Những điều kiện của tăng trưởng

1. Những điều kiện của tăng trưởng

Trong khi điều khiển các hoạt động của trẻ em, xã hội xác định tương lai của trẻ em và qua đó xác định luôn tương lai của chính nó. Bởi vì trẻ em tại bất kỳ một thời điểm nào sẽ một ngày nào đó làm thành xã hội của giai đoạn tương lai, cho nên bản chất của giai đoạn tương lai đó sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự điều khiển các hoạt động của trẻ em tại một giai đoạn trong quá khứ. Quá trình vận động tích lũy này được gọi là tăng trưởng.

Non nớt là trạng thái đầu tiên của quá trình tăng trưởng. Có vẻ là một sự thật quá hiển nhiên khi nói rằng một người chỉ có thể tăng trưởng chừng nào anh ta còn chưa phát triển hết. Song, tiền tố “im” của từ “immaturity” (non nớt) lại mang một nghĩa tích cực chứ không chỉ đơn thuần nghĩa là “không có” hoặc “thiếu”. Đáng lưu ý là, các từ “khả năng” và “tiềm năng” có nghĩa kép: một nghĩa [khẳng định] và một nghĩa [phủ định]. “Khả năng” có thể đơn thuần nghĩa là khả năng chứa, “dung lượng”, chẳng hạn dung lượng của một đơn vị một phần tư ga-lông chất lỏng (tức khoảng hơn một lít). Chúng ta có thể dùng từ “tiềm năng” để đơn thuần nói tới một trạng thái âm ỉ hoặc thụ động - một khả năng trở thành cái gì đó khác trước do những ảnh hưởng từ bên ngoài. Nhưng chúng ta còn có thể dùng từ “khả năng” để nói tới một khả năng [trình độ], một năng lực; và “tiềm năng” còn có nghĩa là mạnh mẽ, sức mạnh. Vậy thì khi chúng ta nói rằng non nớt nghĩa là khả năng có thể tăng trưởng, chúng ta không ám chỉ sự thiếu vắng những năng lực mà ở vào một thời điểm sau này chúng có thể xuất hiện; [khi nói tới non nớt], chúng ta muốn nói rõ rằng, có một sức mạnh đang thực sự tồn tại - tức năng lực để phát triển.

Chúng ta có khuynh hướng coi non nớt đơn thuần là sự thiếu, và tăng trưởng là cái gì đó lấp đầy khoảng cách giữa người non nớt và người trưởng thành, bởi vì chúng ta đánh giá thời thơ ấu trong sự so sánh tương đối thay vì nhìn vào bản chất của nó. Chúng ta đơn giản coi thời thơ ấu như là một tình trạng thiếu thốn bởi chúng ta sử dụng thời trưởng thành như một tiêu chuẩn cố định để đánh giá về nó. Cách nhìn này khiến chúng ta chỉ chú ý tới cái mà trẻ em không có, cái mà trẻ em chỉ có khi chúng trở thành người lớn. Vì nhiều mục đích, quan điểm có tính so sánh tương đối này là đủ chính đáng, song nếu chúng ta coi nó là quan điểm cuối cùng, câu hỏi sẽ nảy sinh rằng liệu có phải chúng ta mắc phải một sự giả định quá kiêu ngạo hay không. Ví thử trẻ em có thể tự diễn đạt được một cách rành mạch và chân thành, chúng sẽ tiết lộ một câu chuyện khác hẳn; và người lớn có cái quyền uy tuyệt vời để đinh ninh rằng trong phạm vi nào đó về đạo đức và trí tuệ, người lớn phải học trẻ thơ.

Có thể thấy rõ sự nghiêm trọng của giả định coi đặc tính của tình trạng non nớt là [thiếu năng lực] nếu chúng ta lưu ý rằng giả định ấy đã coi một mục đích bất biến như là lý tưởng và chuẩn mực. Sự thực hiện quá trình tăng trưởng lại được coi là một sự tăng trưởng đã xong trọn vẹn nghĩa là một sự Thôi Tăng Trưởng hoặc không còn tăng trưởng thêm được nữa. Có thể thấy rõ sự vô nghĩa của giả định trên trong sự kiện rằng người lớn nào cũng khó chịu với việc bị đổ lỗi cho sự không còn khả năng tiếp tục tăng trưởng nữa; và khi anh ta phát hiện thấy mình không còn khả năng phát triển nữa thì anh ta liền coi sự kiện đó như là bằng chứng của sự mất mát thay vì phải cầu viện đến cái đã hoàn thành như là sự bộc lộ đầy đủ của năng lực. Vì sao lại có một sự đánh giá không bình đẳng về trẻ em và người lớn?

