhiên, mà cả ở các miền quê, những cuộc tranh cãi cũng bùng lên, cuối cùng dẫn đến việc các chí sĩ địa phương lên tận Tōkyō xin chính phủ thiết lập quốc hội.

Chuyện đó cũng thú vị, nhưng nghĩ lại một chút thì thấy, ngoài miệng tôi thuyết phương châm văn minh, tiến bộ, thấy đấy là thứ không cần thiết ngay cho bản thân, nhưng nghĩ là nên làm và tung ra lý luận mang tính chính trị như thế. Việc này đã gây nên một cuộc tao loạn trong thiên hạ mà tôi không thể dập tắt được. Cũng giống như việc tự mình châm lửa đốt cánh đồng khô vào mùa thu và chính lửa đó lại làm mình lao đao. Lúc đó tôi cũng thấy hơi sợ. Thế nhưng, những lý luận kiểu như thiết lập quốc hội, đã xuất hiện rải rác từ hồi Vương chính duy tân. Đến những năm đầu thời Minh Trị cũng xuất hiện lý luận về Dân tuyển nghị viện. Sau đó, có nhiều người khác cũng xướng lên chủ trương đó. Những điều đó chắc chắn là có nguyên nhân sâu xa. Nhưng bất ngờ tôi cầm bút viết, thuyết về những lý do cần thiết của việc thiết lập quốc hội bằng thiên hình vạn trạng, lý luận một cách dễ hiểu như nhai cơm mớm cho và họ chỉ việc nuốt, nên chẳng bao lâu sau đó dư luận xã hội ào lên.

Mặc dầu vậy, dù nói thế nào thì những luận thuyết do báo Hōchi shimbun cũng là yếu tố châm lên ngọn lửa đầu tiên. Tôi quên năm tháng đưa ra bài xã luận đó, nên trước đây có gặp cậu Mino'ura nói về chuyện xưa và hỏi về bài báo thì cậu ta nhớ rất rõ. Sau đó, cậu ta còn cho tôi mượn số báo Hōchi shimbun cũ. Tôi xem bên trong thấy bài được đăng từ ngày 29 tháng 7 năm Minh Trị thứ 12 (1879-ND) đến khoảng ngày mùng 10 tháng 8 cùng năm, còn nguyên vẹn từ đầu đến cuối. Nghĩ đó là một yếu tố thúc đẩy việc thiết lập quốc hội thì bản thân tôi cũng thấy thú vị.

Làm cho nước Nhật trở nên giàu mạnh là bản nguyện của tôi

Thử nghĩ lại, thấy trong cuộc tao động năm Minh Trị thứ mười bốn, Fukuzawa đã bị cho là có liên quan đến chính trị. Mặc dù sau đó cũng bị nhiều người để mắt tới, nghi ngờ điều này điều nọ và tôi vẫn cam đoan mình nhớ là không có sự liên quan trực tiếp nào. Nhưng gián tiếp thì những nguyên nhân đó không phải không từ bản thân tôi mà ra. Việc thiết lập quốc hội, tiến hành cải cách theo hướng tiến bộ sẽ có lợi cho đất nước thì được, nhưng nếu trên thực tế điều đó không có lợi và dù kiếp này tôi có được tha tội, thì có lẽ sau khi chết đi sẽ gặp điều chẳng lành dưới phủ của Diêm Vương.

Không chỉ một việc trên báo Hōchi shimbun, mà về chính trị, mọi hành động, lời nói của tôi đều theo cách như thế, không có gì lợi hại đến bản thân tôi, nghĩa là tôi chỉ làm với suy nghĩ của một bác sĩ chuyên khám bệnh, chứ không có ý định chiếm một vị trí trong chính phủ, nắm chính quyền và trị thiên hạ. Tuy nhiên, dù thế nào tôi cũng muốn đưa toàn thể quốc dân vào cổng của tòa nhà khai hóa văn minh, biến nước Nhật trở thành một cường quốc có binh lực mạnh mẽ và kinh tế phồn vinh. Đó chính là bản nguyện lớn nhất của tôi và chỉ một mình âm thầm thực hiện.

Nói là tôi giao thiệp với những người trong chính giới, nhưng gặp gỡ ai đối với tôi cũng không quan trọng gì. Tôi không hề nhờ vả ai việc riêng và cũng không bàn bạc. Giàu hay nghèo, sướng hay khổ cũng một mình suy nghĩ và sống bình thản, nên những quan chức của chính phủ, những người có cách nghĩ khác, khi nhìn hay nghe kể về nếp sống của tôi, sẽ cho là kỳ quặc. Âu đó cũng không phải là điều vô lý.

Thế nhưng, sự thực thì đối với chính phủ tôi không có thù hận gì. Tôi cũng không nghĩ ai trong các vị quan chức là người xấu. Nếu vẫn còn ở trong chế độ đẳng cấp thời phong kiến, không biết còn u tối thế nào. Hôm nay được sống bình an những ngày dài của tuổi thọ chính là thứ được rất lớn trong luật pháp của chính phủ Minh Trị, mà tôi rất lấy làm mừng.

Báo Jiji shimpō

Sau đó, vào năm Minh Trị thứ mười lăm (1882-ND), tôi cho phát hành tờ báo có tên gọi Jiji shimpō (Thời-sự tân-báo). Đúng vào sau chính biến năm Minh Trị thứ mười bốn, những người có tư tưởng tiến bộ của trường Keiō-gijuku đến nhà tha thiết khuyên tôi phát hành tờ báo đó. Bản thân tôi tự mình nghĩ cũng thấy tình hình thế sự dần đổi thay, cả chính trị và kinh tế đang giữa lúc biến chuyển ngày đêm. Chiến tuyến giữa những người ủng hộ và những người đối lập với tôi cũng đã hình thành, nên chắc chắn tranh luận sẽ sôi nổi.

