Những hình thức cộng đồng người trong lịch sử

I. NHỮNG HÌNH THỨC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ

Cộng đồng người là toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm giống nhau.Phương thức sản xuất là cơ sở chủ yếu của quan hệ cộng đồng. Phương thức sản xuất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội, đồng thời là cơ sở của các quan hệ xã hội. Trong phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trình độ phát triển của sản xuất biểu hiện rõ nhất ở trình độ phát triển của phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội quy định quan hệ giữa các cá nhân với nhau căn cứ vào quan hệ của họ đối với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động. Quan hệ sản xuất đến lượt nó quy định những quan hệ xã hội khác như quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc v.v. Dựa trên nền tảng của các phương thức sản xuất, có những hình thức cộng đồng người trong lịch sử: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc.

1. Thị tộc

a. Điều kiện kinh tế - xã hội

Thị tộc là hình thức cộng đồng người tồn tại trong xã hội công xã nguyên thủy

  • Lực lượng sản xuất chưa phát triển, lao động chủ yếu là hái lượm, săn bắn. Phân công lao động chủ yếu là phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà (đàn ông đi hái lượm và săn bắn, đàn bà nuôi con).
  • Quan hệ sản xuất: công hữu về đất đai và công cụ sản xuất.
  • Quan hệ xã hội bình đẳng, không có giai cấp, không có nhà nước.

Trong điều kiện sản xuất kém phát triển, sự phân công lao động xã hội chưa diễn ra thì hình thức thị tộc là tự nhiên và cần thiết vì quan hệ huyết thống tạo sức mạnh liên kết những cá nhân làm cho cộng đồng người trong xã hội nguyên thuỷ được bền vững.

b. Đặc điểm của thị tộc

  • Thị tộc có cùng tên gọi, cùng quan hệ huyết thống, cùng ngôn ngữ và cùng những yếu tố văn hoá nguyên thuỷ. Người ta lấy tên của thú vật hay cây cối, một vật, một việc để đặt cho tên tộc. Ví dụ Tộc Mơ Nông thờ rái cá; Tộc Rama (tê giác); Tộc O (một loại tre gai); Ra chơm (khô ráo).
  • Họ tôn thờ tên tộc nên không ăn những món nào có liên quan đến tên tộc. Chẳng hạn như tộc “Sưo” không ăn cóc, mối đất. Người Mông không ăn rái cá vì truyền thuyết tổ tiên họ là rái cá. Người Tày Nùng thờ bò. Người Ê Đê thờ bí xanh.
  • Thị tộc có cùng tập quán, tín ngưỡng, chẳng hạn như tập quán nuôi mã vì họ tin linh hồn vĩnh cữu; lễ bỏ mã khi tin rằng linh hồn đã siêu thoát và các tập quán về hôn nhân, về kiện tụng, về đạo đức…
  • Ban đầu, thị tộc theo chế độ mẫu quyền vì vai trò người đàn bà trong gia đình ổn định hơn đàn ông. Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, nền kinh tế đã định cư, ngành nông nghiệp ra đời có cả chăn nuôi, trồng trọt thì vai trò kinh tế của người đàn ông cao hơn. Do vậy chế độ thị tộc mẫu quyền nhường chỗ cho chế độ thị tộc phụ quyền.

2. Bộ lạc

a. Điều kiện kinh tế- xã hội

  • Nhiều thị tộc liên kết lại thành cộng đồng người rộng lớn hơn gọi là bộ lạc.
  • Bộ lạc tồn tại trong hình thái kinh tế- xã hội công xã nguyên thuỷ khi bước đầu có phân công lao động xã hội.

b. Đặc điểm của bộ lạc

  • Bộ lạc cũng có những đặc điểm giống như của thị tộc nhưng khác với thị tộc ở chỗ bộ lạc có lãnh thổ riêng.
  • Về tổ chức và quản lý xã xội thì bước đầu họ đã biết thành lập tổ chức đứng đầu bộ lạc là một hội đồng bộ lạc gồm nhiều tộc trưởng của các thị tộc tham gia bộ lạc. Mọi vấn đề quan trọng của bộ lạc được tranh luận và giải quyết trong hội nghị bộ lạc. Hội nghị bộ lạc là hình thức dân chủ nguyên thuỷ. Mỗi bộ lạc có thủ lĩnh nhưng quyền hành rất hạn chế. Có thủ lĩnh quân sự của từng tộc và thủ lĩnh quân sự của thị tộc cũng tham gia hội đồng bộ lạc, nhưng vai trò của thủ lĩnh quân sự cũng không tách khỏi nhân dân vì mọi thành viên nam giới đều là chiến binh.

3. Bộ tộc

a. Điều kiện kinh tế- xã hội

Bộ tộc là sự liên kết nhiều bộ lạc sống trong một lãnh thổ nhất định, là hình thức cộng đồng người tồn tại phổ biến trong hình thái kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến.Về kinh tế: sản xuất tương đối phát triển, sản xuất hàng hoá ra đời.Xã hội dựa trên chế độ tư hữu, có giai cấp, có quốc gia và nhà nước xuất hiện.

b. Đặc điểm của bộ tộc

  • Bộ tộc có cùng lãnh thổ, cùng ngôn ngữ, cùng những yếu tố văn hóa, đặc biệt là có cùng mối liên hệ kinh tế. Tuy nhiên liên hệ kinh tế chưa bền vững do nền kinh tế chủ yếu còn mang tính chất tự túc tự cấp.
  • Về văn hoá cũng chỉ có một số yếu tố chung chưa thống nhất trong bộ tộc.
  • Nhìn chung, những đặc điểm của bộ tộc chưa bền vững như dân tộc.

4. Dân tộc

  • Dân tộc là cộng đồng người ổn định, bền vững được thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế, cùng tiếng nói và văn hoá.
  • Sự phát triển kinh tế là cơ sở hình thành dân tộc. Dân tộc là hình thức cộng đồng người hình thành do nhu cầu trước nhất từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất hàng hoá. Sự phát triển kinh tế tác động mạnh mẽ đủ sức xoá bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư. Ở phương tây, đó chính là yêu cầu phát triển nền đại công nghiệp TBCN đòi hỏi thống nhất thị trường địa phương thành thị trường toàn quốc.
  • “Giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị. Những địa phương độc lập liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất có tính chất giai cấp và một thuế quan thống nhất”.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang