Những cơ hội và nguy cơ trong hiện tại

3. Những cơ hội và nguy cơ trong hiện tại

Trong quá khứ, trên thực tế hơn là trên danh nghĩa, giáo dục mang rất nhiều tính hướng nghiệp. (i) Giáo dục của số đông thì được phân biệt ở tính thực dụng. Nó được gọi là học việc thì đúng hơn là giáo dục, hoặc nói cách khác đó chỉ là sự học hỏi kinh nghiệm. Nhà trường dành toàn bộ sự chú ý vào ba chữ “R” trong chừng mực mà khả năng đọc, viết và làm tính là các yếu tố phổ biến trong tất cả các loại lao động. Người học tham gia vào công việc chuyên môn nào đó dưới sự hướng dẫn của người khác, đó là giai đoạn nằm-ngoài-nhà-trường của nền giáo dục trên. Hai giai đoạn trên bổ sung lẫn nhau; công việc tại nhà trường, với tính chất cụ thể và mang tính hình thức của nó, hầu như là một phần của quá trình học để biết một nghề nào đó, hệt như tên gọi rõ ràng của chữ “học việc”.

(ii) Giáo dục của các giai cấp thống trị về bản chất là mang tính nghề nghiệp, xét ở một mức độ đáng kể - chỉ có điều các công việc cai trị và hưởng thụ của họ đã không được gọi là nghề nghiệp. Bởi “việc làm” chỉ được gọi là nghề hoặc nghề mưu sinh khi chúng bao hàm lao động chân tay, bao hàm lao động để kiếm sống hoặc để nhận được cái gì đó tương đương có thể chuyển đối thành tiền, hoặc giả bao hàm việc đích thân phục vụ những người cụ thể nào đó. Trong một thời gian dài, chẳng hạn, nghề phẫu thuật và nghề bác sĩ được xếp gần như cùng hàng với nghề đầy tớ hoặc nghề thợ cạo - phần nào bởi vì nghề đó liên quan rất nhiều tới cơ thể con người, và phần nào bởi vì nó bao hàm việc trực tiếp phục vụ con người xác định nào đó vì mục đích được trả công. Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu hàm ý của từ ngữ, [chúng ta sẽ thấy rằng] công việc điều khiển các vấn đề xã hội, dù là trong lĩnh vực chính trị hay kinh tế, dù trong thời chiến hay thời bình, đều là nghề nghiệp như bất kỳ nghề nghiệp nào khác; và mặc dù giáo dục không hoàn toàn bị chi phối bởi truyền thống, nhưng các trường đại học trong quá khứ xét một cách tổng thể đều có mục đích đào tạo để chuẩn bị cho công việc nói trên. Hơn nữa, sự phô trương, sự tô điểm cá nhân, kiểu quan hệ và giao tế xã hội gây uy tín, và sự tiêu tiền, đã được phân loại thành những nghề nghiệp xác định rõ ràng. Các thiết chế đại học đã vô tình góp phần vào việc đào tạo những nghề nghiệp trên. Ngay cả vào thời nay, giáo dục đại học đối với một tầng lớp nhất định nào đó (tầng lớp này nhỏ hơn rất nhiều so với trong quá khứ) vẫn chủ yếu nghĩa là sự chuẩn bị cho việc tham gia một cách hiệu quả vào các công việc nói trên.