Tôi tạm gác việc phán xét trong cuộc chính biến năm trước ai đúng, ai sai và đã từng tranh luận về sự khác nhau của hai chủ trương. Nếu xảy ra tranh luận về mặt chính trị thì nhất định cũng phải có điều đó ở trong kinh tế. Từ nay, vấn đề sẽ càng trở nên quyết liệt. Điều cần thiết trong lúc này là không được thiên lệch, không nghiêng về đảng phái nào. Ngoài miệng thì nói không thiên lệch, không đảng phái mà trong tâm lại có sự nghiêng ngả và lụy đến cả lợi hại của bản thân thì không thể lập luận một cách công bình được. Và tôi nghĩ, bây giờ trên khắp cả nước, người độc lập làm sinh kế, có ít nhiều chữ nghĩa mà bản thân không có tham vọng chính trị, kinh tế, giống như một nhân vật siêu nhiên, dù có bị coi là buồn cười đi chăng nữa, từ trong tâm tôi cũng tự nhận thấy ngoài mình ra, người thích ứng được điều đó rất ít. Cuối cùng tôi đã quyết tâm bắt tay vào công việc mới, đó là tờ báo Jiji shimpō.

Mở tòa báo đồng thời cũng chuẩn bị tinh thần phải đóng cửa

Sau khi đã quyết định, trong số bạn bè cũng có người can ngăn, nhưng tôi không nghe. Số lượng phát hành của tờ báo ít hay nhiều, tôi cũng không nghĩ sẽ phải đi nhờ vả người khác. Tôi lập tòa báo bằng sức lực của bản thân thì việc xóa bỏ cũng vẫn là ở sức mình. Dù có thất bại, phải bỏ, cũng không ảnh hưởng gì đến sinh kế của gia đình và bản thân. Hơn nữa, tôi cũng không nghĩ điều đó sẽ làm mất danh dự của mình.

Cùng với việc lập tòa báo, tôi cũng tính đến khả năng phải dẹp bỏ và không hề quan tâm đến những lời bàn tán của thiên hạ, nên mọi việc suôn sẻ, đầu xuôi đuôi lọt cho đến tận bây giờ. Đó là điều tôi tâm niệm, nhưng sự thực xung quanh tôi cũng có nhiều những quân tử hữu vi. Nhờ họ việc gì cũng không phải lo lắng không đâu rằng mình đã nhầm. Vào thời tờ báo được ban hành, trong mấy năm liền, cháu Nakamigawa Hikojirō nhận giúp, sau đó là cậu Itō Kinsuke (Y-Đằng Khâm-Lượng) và bây giờ bổ nhiệm cho con trai thứ Sutejirō của tôi. Về kế toán, đầu tiên là cậu Motoyama Hiko'ichi (Bản-Sơn Ngạn-Nhất), tiếp đến là Sakata Minoru (Phản-Điền Thực), còn bây giờ là cậu Tobari Shichinosuke (Hộ-Trương Chí-Trí-Chi-Trợ) cùng đồng nghiệp đảm nhiệm hoàn toàn.

Tính cách của tôi là không bao giờ nghe hay xem những tính toán chi tiết về xuất, chi tiền bạc, mà phó mặc hoàn toàn cho người chịu trách nhiệm về việc đó, nhưng từ trước đến nay đều không có nhầm lẫn lạ nào xảy ra. Thực sự, tôi cảm thấy rất thoải mái và an tâm về điều đó. Đây chính là lý do để tôi có thể làm báo được lâu bền.

Cấm cách viết nói xấu sau lưng

Nói về việc biên tập, theo chủ trương của tôi, người viết phải dũng cảm, viết một cách tự do, tự tại. Khi viết về một người khác hay bình phẩm về họ phải mặt đối mặt, nói chuyện trực tiếp, không bỏ qua điều gì. Khi đó, có thể tranh luận gay gắt hay dùng đại ngôn tráng ngữ cũng không sao. Nhưng nếu viết trên báo những điều khi gặp không dám nói thẳng ra hay những điều trái với lương tâm của mình mà sau đó lẩn trốn, đứng từ xa nhìn, làm như không biết thì tôi gọi người đó là "cây bút chuyên nói xấu sau lưng".

Tôi luôn ngăn ngừa rằng, chính cách viết kiểu nói xấu sau lưng đó là một thứ hư không, vô trách nhiệm, một ngòi bút độc địa, nhục mạ người khác, là điều đáng xấu hổ của một quân tử.

Nhưng dần dần tôi nhiều tuổi lên, không phải lúc nào cũng có thể chuyên cần đốc thúc việc đó được. Những năm về già, tôi dự định sẽ sống những ngày thật thanh nhàn. Tôi chuyển giao tòa báo cho những người trẻ tuổi và dần xa rời công việc đó. Những luận thuyết trên báo hoàn toàn do những người như Ishikawa Kammei (Thạch-Xuyên Cán-Minh), Kitagawa Reisuke (Bắc-Xuyên Lễ-Bật), Horie Ki'ichi (Quật-Giang Quy-Nhất) viết, còn tôi, chỉ đôi khi đưa ra ý tưởng, sau đó xem bài đã được viết xong theo ý tưởng này và thêm thắt đôi chút.