Hiểu một cách tuyệt đối thay vì so sánh tương đối, “non nớt” chỉ rõ [ý] một sức mạnh hoặc một khả năng tích cực - tức năng lực để tăng trưởng. Khác với chủ kiến của nhiều học thuyết về giáo dục, chúng ta chẳng cần thiết phải khuyến khích hoặc khơi gợi những hoạt động tích cực ở một đứa trẻ. Nơi nào có sự sống, nơi đó đã tồn tại những hoạt động nhiệt tình và sôi nổi. Tăng trưởng không phải là cái được làm sẵn cho trẻ em; nó là cái mà trẻ em làm ra. Khía cạnh năng động và có tính kiến tạo của khả năng [tăng trưởng] là chìa khóa để hiểu hai đặc điểm chính của tình trạng non nớt: lệ thuộc và dễ thay đổi. (Thứ nhất) nghe có vẻ phi lý khi nói lệ thuộc là cái mang tính tích cực, lại càng phi lí hơn khi đó lại là một năng lực. Song, nếu như lệ thuộc nghĩa là bất lực, thì chẳng bao giờ xảy ra sự tăng trưởng cả. Một người đơn thuần bất lực sẽ mãi mãi bị lệ thuộc vào người khác. Lệ thuộc bao giờ cũng đi kèm với tăng trưởng về năng lực, chứ không phải đi kèm với một tình trạng ngày càng ký sinh, sự việc đó đã hàm ý rằng lệ thuộc là cái mang tính kiến tạo. Chỉ đơn thuần được che chở bởi người khác sẽ không khuyến khích sự tăng trưởng. Bởi (thứ hai) sự lệ thuộc chỉ tạo thành một bức tường vây xung quanh tình trạng bất lực. Trẻ em bao giờ cũng bất lực trước thế giới vật chất. Lúc sinh ra và một thời gian dài sau đó, đứa trẻ chưa có đủ khả năng để phát triển về mặt thể xác, không thể tự kiếm sống. Nếu đứa trẻ buộc phải làm điều đó một mình, nó khó lòng sống sót nổi sau một tiếng đồng hồ. Về phương diện này, trẻ em gần như bất lực hoàn toàn. Những con thú non của các loài dã thú giỏi hơn trẻ em rất nhiều. Trẻ em yếu đuối về mặt thể xác và nó không thể lợi dụng sức mạnh mà nó có sẵn để đối phó với môi trường vật chất.