Ở những khía cạnh khác, giáo dục đại học, đặc biệt trong sản phẩm cao cấp nhất, vẫn hầu như là sự đào tạo nghề dạy học và nghiên cứu chuyên môn. Theo một sự mê tín kỳ quặc, nền giáo dục có liên quan chủ yếu đến việc, chuẩn bị cho cuộc sống nhàn rỗi nhằm gây chú ý[1], cho nghề dạy học, các nghề có tính văn chương, và nghề làm lãnh đạo, lại được coi không phải giáo dục nghề nghiệp, thậm chí còn được coi là giáo dục mang tính văn hóa đặc biệt. Giáo dục có tính văn chương, phù hợp gián tiếp với nghề viết lách, dù là viết sách, viết báo hay viết bài trên tạp trí, đều phụ thuộc đặc biệt vào sự mê tín trên: không ít thầy giáo và tác gia đã phản đối việc một nền giáo dục mang tính văn hóa và nhân văn đã bị xâm lấn bởi một nền giáo dục mang tính nghề nghiệp và chuyên môn, nhưng họ không nhận ra rằng bản thân nền giáo dục của họ, điều mà họ gọi là giáo dục mang tính nhân văn, lại chủ yếu là đào tạo về nghề nghiệp cụ thể của họ mà thôi. Anh ta chỉ đơn giản mắc phải thói quen coi nghề nghiệp của mình về bản chất là mang tính văn hóa và không nhận ra các khả năng có tính văn hóa của các nghề nghiệp khác. Chắc chắn, nguyên nhân của những sự phân biệt trên nằm ở truyền thống cho rằng, chỉ có công việc nào mà người thực hiện phải chịu trách nhiệm trước một ông chủ cụ thể bằng xương bằng thịt chứ không phải ông chủ tối cao, tức cộng đồng, mới được coi là nghề nghiệp.

Tuy nhiên, có những nguyên nhân hiển nhiên của việc hiện nay người ta đề cao một cách hữu thức giáo dục nghề nghiệp, của việc người ta có xu hướng nhấn mạnh rõ ràng và có chủ tâm tới vai trò của kiến thức nghề nghiệp, điều mà trước đây người ta chỉ hiểu ngầm với nhau, (i) Trước hết, các xã hội dân chủ ngày càng tôn trọng bất cứ điều gì có liên quan đến lao động chân tay, các nghề nghiệp thương mại, và các nghề nghiệp phục vụ xã hội bằng dịch vụ hữu hình. Trên lý thuyết, ngày nay xã hội đòi hỏi nam giới và phụ nữ có bổn phận phải làm việc và họ được xã hội trả công cho đóng góp của mình - dù là đóng góp trí tuệ hay kinh tế. Lao động được ca tụng; phục vụ được coi là một lý tưởng đạo đức được ca ngợi nhiều. Mặc dù vẫn còn nhiều cảm xúc ngưỡng mộ và ghen tị đối với những người có cuộc sống phô trương và nhàn rỗi, song những lối sống như vậy đã bị lên án nhiều hơn trong quan niệm về đạo đức. Sử dụng thời gian và năng khiếu cá nhân với trách nhiệm xã hội đã được thừa nhận rộng rãi hơn so với trước kia.

(ii) Thứ hai, các nghề nghiệp liên quan cụ thể đến nền công nghiệp đã trở nên có tầm quan trọng rất lớn trong một thế kỷ rưỡi qua. Sản xuất và thương mại không còn là công việc có tính gia đình và địa phương, và bởi thế mà hầu như không còn mang tính ngẫu nhiên, mà đã mang tính toàn cầu. Chúng thu hút tiềm năng của một số lượng người ngày càng đông. Tầng lớp các nhà sản xuất, chủ ngân hàng, và những người giữ trách nhiệm quan trọng trong nền công nghiệp, trên thực tế đã thay thế vị trí của tầng lớp quý tộc địa chủ cha truyền con nối để trở thành những người trực tiếp điều hành công việc xã hội. Vấn đề thích nghi xã hội được công khai coi là vấn đề của nền công nghiệp, nó liên quan đến các mối quan hệ giữa tư bản và lao động. Ý nghĩa xã hội gia tăng của các phương pháp dễ nhận ra của nền công nghiệp đã tất yếu đặt ra những câu hỏi ưu tiên có liên quan đến mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường và đời sống công nghiệp. Sự thích nghi xã hội ở mức độ rộng như vậy không thể xảy ra mà không thách thức một nền giáo dục được thừa hưởng từ những hoàn cảnh xã hội khác nhau, và không đặt nền giáo dục trước những vấn đề mới mẻ.