Lường trước mọi khả năng về những việc sẽ làm

Cho đến nay, tôi đã kể nhiều chuyện dài dòng. Về bản thân và những điều xảy ra trong thiên hạ có liên quan đến mình, tôi cũng đã kể, nhưng trong đời tôi công việc mà bỏ nhiều công sức ra nhất là dịch và viết sách. Về chuyện này, có rất nhiều điều để nói. Cụ thể thế nào, tôi đã viết trong “Lời nói đầu“ của Tuyển tập Fukuzawa Yukichi mới được tái bản năm nay, nên xin được lược bớt. Việc dịch và viết sách thì gạt sang một bên. Tôi vốn chỉ ngồi nhà, cách hành xử, nói ngắn gọn lại là mọi chuyện đều tưởng tượng đến cùng và chuẩn bị tinh thần làm sao để không bị luống cuống làm hỏng việc, cũng như không phải hối tiếc vì những điều đã qua. Thân người đang sống, nhưng có thể chết lúc nào không biết, nên làm sao để ra đi một cách bình thản, yên tĩnh là điều mà có lẽ ai cũng nghĩ đến.

Cùng với điều đó, về chuyện kinh tế của bản thân cũng như gia đình, tôi luôn tâm niệm không làm điều gì trái với đạo lý trong hành xử với mọi người, nên không thể để phạm phải những điều nguy hại. Nói là làm thế này thì có lợi, làm thế kia có thể kiếm được tiền và phạm vào những điều nguy hiểm, khi thất bại chắc chắn sẽ rối bời và sẽ có điều phải hối hận. Tôi nghĩ như thế, nên không thể đang tâm đưa tay ra làm được. Không có tiền thì không tiêu còn hơn là giành lấy tiền để tiêu như vậy. Dù có phải làm nghề tẩm quất, xoa bóp cũng được, chứ không có ý định chết đói. Nếu tôi không bóp miệng sống đạm bạc cả về ăn lẫn mặc như vậy, chắc chắn sẽ dấn thân. Việc tôi kém hoạt động trên lĩnh vực kinh tế là vì tôi sợ kết cục của sự thất bại mà dẫn đến việc mình sẽ làm những chuyện ghê gớm.

Tuy nhiên, về những điều có đạo lý, không phải là tôi không tích cực làm. Tóm lại, những việc không ảnh hưởng đến nguyên tắc sống tự thân độc lập của mình, dù có thể thất bại, tôi vẫn làm ào ào.

Sự hưng vong của trường Keiō-gijuku

Chẳng hạn, tôi mở trường Keiō-gijuku và trong mấy mươi năm đã trải qua nhiều thăng trầm khác nhau. Tùy lúc mà số lượng học trò giảm đi hoặc tăng lên. Không chỉ riêng chuyện học trò, vì tình hình tài chính mà nhiều khi xảy ra cả việc thiếu giáo viên, nhưng những lúc đó tôi cũng không hề luống cuống chút nào. Học trò tản đi, cứ để họ tản đi, giáo viên xin đi, cũng cứ để họ đi, tôi không ngăn. Học sinh bỏ trường, giáo viên bỏ lớp, trường thành nhà trống, thì người còn lại sẽ là mình tôi. Và ở đó, bằng bản lĩnh của mình, tôi sẽ lấy những học trò có thể dạy được. Đến như thế mà vẫn không dạy được tôi sẽ không nói đến chuyện dạy dỗ nữa.

Tôi không hứa với mọi người là Fukuzawa Yukichi sẽ mở trường tư thục lớn và sẽ phải dạy cho con em của thiên hạ. Từ đáy lòng, tôi đã quyết định một điều là không để mình bị dằn vặt bởi sự hưng vong của trường. Từ khi mở trường, đã nhiều lần tôi định xóa bỏ, nên không có gì để sợ cả. Thường ra, tôi rất coi trọng công việc sự vụ của trường, có những lúc cần mẫn hết sức, lúc lại lo lắng, nhưng nếu nói thật tâm sự của tôi thì sự cần mẫn cũng như lo lắng đó chỉ là sự đùa nghịch của thế giới phù du và dáng hình của sự giả ảo, nên dù có làm việc, tôi vẫn luôn bình tâm. Gần đây, để duy trì trường Keiō-gijuku, các học sinh cũ của trường đang cố gắng quyên tiền. Nếu làm được điều đó thì quả thực là có ích và tôi rất mừng. Nhưng liệu có làm được hay không, tôi chỉ lặng yên quan sát mà thôi.

Không nhờ ai viết lời tựa sách

Hơn nữa, cả chuyện báo Jiji shimpō cũng vậy. Không phải ngay từ đầu tôi đã có ý nghĩ đến khi nào đó sẽ đóng cửa chứ không hứa hẹn sẽ kéo dài việc ra báo. Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần, nên cũng không lo lắng như việc xóa bỏ trường học đã kể ở trên. Thêm nữa, việc tôi không nhờ ai viết giúp lời tựa sách cũng là với ý nghĩa này. Bởi vì, nhờ vào lời tựa của người khác mà tăng uy tín xuất bản, thì đó sẽ trở thành danh dự của mình.

Thực ra, có thể nói đó là một kế lược, nếu như muốn bán được nhiều sách. Thế nhưng, trong suy nghĩ của tôi không cần phải như thế. Trong tâm tôi cũng mong sách của mình được phổ biến ra ngoài xã hội, nhưng mặt khác, dù có hoàn toàn không bán được, tôi cũng không hối hận. Vì đã chuẩn bị tinh thần như vậy, nên tôi không nhờ ai viết những câu chữ không đâu vào đâu, không có ích lợi thực tế gì.

Cách xử sự với mọi người

Cách xử sự với mọi người, tôi cũng theo như cách viết sách. Từ nhỏ, xét về tính cách, tôi là người thích thể hiện mình. Mặc dù giao thiệp rộng, nhưng không bao giờ cãi nhau với ai. Bạn thì tôi có rất nhiều và trong những mối kết giao đó tôi cũng không quên chuẩn bị tinh thần cho hồi kết thúc. Tôi vẫn thân thiết với họ như trước kia, nhưng khó có thể đảm bảo rằng họ không thay lòng đổi dạ. Nếu có chuyện như thế, tôi sẽ phải chấm dứt mối kết giao đó. Không quan hệ với nhau nữa, nhưng nếu họ làm hại gì đến mình thì tôi ghét và không bao giờ lại gần. Vì điều này mà mất đi một, hai người bạn hữu, trở nên buồn chán, một mình cô độc cũng không sao. Chắc chắn tôi sẽ không hối hận.

Từ nhỏ đến nay, tôi đã quyết là không cần những sự kết giao mà mình không thích hay phải uốn cong tiết nghĩa của mình. Thực tế tôi hoàn toàn không cần đến điều đó. Hơn sáu mươi năm cuộc đời, trong số mấy nghìn, mấy vạn người tôi biết, chưa một lần tôi cãi nhau đến đoạn tuyệt nhau mới là điều lạ.

Tất cả mọi chuyện đều như thế. Cách làm của tôi là, cả trong công việc lẫn trong giao thiệp với bạn bè, ngay từ đầu tôi đã xả thân, dù có thất bại cũng không khổ sở. Cùng với việc coi nhẹ những điều phù du, tôi lại rất coi trọng sự tự thân độc lập. Cho đến nay, tôi luôn dưỡng tâm làm sao để không trì trệ với con người, với vạn vật. Nhờ vậy mà sống qua cuộc đời này không đến nỗi khó khăn, có thể thanh thản cho đến ngày hôm nay.

Tu dưỡng thân thể

Như vậy, về cách dưỡng tâm thì như tôi đã kể ở trên, còn dưỡng thân, tôi có một tật đáng xấu hổ đến đỏ mặt. Từ nhỏ tôi đã chỉ chuyên một điều là thích rượu. Thậm chí còn là một đại tửu khách! Trên đời có những người là đại tửu khách, nhưng không nhất thiết họ cho rằng, rượu là thứ ngon. Họ có thể uống cũng được, không uống cũng được. Tôi thì không phải như thế. Uống vào miệng tôi thấy rượu ngon thật là ngon và muốn uống thật nhiều.

Hơn thế, tôi thích một loại rượu cao cấp, có tên tuổi. Rượu ngon hay không tôi rất sành. Năm ngoái, khi giá một thùng rượu đó là bảy, tám yên, có thể có những loại chỉ chênh có 50 xu. Tôi sành đến mức không cần hỏi giá trước, uống là có thể phân biệt được vị rượu. Uống rượu cao cấp đó, nếu có cá thì tốt, tôi sẽ ăn rất nhiều. Sau khi ăn uống căng bụng lại ăn thêm đẫy cơm, không bao giờ để thừa lại. Chưa hết, tôi lại còn uống say. Nhưng dù có say đến điên cuồng, vẫn biết những điều cần giữ gìn.

Mặc dù là đại tửu, nhưng ngoài rượu ra tôi không làm gì xấu cả. Nếu say, chỉ lớn tiếng, chứ tuyệt nhiên không nói những điều xấu xa, khó chịu, làm người khác phải mếch lòng hay gây cãi lộn. Và tôi cũng không tranh luận một cách nghiêm túc, nên cũng không làm phiền ai. Cứ thấy có rượu là tôi bước ra uống gấp mấy lần người khác và khoái chí, vì trong thiên hạ không có đối thủ. Đó là điều đáng xấu hổ.

Ngoài chuyện rượu ra, từ nhỏ tôi là người giữ gìn sức khỏe. Một ngày ngoài ba bữa cơm, hiếm khi tôi ăn thêm đồ vặt. Hoặc có thể là do mẹ tôi không cho ăn, nhưng điều đó đã trở thành thói quen từ thuở nhỏ và tôi không thấy thèm ăn vặt. Đặc biệt, sau bữa cơm tối mà có thứ gì thích đến mấy cũng không thể đưa vào miệng được. Chẳng hạn, trong đêm niệm người thân mất hay phải thức khuya vì có hỏa hoạn ở gần nhà, tự nhiên người ta đem đồ ăn ra, nhưng tôi không muốn ăn. Đó có lẽ là do mẹ tôi đã rèn và nết đó còn lại suốt đời. Đây cũng là thói quen tốt nhất để giữ gìn sức khỏe.

Hơn nữa, tôi không phải là người thích đủng đỉnh, làm việc gì cũng nhanh thoăn thoắt, nên nhiều khi bị mọi người cười. Thế nhưng, khi ăn tôi biến thành một người khác, dù thế nào cũng không thể ăn nhanh được. Lúc còn nhỏ, người ta bảo ăn nhanh và đi tiểu, đại tiện nhanh là điều võ sĩ cần phải luyện rèn, nên tôi hay bị nhắc nhở vì điều đó. Tôi cũng thích ăn nhanh, nhưng dù thế nào cũng không thể nuốt chửng được. Sau này, tôi đọc sách của người phương Tây, biết rằng, ăn không nhai là không tốt và lần đầu tiên mới nhận ra trong thói xấu của mình, ngược lại cũng có những điểm tốt.