1. Nhưng để bù lại, tính chất bất lực triệt để nói trên lại cho thấy một khả năng nào đó. Việc những con thú khi mới sinh ra đã có khả năng, xét một cách tương đối, thích nghi khá tốt với những điều kiện vật chất cho thấy rằng cuộc sống của chúng không gắn liền mật thiết với cuộc sống của những con thú quanh chúng. Có thể nói, chúng có những khả năng tự nhiên về thể xác bởi vì chúng thiếu những khả năng mang tính xã hội. Trẻ em trái lại có thể tiếp tục tồn tại được bất chấp việc chúng không đủ năng lực về mặt thể xác chỉ bởi chúng có khả năng mang tính xã hội. Đôi khi chúng ta nói và suy nghĩ như thể trẻ em đơn thuần tồn tại về mặt thể xác trong một môi trường xã hội; như thể chỉ người lớn mới có những khả năng xã hội và người lớn là những người chăm sóc trẻ em còn trẻ em là những người tiếp nhận thụ động. Ví thử có ai đó nói rằng trẻ em có khả năng trời phú tuyệt vời trong việc tranh thủ sự chú ý hợp tác ở người khác, người ta sẽ coi câu nói đó là một cách nói ngược để châm biếm mà lẽ ra phải nói rằng người lớn chu đáo một cách tuyệt vời tới những nhu cầu của trẻ em. Song, sự quan sát cho thấy trẻ em có một khả năng tự nhiên vào loại bậc nhất về giao tiếp xã hội. Khi trưởng thành lên ít ai còn giữ được trọn vẹn khả năng đồng cảm linh hoạt và nhạy bén với thái độ và hành động của những người xung quanh. Trẻ em không chú ý tới những vật cụ thể (bởi chúng không có khả năng kiểm soát những nhân vật đó) nhưng đồng thời trẻ em lại có thể tập trung hứng thú và sự chú ý vào những việc làm của con người. Ở trẻ em, cơ chế bẩm sinh và mọi động lực tự nhiên đều có xu hướng giúp cho phản ứng xã hội trở nên dễ dàng hơn. Phát biểu cho rằng trẻ em trước tuổi thiếu niên là những người ích kỷ quá đáng, cho dù là đúng đi nữa, vẫn không mâu thuẫn với chân lý của phát biểu trên. Phát biểu đó chỉ đơn giản cho thấy phản ứng xã hội [ở trẻ em] được sử dụng vì lợi ích của bản thân chúng, chứ không phủ nhận sự tồn tại của phản ứng xã hội [ở trẻ em]. Song, trên thực tế phát biểu đó là không đúng. Những luận cứ được sử dụng để chứng minh tính ích kỷ tuyệt đối ở trẻ em thực ra lại cho thấy trẻ em hành động với mục tiêu rõ rệt và không úp mở. Nếu như người lớn thấy mục đích làm thành mục tiêu [của trẻ em] là thiển cận và ích kỷ thì chỉ bởi vì người lớn (bởi khi còn bé họ cũng bị cuốn hút tương tự [vào các mục tiêu]) đã làm chủ được những mục tiêu như vậy và do đó họ không còn bị thu hút bởi chúng nữa. Ngoài ra, phần lớn cái bị coi là sự ích kỷ bẩm sinh của trẻ em đơn giản chỉ là một sự ích kỷ đối lập lại với một sự ích kỷ của người lớn. Người lớn quá mải mê với công việc của mình và do đó họ không có hứng thú tới công việc của trẻ em, và đối với người lớn, rõ ràng trẻ em mải mê một cách dường như vô lý vào những công việc riêng của chúng.

Xét từ một quan điểm xã hội, “lệ thuộc” hàm nghĩa một năng lực hơn là một sự yếu kém; lệ thuộc kéo theo sự lệ thuộc lẫn nhau. Có một nguy cơ luôn tồn tại rằng tính độc lập [tức không bị lệ thuộc] ở một cá nhân càng cao thì năng lực xã hội ở người đó càng giảm đi. Anh ta càng tự lập thì anh ta có thể càng trở nên tự mãn; thậm chí anh ta còn có thái độ cách biệt và lãnh đạm. Thái độ đó thường khiến một cá nhân trở nên vô cảm trước những mối quan hệ với người khác, đến nỗi anh ta phát triển một ảo tưởng rằng có thể thực sự đứng vững và hành động đơn độc - một dạng bệnh điên chưa được đặt tên và là nguyên nhân của phần lớn những đau khổ có thể chữa khỏi của thế giới này.

2. Tính thích nghi cụ thể của một sinh vật non nớt để giúp cho nó tăng trưởng, làm thành tính dễ thay đổi của nó. Tính dễ thay đổi hoàn toàn khác với tính dễ uốn của vữa mát-tít hoặc sáp. Nó không phải là một khả năng biến đổi về hình thức để thích ứng với áp lực từ bên ngoài. Nó gần giống như việc một số người có khả năng chấp nhận đặc tính của môi trường xung quanh song vẫn giữ nguyên khuynh hướng riêng của họ. Song, tính dễ thay đổi là cái gì đó sâu sắc hơn thế. Về bản chất đó là năng lực học hỏi từ kinh nghiệm; khả năng giữ lại điều gì đó từ một kinh nghiệm và nó giúp ích cho việc đối phó với những khó khăn trong một tình huống sau này. Nghĩa là, đó là khả năng điều chỉnh các hành động dựa vào kết quả của những kinh nghiệm trước đó, khả năng phát triển những xu hướng. Nếu không có khả năng này, sự tập nhiễm các thói quen sẽ không thể xảy ra.