(iii) Thứ ba, có một thực tế được nhiều lần nhắc tới: về bản chất, nền công nghiệp đã chấm dứt là một phương pháp mang tính duy nghiệm, dựa vào kinh nghiệm, được duy trì bằng tập quán. Phương pháp của nền công nghiệp giờ đây đã mang tính công nghệ: nghĩa là nó dựa vào máy móc được sản xuất ra nhờ những phát minh trong toán học, vật lý, hóa học, vi trùng học v.v... Cuộc cách mạng kinh tế đã kích thích khoa học bằng cách đặt ra những vấn đề phải giải quyết, bằng cách tạo ra mối quan tâm trí tuệ lớn hơn tới các công cụ cơ khí. Và nền công nghiệp đã được khoa học trả công cả vốn lẫn lãi. Vì thế, các nghề nghiệp của nền công nghiệp đã có nội dung trí tuệ và những khả năng có tính văn hóa lớn hơn gấp bội so với trước đây. Nhu cầu về một nền giáo dục sao cho người lao động có được sự hiểu biết về những nền tảng khoa học và xã hội và ý nghĩa của nghề nghiệp của họ, đã trở nên có tính cấp thiết, bởi vì những ai không có được sự hiểu biết ấy sẽ tất yếu bị hạ thấp xuống thành vai trò của vật phụ thuộc vào máy móc mà họ điều khiển. Trong xã hội cổ truyền, tất cả những người cùng làm việc trong một nghề đều xấp xỉ ngang nhau về hiểu biết và quan điểm. Hiểu biết và khéo léo cá nhân được phát triển trong một phạm vi ít nhất là hạn hẹp bởi công việc được thực hiện bằng công cụ do người lao động trực tiếp điều khiển. Giờ đây người điều khiển công cụ phải thích nghi với chiếc máy thay vì công cụ được điều chỉnh cho phù hợp với mục đích của anh ta. Mặc dù những khả năng trí tuệ của nền công nghiệp đã tăng lên gấp bội, song các điều kiện nghề nghiệp đối với đại đa số vẫn có khuynh hướng làm cho nền công nghiệp không còn là một phương tiện có tính giáo dục như vào thời của nền sản xuất thủ công phục vụ các thị trường địa phương. Như vậy, gánh nặng của việc nhận thức được những khả năng trí tuệ vốn có trong lao động, đã được trao trả lại cho nhà trường.

(iv) Thứ tư, nghiên cứu khoa học đã trở nên mang tính thực nghiệm nhiều hơn, ít phụ thuộc hơn vào truyền thống có tính văn chương, và bớt gắn liền với các phương pháp lập luận mang tính biện chứng, và các biểu trưng. Do đó, nghề nghiệp không chỉ mang nội dung khoa học nhiều hơn, mà còn đem lại cơ hội lớn hơn cho việc làm quen với phương pháp làm ra tri thức. Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh chịu sức ép kinh tế trực tiếp, người lao động bình thường trong nhà máy không thể có cơ hội làm ra tri thức như người lao động trong phòng thí nghiệm. Nhưng có thể tạo ra trong nhà trường những điều kiện của mối quan hệ với máy móc và các phương pháp của nền công nghiệp, ở đó mối quan tâm hữu thức quan trọng bậc nhất của người học là sự nhận thức cá nhân. Sự phân biệt giữa xưởng máy và phòng thí nghiệm, nơi các điều kiện được tổ chức giống như trong xưởng máy, hầu như chỉ là mang tính chất quy ước mà thôi. Ưu điểm của phòng thí nghiệm là nó cho phép tiếp tục triển khai bất kỳ mối quan tâm trí tuệ nào mà một vấn đề có thể gợi ý; ưu điểm của nhà máy là ở chỗ nó đề cao ý nghĩa xã hội của nguyên lý khoa học, và nó đem lại mối hứng thú sống động hơn cho rất nhiều học sinh.

(v) Cuối cùng, những tiến bộ của môn tâm lý học học tập nói chung và tâm lý học trẻ em nói riêng, bắt đầu theo kịp với vai trò quan trọng gia tăng của nền công nghiệp trong đời sống. Bởi tâm lý học hiện đại đề cao vai trò căn bản của các bản năng nguyên thủy ngu muội trong khám phá, thử nghiệm, và “làm thử”. Nó phát hiện ra rằng “học” không phải là hoạt động của cái có sẵn được gọi tên là trí óc, mà bản thân trí óc là một sự tổ chức các năng khiếu độc đáo thành các hoạt động có ý nghĩa. Như chúng ta đã thấy (xem Chương XV), nếu ở học sinh lớn làm việc tức là sự phát triển có tính giáo dục của các hoạt động bản năng thô thiển, thì ở học sinh nhỏ tuổi làm việc tức là chơi. Hơn nữa, việc chuyển từ chơi sang làm việc phải diễn ra dần dần, chứ không kéo theo một sự thay đổi thái độ một cách triệt để, mà bằng việc đưa các yếu tố của chơi vào trong làm việc, đồng thời liên tục tái tổ chức lại các yếu tố của trò chơi để có thể kiểm soát được nhiều hơn.

Độc giả chắc chắn sẽ nhận ra rằng năm điểm nói trên hầu như đã tóm tắt những bất đồng chính được nêu tại phần trước của cuốn sách này. Trên cả phương diện thực hành lẫn triết lý, chìa khóa để giải quyết tình trạng giáo dục hiện nay nằm ở việc tái kiến tạo dần dần vật liệu và phương pháp của nhà trường, sao cho có thể sử dụng các hình thức khác nhau của hoạt động tiêu biểu cho những nghề nghiệp khác nhau của xã hội, đồng thời làm nổi bật nội dung trí tuệ và đạo đức của các nghề nghiệp đó. Sự tái kiến tạo này phải hạ các phương pháp mang tính văn chương thuần túy - kể cả sách giáo khoa - và các phương pháp biện chứng, xuống vị trí của công cụ bổ trợ cần thiết cho việc phát triển trí thông minh dựa vào các hoạt động mang tính kế tiếp và tích lũy.

Nhưng sự bàn luận của chúng ta đã nhấn mạnh tới thực tế rằng quá trình tái tổ chức lại giáo dục nói trên không thể thực hiện được bằng việc đơn thuần đào tạo kiến thức chuyên môn cho các ngành kỹ nghệ và nghề nghiệp xét như chúng đang diễn ra lúc này, lại càng không phải bằng việc đơn thuần sao chép y nguyên những điều kiện của nền công nghiệp vào trong nhà trường. Vấn đề không phải là biến nhà trường thành một cái thêm vào nền sản xuất và thương mại, mà vấn đề là sử dụng các yếu tố của nền công nghiệp để làm cho đời sống của nhà trường trở nên năng động hơn, mang ý nghĩa trực tiếp hơn, có liên hệ mật thiết hơn với kinh nghiệm bên ngoài nhà trường. Vấn đề này không dễ giải quyết. Có một nguy cơ thường trực như sau: nền giáo dục sẽ tiếp tục duy trì những truyền thống cũ dành cho một số ít ưu tú, đồng thời nó điều chỉnh để thích nghi với những điều kiện mới của nền kinh tế hầu như trên cơ sở của việc mặc nhận những phương diện không biến đổi, không dựa vào lý tính, và không được làm cho phù hợp với xã hội của nền công nghiệp khiếm khuyết của chúng ta. Để diễn đạt một cách cụ thể, nguy cơ đó là như sau: giáo dục nghề nghiệp sẽ được hiểu bằng lý luận và thực hành như là dạy nghề: tức đó là phương tiện đem lại hiệu quả kỹ thuật trong những nghề nghiệp chuyên môn tương lai.

Khi đó giáo dục sẽ trở thành một công cụ duy trì trật tự không thay đổi của nền công nghiệp hiện hữu của xã hội, thay vì nó hoạt động như một phương tiện của sự biến đổi. Không khó khăn để định nghĩa một cách hình thức sự biến đổi mong muốn đó. Sự biến đổi đó có nghĩa là, một xã hội mà ở đó ai cũng bận rộn với công việc gì đó để làm cho cuộc sống của người khác trở nên đáng sống hơn, và do đó làm cho sợi dây ràng buộc con người với nhau trừ nên dễ dàng được nhận ra hơn - xã hội ấy phá bỏ những rào cản ngăn cách con người. Nó hàm nghĩa một hoàn cảnh ở đó hứng thú công việc của mỗi người không phải là do ép buộc và dựa vào trí thông minh: hứng thú đó được dựa trên tính phù hợp với năng khiếu tự nhiên của mỗi người. Khỏi cần nói, chúng ta còn lâu mới có được hoàn cảnh xã hội như vậy; hiểu theo nghĩa đen và nghĩa định lượng, có thể chúng ta không bao giờ đạt tới hoàn cảnh đó. Nhưng về nguyên tắc, đặc tính của những thành quả của sự thay đổi xã hội đều diễn ra theo chiều hướng trên. Ngày nay chúng ta có nhiều phương tiện để thực hiện những thay đổi xã hội, hơn bất kỳ thời đại nào trước đây. Không có trở ngại cản đường nào là không thể khắc phục được, bởi sự quyết tâm dựa vào trí thông minh sẽ không để cho điều đó xảy ra.

Thành công hay thất bại trong việc thực hiện được điều nói trên phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn phương pháp giáo dục nhằm tạo ra sự thay đổi, hơn là dựa vào bất kỳ điều gì khác. Bởi sự thay đổi về bản chất nghĩa là một sự thay đổi về đặc tính của xu hướng tinh thần - tức một sự thay đổi có tính giáo dục. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể làm thay đổi tính cách và trí tuệ bằng giáo dục trực tiếp và hô hào cổ vũ, tách rời khỏi một sự thay đổi trong các điều kiện của nền công nghiệp và chính trị. Một quan niệm như vậy mâu thuẫn với quan niệm cơ bản của chúng ta cho rằng tính cách và trí óc là những thái độ của sự phản ứng tham gia vào các vấn đề xã hội. Song, điều nói trên có nghĩa là, chúng ta có thể tạo ra trong nhà trường một kế hoạch về kiểu xã hội mà chúng ta mong muốn thực hiện, và bằng cách đào tạo những trí óc phù hợp với kiểu xã hội đó, chúng ta sẽ dần dần làm biến đổi những đặc trưng rõ rệt hơn và ngoan cố hơn của xã hội của người lớn.

Trên phương diện tình cảm, có vẻ như là nhẫn tâm khi nói rằng thảm họa lớn nhất của chế độ hiện hữu không phải nằm ở đói nghèo và cái khổ do nó đưa đến, mà nằm ở thực tế rằng có quá nhiều người đang làm những nghề mà họ không thấy hứng thú, họ theo đuổi nghề nghiệp chỉ đơn thuần vì lợi ích tiền bạc đem lại. Bởi những nghề nghiệp như vậy thường xuyên gây ra cho người ta cảm giác chán ghét[2], ác tâm, và một mong muốn coi thường và xa lánh công việc. Con người không dồn tình cảm và trí tuệ vào công việc của mình. Mặt khác, có những người không những phong lưu về của cải vật chất hơn rất nhiều, mà còn nắm giữ quá nhiều, nếu không muốn nói là độc quyền sự kiểm soát các hoạt động của số đông, lại bị ngăn cách khỏi sự giao tiếp xã hội bình đẳng và phổ biến. Họ bị kích thích để theo đuổi sự hưởng lạc và phô trương; để bù đắp lại sự ngăn cách giữa họ và những người khác, họ cố gắng tạo ra cảm giác rằng mình có sức mạnh và có nhiều của cải và niềm vui hơn những người kia.

