Nhập tịch

NHẬP TỊCH

Trà nhập tịch

- Làng nào mỗi năm cũng có một trà nhập tịch (vào đám), nhất là hay làm về tháng giêng, tháng hai. Hôm ấy là hôm bắt đầu vào tiệc hội hát, nhưng hội hát thì thỉnh thoảng năm nào phong đăng mới mở to, còn thường thường mỗi năm chiếu lệ làm sơ sài dăm bảy ngày cho chí mười ngày là cùng.

Lễ mộc dục

- Trưốc một ngày nhập tịch, hoặc nửa đêm, hoặc buổi sáng, dùng lễ trầu rượu gà xôi cáo yết rồi dùng nước trong lau tắm thần vị, tắm xong lại lau phủ một lượt nưóc trầm hương, gọi là lễ mộc dục. Tắm rửa xong thì phong áo mũ đại trào hoặc bằng thực, hoặc bằng đồ giấy, đâu đấy tế một tuần, gọi là tế gia quan. Lễ vật thì tùy tục riêng từng làng hoặc dùng bò lợn, hoặc dùng gà xôi, có nơi chỉ dùng bảy quả trứng luộc mà thôi, nhưng thế nào cũng phải có trầu rượu.

Tế lễ xong, các bô lão viên chức ngồi giải toạ, hạ đồ lễ làm cỗ ăn uốhg, rồi đem chậu nước trầm lau thần vị khi nãy, đồng dân theo thứ tự trên dưới mỗi người nhúng tay vào chậu nước lau lên 'mặt một chút, gọi là quân chiêm thần huệ. Còn cái khăn vải đỏ dùng đê lau thần vị thì xé ra mà biếu viên chức và chia mỗi người một mảnh con cho đều. Mảnh ấy gọi là cái mụn đỏ, ai được phần đem về đeo cổ hoặc buộc cổ tay cho con thì con được mạnh khỏe, khước lắm.

Đại tế

- Hôm sau, rước thần vị ở miếu về đình giết trâu mô bò tế một tuần. Tế xong suốt thượng hạ trong xã đều được ăn uống.

Xướng ca

- Tối hôm nhập tịch hoặc cách một vài hôm, dùng cỗ bánh cỗ xôi hay là cỗ nấu tế một tuần nữa. Trong khi tế mỗi tuần hiến rượu, có ả đào ra múa nhạc. Tê xong, đào kép hát chúc thánh mừng dân rồi thì hát thờ suôt đêm. Cả hàng xã đều ngồi giải tọa nghe hát, viên chức cắt lần nhau ra đánh trống chầu. Được nửa chừng, ông thủ chỉ gõ cắc cắc vào tang trống một hồi, gọi là gia tang thì hàng xã mới uống rượu. Trong khi uống rượu, ông thủ chĩ đánh ba tiếng trông tiêu cô (trông khẩu) thì đàn em trong làng, một người đứng dậy reo hoan thanh ba tiếng: "hi, hả, hả, hả hà...!" mỗi một tiếng reo thì cả dân đều họa lại một tiếng dài: "hi..." rồi thì pháo đốt, tù và thổi um lên một lúc, cách một giờ nữa lại reo sáu tiếng như thế, cách một giò nữa thì lại reo chín tiếng như thế, cả thảy ba lần reo thì mới tan cuộc rượu. Rượu tan rồi vẫn cứ hát, đến sáng hát bỏ bộ rồi mới thôi.

Tự hôm ấy trở đi, ban ngày thì chèo hát hoặc đánh vật hoặc đánh cờ bỏi, ban đêm thì xướng ca cho đến hôm xuất tịch (giã đám) mới tan.

Có làng dùng cách giản dị, từ hôm nhập tịch trở đi, mỗi tối chỉ dùng trầu rượu làm lễ 'túc chực, mấy người bô lão ra lễ, ngủ tại đình để chầu chực nhà Thánh. Đến hôm xuất tịch, mới dùng cỗ bàn tế một tuần xướng ca một đêm gọi là chiếu lệ mà thôi.

Giao hiếu

- Trong mấy hôm nhập tịch, các thôn xã gần nhau, hoặc 2, 3 xã, hoặc 5, 7 xã cùng thò một vị, thì rước lẫn sang nhau, gọi là rước đánh giải, trước là lễ thần, sau là giải tọa uôhg rượu nghe hát, để tỏ tình hiếu với nhau. Cũng có nơi mỗi xã làm chủ một năm, các xã lân cận rước lại cả xã ấy mà hội tế. Cũng có nơi cách xa tổng khác huyện khác.mà cũng thờ một vị thì cũng rước giao hiếu với nhau.