Chúng ta đều biết những con thú mới đẻ của các loài động vật bậc cao, đặc biệt là trẻ em, phải học thì mới biết sử dụng các phản ứng của bản năng. So với bất kỳ loài động vật nào khác, con người khi sinh ra có nhiều khuynh hướng bản năng hơn. Song, ở những loài động vật bậc thấp, một thời gian ngắn sau khi sinh ra, các bản năng đã tự hoàn thiện để có thể vận dụng một cách phù hợp, trong khi đó hầu hết trẻ em đều ít có tầm quan trọng hệt như địa vị của chúng vậy. Khi sinh ra, trẻ em đã có sẵn một khả năng thích nghi đặc biệt để có thể sử dụng được ngay, song giống như một chiếc vé tàu hỏa, nó chỉ có tác dụng cho một tuyến đường duy nhất. Để có thể sử dụng được đôi mắt, đôi tai, bàn tay và đôi chân, con người phải luyện tập các phản ứng với những sự kết hợp khác nhau để đạt được một sự điều chỉnh linh hoạt và đa dạng. Một con gà chẳng hạn, chỉ vài giờ sau khi nở ra nó đã có thể mổ chính xác vào một mẩu thức ăn. Điều này nghĩa là, chỉ sau một vài lần làm thử, con gà đã có thể hoàn thiện được động tác phối hợp rõ ràng của đôi mắt để nhìn cùng cái đầu và cái thân để mổ vào mẩu thức ăn. Một đứa trẻ phải cần đến sáu tháng mới có thể làm được gần chính xác động tác với tay để rồi phối hợp động tác ấy với các hoạt động của thị giác; nghĩa là, [phải mất gần sáu tháng] chúng ta mới phân biệt được rằng đứa trẻ có thể với tay để lấy một đồ vật mà nó nhìn thấy hay không và nó làm động tác đó như thế nào. Như vậy, con gà không thể vượt qua sự hoàn thiện mang tính tương đối của khả năng bẩm sinh của nó. Lợi thế của đứa trẻ là nó có vô số những phản ứng dò dẫm của bản năng và vô số kinh nghiệm đi kèm theo những phản ứng ấy, dẫu cho đứa trẻ ở vào một tình thế bất lợi tạm thời bởi các phản ứng giao cắt lẫn nhau. Khi học một hành động, thay vì có hành động ấy được đưa ra sẵn, người ta nhất thiết phải học cách thay đổi các yếu tố cấu thành hành động ấy, kết hợp chúng theo những cách khác nhau tùy theo sự thay đổi của hoàn cảnh. Khi con người học [làm] một hành động, nó có khả năng tiến bộ liên tục nhờ sự kiện rằng nó phát triển những phương pháp đủ tốt để sử dụng trong những tình huống khác. Quan trọng hơn nữa, con người tập nhiễm một thói quen học tập. Nó học [ngay chính] việc học tập.

Hai sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự sống của con người - tính lệ thuộc và sự kiểm soát có thể thay đổi - đã được tống kết trong học thuyết về tầm quan trọng của thời thơ ấu kéo dài[1]. Sự kéo dài này có ý nghĩa quan trọng xét từ điểm nhìn của người trưởng thành cũng như trẻ em của cộng đồng. Sự tồn tại của những cá thể bị lệ thuộc và đang học tập chính là một sự kích thích sự chăm sóc và yêu thương. Nhu cầu được chăm sóc thường xuyên và liên tục có lẽ là phương tiện quan trọng nhất để biến sự chung sống nhất thời trở thành mối liên kết lâu bền. Đó chắc chắn là ảnh hưởng chính hình thành nên các thói quen dễ dàng bày tỏ tình cảm trìu mến và cảm thông; để hình thành nên mối hứng thú có tính kiến tạo tới hạnh phúc của người khác - điều quan trọng không thể thiếu đối với đời sống liên kết, trên phương diện trí tuệ, sự phát triển về đạo đức nói trên có nghĩa là đưa thêm vào rất nhiều đối tượng mới mẻ của sự chú ý; nó [sự phát triển về đạo đức] kích thích sự lo xa và lập kế hoạch cho tương lai. Như vậy, có một sự ảnh hưởng tương hỗ. Đời sống xã hội ngày càng phức tạp, nó càng cần kéo dài thời thơ ấu của trẻ em để cho chúng có thể học được những năng lực cần thiết; sự kéo dài tình trạng lệ thuộc này tức là kéo dài tính dễ thay đổi, hoặc kéo dài khả năng học được những phương thức kiểm soát mới mẻ và có thể thay đổi. Do đó, [kéo dài thời thơ ấu] đem lại sự thúc đẩy hơn nữa cho tiến bộ xã hội.

Chú thích

  1. Một vài tác giả đã ám chỉ tới ý nghĩa của thời thơ ấu kéo dài, song John Fiske trong cuốn Excursions of an evolutionist (Những cuộc du ngoạn của một người theo tiến hóa luận) được coi là người đầu tiên trình bày nó một cách có hệ thống. [J.D]

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org