Một kiểu giáo dục nghề nghiệp được quan niệm một cách hạn hẹp sẽ hoàn toàn có thể duy trì mãi mãi sự phân hóa nói trên dưới một hình thức khó thay đổi. Bởi kiểu giáo dục đó chọn lập trường dựa trên một niềm tin giáo điều về tiền định xã hội, nên nó sẽ cho rằng có những người nào đó bị bắt buộc phải tiếp tục làm người làm công ăn lương trong những điều kiện kinh tế như hiện tại, và nó sẽ chỉ đơn giản nhắm tới việc cung cấp cho họ cái được gọi là dạy nghề - nghĩa là tính hiệu quả kỹ thuật cao hơn. Thật đáng buồn là kiểu giáo dục đó lại thường không tạo ra được sự tài giỏi về kỹ thuật, và chắc chắn sự tài giỏi đó là điều đáng mong muốn vì mọi lý do - không chỉ đơn thuần vì lợi ích của việc sản xuất ra hàng hóa tốt hơn với chi phí ít hơn, mà còn vì niềm vui nhiều hơn được tìm thấy trong công việc. Bởi chẳng một ai quan tâm đến việc một người không được phép làm nửa vời. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa một sự thành thạo bị giới hạn vào công việc trực tiếp trước mắt, và một năng lực được mở rộng thành sự nhận thức sâu sắc các ý nghĩa xã hội của công việc; giữa hiệu quả thực hiện các kế hoạch do người khác đề ra và hiệu quả trong việc tự mình lên kế hoạch. Ngày nay, sự hạn chế về trí tuệ và tình cảm nói trên là đặc trưng của cả giai cấp thuê lao động lẫn giai cấp làm thuê. Trong khi người làm thuê không có mối hứng thú nào khác tới công việc ngoài tiền công họ nhận được, thì cái nhìn của chủ lao động có khi chỉ giới hạn vào lợi nhuận và quyền lực. Mối hứng thú sau đòi hỏi sự hiểu biết trí tuệ nhiều hơn và sự khảo sát rộng hơn các điều kiện, nói chung. Bởi mối hứng thú đó bao hàm sự điều khiển và kết hợp rất nhiều yếu tố khác nhau, trong khi đó mối hứng thú tới tiền công bị giới hạn vào những vận động cơ bắp trực tiếp nào đó. Tuy nhiên, chừng nào mà công việc không tiếp nhận các ý nghĩa xã hội liên quan đến nó, chừng đó có sự giới hạn trí thông minh vào các nguồn dẫn kỹ thuật và phi nhân văn, mang tính chuyên môn nghề nghiệp hạn hẹp. Và khi mà động lực là ham muốn lợi nhuận và quyền lực cá nhân, khi ấy sự hạn chế nói trên là không thể tránh khỏi. Trên thực tế, những người kém may mắn về kinh tế lại thường có lợi thế về sự cảm thông xã hội trực tiếp và xu hướng nhân văn, bởi vì họ không trải qua những tác động khiến họ phải nhẫn tâm của việc chỉ huy một chiều công việc của người khác..