Cơm quả, cơm quan viên

- Khi xã này rước sang xã khác, các người đi rưóc thường làm sẵn một mâm cơm lịch sự, đựng vào cái quả đỏ cho người đem sang đám rước, gọi là cơm quả. Những viên chức thì đã có đương cai sửa năm ba mâm, nấu đồ ngũ trân bát vị, đủ các thứ bánh đường bánh ngọt, gọi là cơm quan viên. Khi rước sang đến xã khác rồi, lễ thánh đâu đấy thì nghỉ ngơi ra ăn uống. Thường dân trải chiếu cạp đỏ ra bò đê bò ruộng hoặc chỗ dưới gốc cây bóng mát mà ngồi, viên chức thì tìm kiêm chỗ sạch sỗ lịch sự, hoặc trong nhà tả mạc, trải chiếu ngồi ăn tiệc với nhau. Ăn uống đâu đấy, mới vào đình giải tọa nghe hát.

Khoản đãi

- Cỗ bàn khoản đãi làng giao hiếu, hoặc dùng cỗ mặn (có thịt trâu thịt bò) hoặc dùng cỗ chay. Nhưng thường dùng cỗ chay nhiều hơn. Mỗi cỗ có một đĩa mía, một đĩa lạc luộc, một đĩa mứt, một đĩa trám, mơ, nhót, dừa v.v... Trong khi uống rượu, xã sở tại phải cử người mặc áo thụng ra mòi mọc rất là cung kính, mà mòi hạng người nào thì phải cử hạng người ấy, ví như mời hạng bô lão thì cử người bô lão, mời viên chức thì cử người viên chức v.v... Ngồi giải tọa một lúc, reo hoan thanh ba lần (lần trưốc ba tiếng, lần thứ nhì sáu tiếng, lần thứ ba chín tiêng), rồi mới tan.

Các làng giao hiếu, thường hay câu nệ giữ lễ phép vối nhau từng tí. Nếu hơi sai lệ một chút hay là sơ ý một điều gì thì hạch lạc nhau ngay, tức thì giận dỗi đứng dậy. Có khi xã nọ xã kia ganh tị nhau, mà sinh sự đánh nhau đến vỡ đầu sứt tai.

Lễ nhập tịch này cũng đồng ý nghĩ với cách ăn Têt đầu năm, nghĩa là dân mình khó nhọc vất vả quanh năm, thì phải có một dịp ăn uống vui chơi cho giải trí. Vả lại khi xưa nước ta chưa có giao thiệp với ngoại quốc, chỉ có thông thương với nước Tàu ít nhiều, mà cũng không có cách nào cho vui chung. Vậy mới nhân cái tục sùng thượng quỷ thần, bày ra trò này trông nọ, nhưng rút lại chỉ để cầu vui mà thôi.

Tuy vậy mỗi thời một khác, ngày xưa làm nhiều, ăn tiêu ít, dư tiền dư thóc. Bây giò đã mở mang, khắp hoàn cầu toàn là đường đất thông thương, nếu trí khôn ngoan kém đi chút nào là lợi quyền hao hụt đi chút nấy, mà cách ăn tiêu bây giờ lại tôn kém gấp trăm gấp mười khi trước. Người canh nông buôn bán, kiếm được đồng tiền rất khó khăn. Người đi làm thuê làm mướn, kiếm được đồng nào tiêu hết đồng ấy, mấy người có mà đê dư.

Vậy mà ta không biết xoay đôi cách khác, cứ giữ lối cô mỗi năm trong việc sự thần tổn phí biết bao. Tuy vậy việc ấy cũng tùy làng phong kiệrq, tùy năm được mùa mất mùa, có khi gia có khi giảm, nhưng giảm được ít nhiều chớ chưa thấy đâu bỏ được lệ gì. Con em ngoài sự sưu sai thuế má, lo lắng việc cửa việc nhà, lại lo về gánh vác đóng góp vối làng xóm công kia việc nọ, một đồng một tốn, tính dồn lại ke biết chừng nào, trách nào mồ hôi nước mắt quanh năm, mà xơ xác vẫn hoàn xơ xác.

Xét ở luật lệ bản quốc "trong làng hát xướng thờ thần chỉ được phép làm một ngày một đêm, nếu làm quá thì lấy luật vị chế mà luận tội". Đã có luật cấm như thế sao không thấy mấy nơi tuân hành được?

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!