Tôi rất vui mừng và từ đó trở đi không phải để ý nữa, dù có mất thời gian gấp mấy lần người khác cũng từ tốn dành thời gian nhai. Điều đó rất tốt cho việc giữ gìn sức khỏe.

Cũng đến lúc kiềm chế uống rượu

Lại chuyển sang chuyện rượu. Tôi thích rượu bẩm sinh. Khi còn ở quê, vì là trẻ con, nên không được uống tự do. Một năm ở Nagasaki, tôi giữ đúng nguyên tắc nhịn uống. Sau khi lên Ōsaka được uống tự do, nhưng tiền bạc ngặt nghèo, nên tôi không được uống như ý. Năm 25 tuổi, sau khi lên Edo, ví tiền cũng ấm áp lên đôi chút, việc như mua rượu là ở trong tầm tay, nên bên cạnh việc học, tôi lấy rượu làm thú vui lớn nhất. Cứ đi đến nhà bạn bè là uống. Khi người quen đến nhà, tôi liền gọi người nhà mang rượu ra, chủ nhà khoái chí uống hơn là để mời khách. Tôi không tránh lúc nào, kể là sáng, trưa hay tối, lúc nào cũng uống.

Và đến năm ba mươi hai, ba mươi ba tuổi, tự tôi mới phát hiện ra, nếu cứ uống như thế sẽ không thể giữ gìn được tính mạng. Như đã kể ở phần trên, tôi có nhớ là trước đây đã cai rượu, nhưng chỉ trong một thời kỳ, chứ không kéo dài được. Nghĩa là quyết tâm cho rằng, không còn cách nào hơn là phải tự kiềm chế bằng bản lĩnh của mình, cũng giống như việc người Trung Hoa bỏ nha phiến. Thật vô cùng khổ sở! Nhưng trước hết là bỏ bữa rượu sáng, một thời gian sau bỏ bữa rượu trưa.

Dần dần, tôi đã gắng chịu ở mức độ khi khách đến và lấy danh nghĩa là tiếp khách mới uống. Sau đó, tôi quyết định chỉ mời khách chứ mình thì một chén cũng không uống. Chỉ có điều đó là tôi làm được trọn vẹn. Tiếp đến là bữa rượu đêm. Bỏ hết ngay một lúc thì quả thực là không thể làm được, nên quyết định một phương châm là giảm từ từ.

Tôi đấu tranh với mình, khi miệng muốn uống mà lí trí không cho phép, dẫn đến việc miệng và lí trí đối lập, xô xát với nhau. Nhưng giảm lượng dần dần để quan hệ đó ôn hòa trở lại cũng phải mất đến ba năm. Đó là vì năm ba mươi bảy tuổi tôi bị sốt nặng, ở vào tình trạng một sống hai chết. Tôi nhớ là bác sĩ bảo cứ uống nhiều rượu như trước sẽ không có cách cứu chữa. Nhưng may sao, sau đó hồi phục được là nhờ vào việc kiêng rượu trong những năm gần đây.

Vì vậy, thời tôi uống rượu nhiều như kình là khoảng mười năm. Sau thời kỳ này, chỉ có giảm bớt lượng đi chứ không có chuyện tăng lên. Lúc đầu là do tự mình kiềm chế, nhưng sau đó tự nhiên giảm đi, muốn uống cũng không uống được nữa. Đó là do bước đi của tuổi già hơn là sự giữ gìn về mặt đạo đức. Con người ta có người đến năm bốn mươi, năm mươi tuổi, tửu lượng tăng dần lên, cuối cùng không chỉ rượu nguyên của Nhật mà cả brandy hay wishky cũng uống. Điều đó là không tốt.

Có thể cai rượu sẽ khổ sở, nhưng đó là thượng sách. Bản thân tôi đã trải qua điều đó. Một người nghiện rượu vô lối như tôi mà đến năm ba tư, ba nhăm tuổi cũng phải “chinh phạt” cơn thèm và đã giành chiến thắng! Hơn nữa, những người gọi là nghiện rượu bây giờ cũng ít người nghiện hơn tôi. Không hẳn là đại tửu như vậy, nếu quyết tâm có lẽ sẽ kiềm chế uống ít đi hay cai hẳn được.

Vận động thân thể

Tiếp đến, về chuyện vận động thân thể như thế nào thì tôi cũng xin kể. Từ nhỏ, tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, nên dù không thích cũng không thể không vận động được. Điều đó đã trở thành thói quen và suốt đời tôi luôn hoạt động. Tôi nhớ là hồi nhỏ toàn làm những việc nặng nhọc, nên mùa đông bị nẻ, máu bật ra phải lấy chỉ bông khâu miệng vết nẻ lại và lấy mỡ đã đun nóng chảy ra để bôi.