Mọi kiểu giáo dục nghề nghiệp lấy nền công nghiệp hiện hữu làm điểm xuất phát rất dễ thừa nhận và duy trì mãi mãi những sự phân hóa và nhược điểm nói trên, và vì thế nó trở thành một công cụ thực hiện giáo điều của chế độ phong kiến về tiền định xã hội. Những ai ở vào cái vị thế có thể thực hiện các nguyện vọng của mình thì có nhu cầu về một nghề nghiệp mang tính nhân văn, mang tính văn hóa, và một nghề nghiệp uốn nắn người trẻ tuổi cho vừa với quyền năng chỉ huy, bởi họ trực tiếp có mối quan tâm tới chúng. Chia tách hệ thống [giáo dục] ra thành từng phần, cung cấp cho những người ở địa vị kém may mắn hơn một kiểu giáo dục được quan niệm chủ yếu như là dạy nghề nghiệp cụ thể, tức là coi nhà trường như là phương tiện sao chép lại sự phân chia truyền thống giữa lao động và nhàn hạ, giữa văn hóa và phục vụ, trí óc và thể xác, giai cấp bị chỉ huy và giai cấp chỉ huy, vào trong một xã hội được gọi tên là dân chủ. Với tính chất như vậy, giáo dục nghề nghiệp không tránh khỏi coi nhẹ các mối liên hệ con người giữa vật liệu và phương pháp được sử dụng xét như liên quan đến khoa học và lịch sử. Sẽ là lãng phí thời gian khi đưa những điều như vậy vào trong nền giáo dục dạy nghề hạn hẹp; mối quan tâm về chúng không mang tính “thực hành”. Chúng được dành riêng cho những ai có sẵn sự nhàn hạ - sự nhàn hạ nhờ có các điều kiện kinh tế thuận lợi hơn. Những điều như vậy thậm chí còn gây nguy hiểm cho những mối hứng thú của giai cấp chỉ huy, chúng đánh thức sự bất mãn hoặc tham vọng “vượt ra khỏi địa vị của mình” ở những ai đang làm việc dưới sự chỉ huy của người khác. Nhưng một nền giáo dục thừa nhận ý nghĩa tinh thần và xã hội đầy đủ của một thiên hướng nghề nghiệp, nền giáo dục đó sẽ đưa kiến thức truyền đạt vào trong bối cảnh lịch sử của các điều kiện hiện tại; dạy khoa học là để đem lại trí thông minh và sáng kiến trong xử lý vật liệu và các phương tiện sản xuất; học môn kinh tế, bổn phận công dân, và môn chính trị là để giúp cho sau này lớn lên trẻ em sẽ là những người lao động nắm vững các vấn đề của thời cuộc và những phương pháp đề xuất để làm cho ngày đó tốt đẹp hơn. Trên hết, nền giáo dục đó sẽ đào tạo khả năng thích nghi với những điều kiện luôn thay đổi, để cho người lao động tương lai sẽ không lệ thuộc mù quáng vào số phận do người khác áp đặt. Lý tưởng này không những phải vượt qua sức ỳ của các truyền thống giáo dục hiện hữu, nó còn phải vượt qua cả sự chống đối của những người đã quá gắn bó với việc chỉ huy bộ máy của nền công nghiệp, và họ hiểu rằng một hệ thống giáo dục như thế, nếu trở thành phổ biến, sẽ đe dọa khả năng họ lợi dụng người khác vào những mục đích riêng.

Nhưng chính sự kiện này lại là điều báo trước một trật tự xã hội công bằng và được soi sáng hơn, bởi nó là bằng chứng cho thấy sự tái tổ chức lại xã hội phụ thuộc vào sự tái kiến tạo lại nền giáo dục. Do đó, đối với những ai tin vào một trật tự tốt đẹp hơn, nó là một sự khích lệ để họ xúc tiến một nền giáo dục nghề nghiệp không bắt người trẻ tuổi phải phụ thuộc vào những đòi hỏi và tiêu chuẩn của hệ thống hiện tại, mà nền giáo dục đó sử dụng các nhân tố khoa học và xã hội của hệ thống đó để phát triển một trí thông minh can đảm, và làm cho thông minh đó mang tính thực hành và hành động.

Chú thích

  1. Conspicuous idleness: Có thể tham khảo lý thuyết về giai cấp nhàn hạ của nhà kinh tế học người Mỹ gốc Na Uy Thorstein Veblen (1857-1929) (leisure class - giai cấp nhàn hạ; conspicuous leisure: sự nhàn rỗi gây chú ý). Theo Thorstein Veblen, giai cấp nhàn hạ tồn tại trong các xã hội dựa vào tập quán. Sự phân biệt giữa giai cấp ở tầng thượng và các giai cấp khác nằm ở nghề nghiệp được dành riêng cho mỗi giai cấp. Giai cấp ở tầng thượng được miễn không phải làm các nghề nghiệp tạo ra sản phẩm (có những nghề được coi là nghề cao quý dành riêng cho họ, chẳng hạn như nghề thầy tu!...). Vì thế, “nhàn rỗi” (không phải làm ra sản phẩm cho xã hội) được coi là dấu hiệu và danh vọng của địa vị xã hội.
  2. Có thể tham khảo cuốn Tay nghề công nhân và sự chán ghét công việc của họ của Thorstein Veblen (1899).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org