Sau khi lên Edo, tôi không còn bị nẻ nữa. Một hôm đã viết câu thơ như thế này:

Bỉ sự đa năng niên thiếu xuân

Lập thân tự tiếu khước hoại thân

Dục thừa nhàn tọa cơ toàn tịnh

Tằng thị miên mịch phùng chúc nhân

Mặt khác, trong lãnh địa có tục xấu là, nếu không biết võ nghệ, họ cho đó không phải là con người. Vì thế, tôi có học một chút ở chỗ thầy chuyên dạy thuật I'ai tên là Nakamura Shōbei (Trung-Thôn Trang-Binh-Vệ). Sau đó, đi học Tây phương học, tôi không phải làm những việc nặng nhọc như hồi còn ở quê, nhưng vẫn giữ được kiếm ở thế I'ai. Hồi ở Yashiki của lãnh địa trên Ōsaka, cũng có lúc tôi tập đánh ầm ầm ngay trong trường Ogata. Sau đó, khi lên Edo, từ khi thiên hạ thịnh hành thuyết Nhưỡng di, tôi bỏ tập I'ai và bắt đầu giã gạo theo cách đã nhớ được từ ngày xưa. Thỉnh thoảng, tôi có đem ra làm. Năm Minh Trị thứ ba (1870-ND), tôi bị ốm nặng. Sau đó, làm cách nào người cũng không trở lại như trước được.

Uống hết ký ninh

Năm đó hay năm sau nữa thì đại sứ Iwakura đi châu Âu. Cậu bạn thân Naga'yo Sensai cũng được lệnh đi cùng. Gần đến lúc lên đường, cậu ta đến chỗ tôi tạm biệt và rút trong túi ra một lọ ký ninh bảo: “Bệnh của anh nặng. Mặc dù đã hồi phục, nhưng năm sau, mùa này, nếu có sự cố gì thì chắc chắn sẽ phải dùng đến thuốc. Đây là thuốc ký ninh tốt nhất, ở hiệu thuốc không có đâu. Tôi cho anh đấy. Anh hãy giữ cẩn thận. Trong khi tôi đi vắng, anh nhớ lấy mà dùng!".

Thực ra vì thân thiết, nên cậu ta mới nói như thế, nhưng tôi lại không lấy làm mừng. “Cậu đừng nói chuyện vớ vẩn ấy đi cho tôi nhờ! Thân tôi đã hoàn toàn bình phục mà còn cần đến thuốc à? Chẳng hay ho gì cả! Tôi không lấy đâu!". Tôi bảo như vậy thì cậu Naga'yo cười: “Anh không biết, đừng có mà nói. Chắc chắn sẽ giúp ích cho anh đấy, cứ im lặng mà lấy đi!". Cậu ta nói, đưa thuốc cho tôi và chia tay. Nhưng quả đúng, trong thời gian cậu Naga'yo đi vắng, tôi nhiều lần phát sốt, cứ ký ninh và lại ký ninh, uống hết một lọ mà sức khỏe vẫn không bình phục lại được.

Không lụy bệnh tật

Theo anh bạn bác sĩ tên là Simmons ở Yokohama, thứ mà khi mặc sẽ bó vào người là vải flannel. Vì thế, áo và khăn quấn đùi, tôi cũng làm bằng vải flannel, lớp trong của tất cũng nhờ làm thêm một lớp flannel. Tôi trùm toàn thân, mà không thấy hiệu quả gì. Trong khi đó, tôi lại bị cảm, rét run bần bật và nhiệt độ trong người tăng.

Nhiều lần bị như vậy, kéo dài suốt hai, ba năm, nên một hôm tôi mới bùng phát lên. “Mình đã nghe theo mệnh lệnh của thầy thuốc, đã quá cẩn thận với bệnh tật, nhưng tựu trung lại là một kẻ lụy bệnh. Mình càng lụy, thì bệnh càng được đà nặng thêm. Cơ thể mình mình biết. Khi có bệnh, tất nhiên là phải theo lời thầy thuốc, nhưng bây giờ không gì cần thiết hơn là phải bồi dưỡng sức khỏe. Tự mình sẽ bồi dưỡng sức khỏe cho mình! Mình vốn là võ sĩ ở nhà quê. Từ nhỏ đã phải sống cảnh húp cơm chan với canh tương cà, quần áo chỉ toàn mặc đồ ngắn cũn cỡn tự nhà dệt tay bằng bông. Những thứ như vải flannel có bao giờ biết đến? Con người quê mùa này bị dẫn đi theo phong trào mở cửa đất nước, sống ở Tōkyō và giữ gìn sức khỏe theo lối của người thành thị mới buồn cười. Chính như thế, cơ thể của con người nhà quê mới giật mình! Lúc bị cảm, khi lại sốt sụt sịt là do nhầm lẫn, giữ gìn cơ thể theo cách cao cấp quá. Vì vậy, từ bây giờ sẽ phải lập tức thay đổi! Từ hôm nay cả áo hay vải quấn đùi bằng vải flannel cũng đều cởi bỏ hết đi, thay bằng quần áo dệt từ bông và sẽ không dùng lò sưởi nữa!".

Tôi quyết định như thế và quần áo kiểu Âu chỉ dùng khi đi ngựa, gọi là quần áo đi ngựa, còn bình thường chỉ mặc quần áo thuần kiểu Nhật. Khi gió lạnh thổi, cũng có khi ở trong nhà, nhưng cũng có khi ra cả ngoài trời. Chỉ có đồ ăn là học theo lối Tây Âu, dùng những thứ tốt, còn ngoài ra, tất cả đều làm lại theo cách của một võ sĩ nhà quê. Tiếp đến, để vận động, tôi tham gia cả vào việc giã gạo và chặt củi. Tôi làm giống như thuở sống nghèo hồi nhỏ, hàng ngày lao động vã mồ hôi thì dần dần người chắc lên, không bị cảm cũng không sốt nữa.

Chiều cao và cân nặng

Chiều cao của tôi là 5 Shaku 7 Shun và 3-4 Bu (khoảng 1,759m-ND), cân nặng thì dưới 18 Kan (khoảng 64.26kg-ND), không hề tăng từ năm tôi mười tám, mười chín tuổi đến trước và sau sáu mươi tuổi. Trọng lượng cơ thể tôi chưa bao giờ tăng đến 19 Kan và cũng không giảm xuống 17 Kan. Cơ thể khá khỏe mạnh, nhưng sau khi bị ốm thì giảm xuống chỉ còn 15 Kan và mất hai, ba năm khổ sở. Tuy nhiên, bằng cách rèn luyện sức khỏe kiểu nhà quê này, cơ thể lại trở về như cũ. Từ đó, cho đến nay, khi tôi đã 65 tuổi, trọng lượng vẫn không ít hơn 17 Kan 500 Momme.

Tôi nghĩ, liệu có phải cách rèn luyện sức khỏe kiểu nhà quê phát huy hiệu quả, hay thời kỳ bình phục tự nhiên đến và ngẫu nhiên tôi đã thay đổi cách rèn luyện sức khỏe đúng lúc đó? Không thể phán đoán được. Chỉ có điều tôi biết chắc rằng, những điều cần thiết cho thân thể, phải chú ý và cách rèn luyện sức khỏe kiểu nhà quê không phải là tồi. Tôi nghĩ, cần phải nghiên cứu những vấn đề của y học như khi gió lạnh luồn vào da thì có lợi gì không? Với cách giữ gìn sức khỏe khác mà cơ thể khỏe lên, thực tế có thể phản kháng và chịu đựng với gió độc không? Nghĩa là gió lạnh không phải là thuốc chữa, nhưng lối sinh hoạt không cần tránh gió lạnh có lợi gì cho thân thể không?

Chuyện đó xin tạm gác lại, cách rèn luyện sức khỏe của tôi từ năm Minh Trị thứ ba (1870-ND), khi tôi 37 tuổi thì thay đổi hẳn. Thời học sinh nghịch phá lung tung. Thói uống rượu như kình trong suốt mười năm đi học đó đã bỏ được. Tính đến nay đã ngót nghét ba mươi năm. Trong suốt ba mươi năm đó, lúc đầu phải lấy trộm thời gian học tập, nghiên cứu để rèn luyện sức khỏe. Dần dần theo bước đi của tuổi già và bây giờ thì coi rèn luyện sức khỏe là việc chính, sau đó thừa thời gian mới chuyên cần vào sách vở.

Tập I'ai và giã gạo

Ngay cả bây giờ, buổi tối tôi vẫn thường đi ngủ sớm, sáng dậy sớm. Trước lúc ăn sáng, tôi đi bộ với các học trò từ Sankō (Tam-Quang) ở Shiba (Chi) ra đến ngoài khu Azabu (Ma-Bố), Furukawa (Cổ-Xuyên), tất cả khoảng 1,5 Ri (khoảng 5,85km-ND). Buổi chiều, tôi dùng khoảng một tiếng để khi thì tập chiêu I'ai, khi thì giã gạo và ăn tối theo đúng quy định. Ngày mưa cũng như ngày có tuyết, một năm không thiếu ngày nào là không luyện tập.

Cuối thu năm ngoái, tôi đã ngẫu hứng viết bài thơ như sau:

Nhất điểm hàn chung thanh viễn truyền

Bán luân tàn nguyệt ảnh do tiên

Thảo hài trúc sách xâm thu hiểu

Bộ tự Tam Quang độ Cổ Xuyên

Sự vận động, rèn luyện thân thể này kéo dài được đến bao giờ là do mình có bản lĩnh hay không, cơ thể yếu khỏe thế nào. Đó là điều mà tự mình phải theo dõi.

Nhiều biến đổi trên đường đời

Thử hồi tưởng lại và nghĩ về đời người trong hơn sáu mươi năm sẽ thấy như vừa qua cơn mơ. Đó là điều tôi vẫn thường nghe người ta nói. Còn giấc mơ của tôi thì lại rất ồn ã và nhiều biến đổi.

Tôi vốn là võ sĩ hạng thấp trong một lãnh địa nhỏ, bị lèn chặt trong một chiếc hộp chán ngắt và ở đúng đầu của chiếc tăm, xoay xở tìm khe hở trong góc chiếc hộp nặng nề đó để chọc thủng bằng chính chiếc tăm hành chính của lãnh địa.

Từ một thiếu niên như vậy mà thoắt cái không chỉ bay ra ngoài, rời bỏ quê hương mà còn được hưởng giáo dục hẳn hoi. Hán học thì không nói, hơn thế còn bước vào cổng của tòa nhà Tây phương học, đọc những sách khác từ trước đến nay vẫn đọc, kết giao với những người khác từ trước đến nay vẫn quen, tự do tự tại đi lại, những hai ba lần đi nước ngoài, tầm nhìn rộng mở, lãnh địa thì không nói, mà thấy cả nước Nhật cũng nhỏ bé đi. Đó chẳng phải là giấc mơ ồn ào với nhiều biến đổi hay sao?

Trong khoảng thời gian đó, nếu nói về những khó khăn, gian khổ cũng nhiều, nhưng giống như việc đã nuốt qua được đến cổ, cũng quên cảm giác nóng bỏng. Khi những khó khăn đó qua đi sẽ không hề gì. Nghèo, chắc chắn là khổ, nhưng cảnh nghèo đó đã qua đi, bây giờ nghĩ lại chuyện xưa đâu thì có gì là khổ, ngược lại thấy thú vị.

Tôi học Tây phương học, sau đó dù thế này thế khác, vẫn không làm điều gì trái ngược với đạo lý và không phải cúi đầu trước ai. Chỉ cần có đủ cơm áo là coi như sở nguyện đã được thực hiện. Mặt khác, cuộc Vương chính duy tân mở cửa đất nước và sự thực đất nước đã mở cửa là điều tôi rất mừng. Cuốn Seiyō jijō tôi viết thời Mạc phủ, khi xuất bản, tuy có nghĩ sách thế này không biết thiên hạ có ai đọc không. Giả sử họ có nói là đã đọc, thì ngay từ đầu tôi cũng chẳng nghĩ đến chuyện sẽ được thử nghiệm thực hiện ở Nhật.

Nói tóm lại, tự tôi cũng phải công nhận đó là tiểu thuyết về Tây Âu, là chuyện đùa về một giấc mơ, nhưng cuốn sách đó không chỉ được lưu truyền trong xã hội và giúp ích trên thực tế. Sự dũng cảm của chính phủ mới không chỉ dừng lại ở những điều trong Seiyō jijō, họ quyết đoán tiến hành từng bước, ngược lại, làm tác giả cuốn sách phải nhìn mà ngạc nhiên. Bởi vậy, tôi không thể ngồi yên với sở nguyện đã được thực hiện. Tình hình khả quan đấy! Cứ theo đà này, họ sẽ hít đầy không khí văn minh phương Tây, sẽ thay đổi từ cội rễ nhân tâm trên toàn nước Nhật, lập nên một quốc gia mới, văn minh ở Phương Đông xa xôi. Phía Đông có Nhật Bản, phía Tây có Anh quốc. Hai bên đối xứng, không thể có sự lạc hậu nào ở đấy được.

Từ đây, trong tôi đã nảy sinh sở nguyện thứ hai. Công việc tôi làm được không gì khác hơn là dùng lưỡi dài ba Shun và một cây bút, nên sẽ nhờ vào sức khỏe để có thể cần mẫn làm công việc ở trường tư thục và rong chơi bằng cây bút để viết ra thật nhiều điều thuộc các thể loại khác nhau. Đó là viết và dịch sách sau cuốn Seiyō jijō.

Mặt khác, tôi sẽ dạy dỗ nhiều học trò, thuyết giảng và truyền cho họ những điều tôi nghĩ. Mặc dù việc dịch và viết sách đã làm tôi khá bận rộn, nhưng đó mới chỉ làm được một phần vạn của những điều mà tôi muốn cố gắng.

Sở nguyện thứ hai cũng được thực hiện

Quay ra thế sự thấy những điều khó chịu cũng nhiều, nhưng khí thế chung của cả nước là một đường theo hướng cải cách, tiến bộ. Dần dần tiến lên, trong vòng mấy năm, hình dáng đó đã hiện ra. Thắng lợi của sự nhất trí giữa quan với dân trong chiến tranh Nhật - Thanh là điều mà không còn từ nào để nói hơn là mừng vui, phấn khởi. Tôi sống chỉ để được nhìn thấy điều đó! Những người bạn, những đồng chí đã ra đi trước thật là thiệt thòi. Tôi muốn được đem khoe với các anh! Nhiều lần tôi đã khóc và nghĩ như vậy.

Thực ra mà nói, cuộc Chiến tranh Nhật - Thanh cũng không có là gì to tát. Chỉ có điều, đó là sự khởi đầu cho hoạt động ngoại giao của nước Nhật, nên tôi mới vui mừng đến vậy. Nói về tâm trạng lúc đó, không thể không say mê với chiến thắng đó.

Điều này chung quy nguồn cội là do đâu? Sự giàu mạnh và văn minh của Nhật Bản mới ngày nay là nhờ vào công đức của các tiền nhân. Thế hệ chúng ta may mắn sinh ra đúng thời thuận lợi và chỉ là những người nhận món quà quý của tổ tiên để lại mà thôi. Ước nguyện đó gắn liền với sở nguyện của tôi. Nhờ ơn của trời đất, nhờ đức của tổ tiên mà sở nguyện thứ hai của tôi đã trở thành hiện thực.

Uớc muốn của con người không có giới hạn

Như đã nói ở trên, nhìn lại những điều đã qua trong đời, tôi không thấy có điều gì phải ăn năn, mà chỉ toàn những chuyện dễ chịu. Thế nhưng, ước muốn của con người quả thực không có giới hạn. Nếu bảo là bất bình, kể ra bao nhiêu cũng không hết. Lý luận về chuyện này, chuyện kia trong việc giao tiếp với nước ngoài hay vấn đề chính trị, lập hiến ở trong nước, đó là việc của các chính trị gia, nên tôi xin tạm gác lại.

Thử nghĩ về những điều tôi đã làm trong đời, thấy có những việc sau: Đưa đạo đức, tinh thần của thanh thiếu niên trong cả nước lên cao, không phải xấu hổ với danh văn minh; Không phân biệt Phật giáo hay đạo Giatô mà đưa những tôn giáo đó lên thành một phương tiện để điều hòa nhân tâm; Đầu tư một số lượng lớn tiền cho việc nghiên cứu các khoa học cao siêu vô hình cũng như hữu hình. Đại khái có ba điều như vậy.

Con người dù có về già, nếu không có bệnh, không thể nhàn nhã ngồi yên được. Nếu cứ được như bây giờ, trong lúc còn khỏe mạnh, tôi dự định sẽ gắng hết sức để làm những việc mình có thể.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha