Nghệ thuật hồn nhiên, thời gian phi tuyến

Tự nhiên muốn trẻ con sẽ là trẻ con trước khi trở thành người lớn… Tuổi thơ có cái nhìn, lối nghĩ suy và tình cảm riêng của tuổi thơ.

Jean-Jacques Rousseau

Có những đứa trẻ chơi đùa trên phố lại giải quyết được một số vấn đề vật lý mà tôi đang đau đầu nhất, bởi chúng có những kiểu nhận thức cảm tính mà tôi đã đánh mất từ lâu.

J. Robert Oppenheimer

Chương 10: NGHỆ THUẬT HỒN NHIÊN / THỜI GIAN PHI TUYẾN

Vào nửa sau của thế kỉ mười chín, trước khi các nhà khoa học nhận ra rằng có một cái gì đó nhầm lẫn đến ghê gớm trong các quan niệm của họ về các cấu trúc cơ bản của thực tại, thì đã có một nhóm rất đa dạng các họa sĩ trình bày nhiều chủ đề có nguồn gốc từ thế giới quan của trẻ thơ, người nguyên thủy và châu Á. Những hình ảnh này, tương tự như những hệ thống tư tưởng mà chúng thể hiện, đã vênh so với các niềm tin của châu Âu phương Tây đương thời về không gian, thời gian và ánh sáng. Thế giới quan đầu tiên trong số những cái thay thế ấy là thế giới quan của trẻ thơ.

Kant chính là người đã cho rằng giả định của chúng ta về tính bền vững của các vật thể đã đóng vai trò cơ bản đối với cấu trúc của tư duy, như một tổ chức tiên nghiệm mà trí óc chúng ta tạo ra để nhận thức không gian và thời gian. Tuy nhiên, nhà tâm lý học trẻ em Jean Piaget ở đầu thế kỉ hai mươi đã phát hiện ra rằng khái niệm về một thế giới bao gồm những vật thể bền vững mà sự lâu bền của chúng tồn tại độc lập với các điểm quan sát thay đổi đã không có ở đứa trẻ cho đến khi nó được mười hoặc mười hai tháng tuổi. Đối với một em bé vừa lọt lòng, các vật thể thực sự thay đổi hình, dạng khi chúng chuyển động. Hơn thế nữa, cho đến khi được mười hoặc mười hai tháng tuổi, đứa trẻ tồn tại trong một trạng thái không có thời gian: không gian và thời gian hòa lẫn vào nhau. Chỉ một khi hình dạng của một vật được khắc ghi và ổn định ở trong bộ não đang phát triển của đứa trẻ, thì thời gian và không gian mới cái nào đi theo đường riêng của cái nấy và trở thành hai tọa độ khác biệt nhau. Việc hình thành phạm trù này - thời gian, không gian và tính bền vững của vật thể - đã được ăn sâu trong cảm giác phương Tây đến mức cho tới trước Einstein, không hề có một ai hình dung ra thế giới theo bất kì một kiểu nào khác. Nhưng lý thuyết giản dị mà tinh xảo đến lạ kì của Einstein đặt một điểm nhìn từ một chùm sáng - điều mà người lớn chỉ có thể tưởng tượng ra một cách rất chật vật - lại chính là điều mà tất cả lũ trẻ thơ còn đang nằm trong xe nôi đều cảm nhận được.

Sự tương đồng giữa quan niệm mới mẻ của Einstein về không gian, thời gian và ánh sáng với nhận thức của một đứa trẻ rất nhỏ tuổi đã được Piaget ghi nhận. Trong lời nói đầu cho cuốn Le Développement de la notion de temps chez l’enfant (Sự phát triển khái niệm thời gian ở trẻ thơ) của mình, Piaget có nhắc tới một trao đổi với Einstein. Nhà khoa học vĩ đại hỏi Piaget liệu trực giác chủ quan về thời gian là “trực tiếp hay phái sinh từ cái khác, và liệu nó có gắn kết với tốc độ ngay từ đầu hay không?”. Tính hiếu kì nổi lên, Piaget đã nghiên cứu vấn đề thời gian với sự chú ý đặc biệt tới mối quan hệ giữa thời gian với tốc độ (chuyển động), nhằm cố gắng tạo ra một sự tương đồng có ý nghĩa giữa khái niệm thời gian trong tâm lý học thực nghiệm và việc miêu tả thời gian trong vật lý học. Các kết quả nghiên cứu của ông đã chỉ ra một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những nhận biết thô sơ của một em bé về không gian và thời gian và những nhận biết mà một người quan sát trải nghiệm khi di chuyển với vận tốc của ánh sáng.

Mối quan hệ giữa vật lý học của thế kỉ hai mươi và cái thế giới bên trong sống động của trí tưởng tượng của một đứa trẻ sẽ càng trở nên rõ ràng sau khi chúng ta xem xét một số đặc tính nổi bật khác của thế giới quan trẻ thơ. Một trong nhiều nét đặc thù đáng kinh ngạc phân biệt các quá trình tư duy của đứa trẻ với quá trình tư duy của người lớn là kiểu tư duy “thần kì”. Trẻ thơ làm nhòe đi ranh giới giữa tư duy và hành động, giữa không gian bên trong của trí tưởng tượng và không gian bên ngoài của tính khách quan. Trẻ em lẫn lộn một hành động tự nguyện có chủ định với tính nhân quả. Và vì thế, trẻ em thường nhẹ dạ tin rằng nếu tập trung các năng lực tinh thần bên trong cho một cái đích được khát khao nào đó - cụ thể là cầu mong nó - thì sẽ có tác động đến kết quả của các sự kiện thực tế. Trong tâm trí của mình, trẻ thơ chấp nhận một mức độ cao của tính chủ quan khi nhìn nhận thế giới bên ngoài.

Tôi cho rằng trong hiểu biết của chúng ta về phép mầu, tương tự như nhiều điều khác, lịch sử văn minh nhân loại đã tiến diễn song song như sự phát triển của một đứa trẻ. Trước thế kỉ thứ sáu trước CN, tất cả các nền văn minh đều tin vào tính chủ quan của các sự kiện xảy ra. Con người có một niềm tin chung rằng các thần thánh hoặc ma quỷ đã can thiệp vào công việc của họ, dẫn đến việc họ nghĩ ra các nghi thức tế lễ có liên quan mà nhiều nghi thức ấy thể hiện sự cầu mong chung của tập thể. Niềm tin cho rằng một buổi lễ có thể chấm dứt một nạn hạn hán hoặc chữa khỏi một bệnh dịch phụ thuộc vào các giá trị văn hóa và tôn giáo.

Rồi như chúng ta đã biết, một hệ thống mới dựa trên tính khách quan đã xuất hiện ở Hi Lạp cổ đại. Bằng việc đưa ra sự nghi ngờ duy lí, người Hi Lạp bắt đầu cái nhiệm vụ khó khăn là tách vũ đài của khoa học ra khỏi lãnh địa của phép mầu. Việc họ phát hiện ra rằng thế giới là có trật tự và trật tự của thế giới có thể quy giản về các con số là một chiến thắng của bán cầu não trái thuộc về logic, và họ đã tung hô vị thế của nó, trong khi hạ thấp những trầm ngâm trực giác của bán cầu não phải. Những nhà triết học buổi đầu, khi cố gắng giải thoát trí tuệ ra khỏi quá khứ nồng nàn tâm tình của nó, đã có đủ lý do để không tin vào các xúc cảm, linh tính và tính khó tiên đoán đến lạ lùng của phần bộ não già hơn. Cicero, nhà hùng biện kiêm triết gia thế kỉ thứ nhất, nhìn lại cái thời điểm quyết định này trong lịch sử và cho rằng Socrates chính là nhà tư tưởng có ảnh hưởng đầu tiên trong việc tách trí tuệ ra khỏi trái tim, hay theo như cách nói của chúng ta ngày nay, tách bán cầu não trái ra khỏi bán cầu não phải.

Suy nghĩ theo phép mầu là phản đề của lý trí. Bởi vì trẻ em không có khả năng tách biệt hai phạm trù của Descartes là res extensa (cái bên ngoài) và res cogitans (cái bên trong), nên trẻ em đặt niềm tin của chúng vào thế giới giống như thật của các giấc mơ, huyền thoại và truyện cổ tích. Nhà tâm thần học Carl Jung đã khảo sát những dòng chảy vọt lên từ tầng đất ngầm tâm thần này và cho rằng các nguyên mẫu anh hùng cả nam lẫn nữ cũng như lũ yêu quái ma quỷ có đầy trong cuộc sống tinh thần của trẻ cũng phát sinh từ cái ao chung đó. Mặc dù Jung tin rằng quyền lực của chúng vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới chúng ta trong suốt cuộc đời ở một tầng sâu của tiềm thức, nhưng niềm tin thực sự của chúng ta đối với chúng đã dần dần loãng đi trong quá trình chúng ta lớn lên. Tần số và cường độ của các giấc mơ và các cơn ác mộng nói chung là giảm dần theo năm tháng, và hầu hết người lớn chúng ta đều công nhận ngay rằng những hiện tượng phụ này đã bớt đi tính sinh động và mạnh mẽ như hồi ta còn ấu thơ. Để được công nhận là người lớn, mỗi một con người chúng ta phải từ bỏ niềm tin của mình vào Cô tiên Răng đã đem đến cho ta những chiếc răng, Người Cát rắc cát vào mắt ta để ta đi ngủ, và cả Ông già Noel nữa.

Van Gogh có lần đã viết: “Mỗi đứa trẻ nằm nôi đều có cái vô hạn ở trong mắt nó”. Nhưng trong diễn tiến của quá trình xã hội hóa hiện đại, cái vô hạn đó đã bị cái hữu hạn thay thế. Cha mẹ, thầy cô giáo và những người lớn khác đã liên tục và mạnh mẽ khuyến khích trẻ phải loại bỏ những gì trẻ con và chấp nhận những nguyên lý của cái hình mẫu đang ngự trị. Quá trình này diễn ra một cách nghiêm chỉnh ở nền văn minh phương Tây, khi đội quân của Cadmus đã được phái đến tấn công vào tâm trí của bé từ lúc bé còn đang ở nhà trẻ.

Trong huyền thoại Hi Lạp về nguồn gốc của các chữ cái, hoàng tử Cadmus của xứ Phoenicia, sau này là vua thành Thebes, đã giết một con mãng xà khủng khiếp và chôn những cái răng độc sắc nhọn của nó xuống đất. Rồi sau đó, từ những cái răng bị chôn ấy, nảy vọt lên một đội quân dũng mãnh. Hình ảnh quân sự này rất phù hợp, bởi vì một hàng răng đều đặn rất giống một hàng quân tăm tắp diễu hành, lại cũng giống một hàng chữ của bảng chữ cái.

Bảng chữ cái theo trật tự tuyến tính và những chiến hữu không kém cạnh của nó là các con số, đã được thả ra như những tên lính phá hủy niềm tin của trẻ thơ về một không gian gián đoạn và một thời gian nhuốm đầy huyền thoại. Sau chiến thắng của mình, bảng chữ cái và các con số đã áp đặt một trật tự mới phù hợp với những lời dạy cơ bản của Euclid và Aristotle. Quá trình này xảy ra ở phương Tây ở vào một tuổi bất khả tự vệ của một đứa trẻ không thể biết cái gì đang xảy ra cho đến lúc, tất nhiên, mọi cái đã là quá muộn. Một khi đã bắt đầu, “sự giáo dục” tiếp tục lạnh lùng tiến lên các cấp độ cao hơn với các bài giảng dạy chính thức về hình học và logic. Vì đã lấn át, nên ngôn ngữ, toán học và logic loại bỏ phép mầu ra khỏi cuộc sống đứa trẻ; và đến đầu độ tuổi hoa niên, lý trí đã đứng đó chiến thắng những gì còn sót lại nhạt nhòa teo tóp của các niềm tin vốn đã từng mãnh liệt ở thuở ấu thơ - tin vào những điều kì diệu, bí ẩn và huyền ảo. Coleridge viết: “Tôi là một đứa trẻ tuyệt vời nhưng rồi người ta đã thay đổi tôi”. Cái giá mà chúng ta phải trả để suy nghĩ theo kiểu người lớn là sự đánh mất con mắt nhìn thế giới một cách trong trẻo, thơ ngây. Hầu hết chúng ta đã không bao giờ ngoái lại, bởi con đường đã bị cây cỏ lấp lối và ta đã từ bỏ hi vọng có thể quay trở về.

Một phẩm chất nữa phân biệt con trẻ với người lớn là cái khát khao của trẻ được tham gia vào những trò chơi mà mục tiêu cuối cùng của chúng là một khái niệm kì diệu gọi là “vui vẻ”. Người lớn có những “trò chơi” được hệ thống hóa thành các trình tự liên quan đến việc đua tranh, bao gồm từ các môn thể thao có tổ chức đến các cuộc chiến, mang những mục tiêu cụ thể, rõ ràng hơn: tiền bạc, tình dục hay quyền lực. Niềm sung sướng, sự vô tư buông thả khi chơi một trò chơi mà mục tiêu có chủ đích của nó chỉ là để vui vẻ, đã không còn nữa ở người lớn. Nhận biết rõ nỗi mất mát từ ơn thiên phú ấy, người lớn thường phải tìm đến ma túy hay rượu để lấy lại cái cảm giác cốt lõi của một niềm vui mà không cần có mục tiêu rõ rệt. Vui vẻ, tất nhiên, sẽ không hề có sự giải thích hoặc biện minh logic nào, vui vẻ chỉ là… vui vẻ. Cái trạng thái bên trong gọi là “vui vẻ” ấy có biểu hiện ra ngoài là tiếng cười, được Wyndham Lewis gọi là “cái hắt hơi của tâm trí”. Cười là hành vi độc nhất vô nhị, chỉ phát triển ở loài homo sapien chúng ta.

Một tính cách phổ quát nữa của tuổi thơ là niềm thôi thúc muốn tạo ra nghệ thuật. Mọi em bé sinh ra đều có khát khao muốn tái tạo thế giới theo cách riêng của chúng. Cái động cơ mãnh liệt nhằm tạo ra nghệ thuật này từ trước đến giờ luôn trở thành một cách áp đặt trật tự lên những mảnh còn rời rạc của thế giới quan đang hình thành của trẻ. Trừ một số ngoại lệ ít ỏi, còn đối với một đứa trẻ, những câu chuyện thần kì và nghệ thuật luôn là niềm vui. Nghệ thuật đã chuyển sự tò mò và niềm ngạc nhiên thành sự làm chủ môi trường xung quanh.

Ở phương Tây, trong thế giới của người lớn, chất liệu của các giấc mơ, những nghĩ suy theo phép mầu, các trò vui chơi, cười đùa và niềm khao khát tái tạo lại thế giới theo cách riêng của mình đã bị bó hẹp lại, Xót xa cho mất mát này, một số nhà khoa học đã thúc giục đồng nghiệp của mình hãy giữ lại niềm ngạc nhiên trẻ thơ trước sự vật. Hans Selye, một nhà khoa học được giải Nobel đã viết:

“Điều tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể cảm nhận được là sự ngỡ ngàng trước cái bí ẩn. Đó là tình cảm cơ bản đứng cạnh cái nôi sản sinh ra khoa học đích thực. Kẻ nào không biết đến nó, không còn có thể ngạc nhiên băn khoăn, không còn cảm thấy sửng sốt, thì chắc chắn là đã chết rồi. Tất cả chúng ta đều đã có cái tài năng vô giá này thuở còn trẻ. Nhưng rồi thời gian trôi đi, nhiều người chúng ta đã đánh mất nó. Nhà khoa học thực thụ thì không bao giờ để mất năng lực biết sửng sốt. Nó chính là cốt lõi cho sự tồn tại của anh ta”.

Mẫu hình Newton đã không ăn khớp với bất kì tiêu chí cơ bản nào trong các hệ thống suy nghĩ của trẻ thơ. Để chấp nhận những nguyên lý trong cuốn Những nguyên lí năm 1687 của ông, người ta tuyệt đối cần phải vứt bỏ toàn bộ các nét đặc trưng của thế giới trẻ thơ. Không có gì phải ngạc nhiên khi thế giới nói chung đã coi Newton là một người khắc kỉ. Vậy mà cũng thật trớ trêu, chính Newton lại đã giữ được cho mình một niềm tò mò và con mắt nhìn đời như trẻ thơ. Ông coi mình như một đứa bé trong một trò chơi:

“Tôi không biết mình nom sẽ ra sao trước thế giới này; nhưng đối với bản thân, có vẻ là tôi chỉ như một chú bé nghịch chơi trên bờ biển, bỏ công ra lúc thì tìm thấy một hòn cuội nhẵn nhụi hơn, lúc thì nhặt được một vỏ sò lấp lánh khác thường, trong khi cả một đại dương chân lý đang nằm nguyên chưa hề được khám phá trước mặt tôi”.

Nói những lời này, trái với bản tính của mình, Newton đã để lộ ra một phương diện riêng tư khác của con người ông. Trong một thời gian dài, việc áp chế đối với cách nhìn thế giới như trẻ thơ đã hoàn chỉnh đến mức chính quan niệm cho rằng tuổi thơ là một giai đoạn rõ ràng trong sự phát triển của con người thậm chí không hề được công nhận. Không ở đâu, cái điểm mù ấy lại hiển hiện rõ rệt như ở trong nghệ thuật.

Trước những năm 60 của thế kỷ mười chín, trong nghệ thuật phương Tây, người ta dễ dàng nhận thấy không hề có hình ảnh riêng của những đứa trẻ. Ở chủ đề Cơ đốc giáo khắp mọi nơi về Đức Mẹ và Chúa Hài đồng, hình ảnh đứa bé là một nửa của cái cặp bổ sung cho nhau này. Trừ các chân dung đặt vẽ của những gia đình quyền quý, rất ít tranh chỉ thuần túy thể hiện trẻ con và hoàn toàn không có bức tranh nào miêu tả chúng đang chơi đùa mà không có người lớn. Vào giai đoạn đầu của thời kì Phục hưng, bất chấp sự tinh tế rõ ràng và kĩ thuật bậc thầy là đặc điểm của nghệ thuật của thời kì này, các họa sĩ Bắc Âu đã thành danh đều nhất nhất tuân thủ զսy phạm của thời đại mình, họ miêu tả hài nhi và trẻ con không theo những tỉ lệ giải phẫu tự nhiên của chúng, mà như những người lớn thu nhỏ lại.

Từ thời Phục hưng trở đi, các họa sĩ đã vẽ trẻ con dưới hình thức các tiểu thiên sứ có cánh và trẻ vị thành niên là những nam nữ khỏa thân khêu gợi - thực sự là các thanh niên đã trưởng thành. Đại diện của loài người nằm ở độ tuổi từ năm đến mười lăm bị thiếu vắng. Sự vắng mặt lạ lùng này có thể được hiểu như một manh mối để thấy rằng trong văn hóa của châu Âu thời Phục hưng, các giá trị của trẻ em đã bị chế áp mạnh mẽ.

Cho đến khi có nghệ thuật hiện đại, thì chủ đề trẻ em mới bắt đầu xuất hiện một cách nhất quán như một tiêu điểm đơn độc, trung tâm và duy nhất của hội họa. Édouard Manet đã đưa chúng vào trong các tác phẩm Chú bé với thanh kiếm (không minh họa trong sách này) và Chú bé thổi sáo (1866) của ông (Hình 10.1). Các họa sĩ trường phái Ấn tượng như Pierre-Auguste Renoir và Edgar Degas đã chọn những em bé đơn độc làm chủ đề cho nhiều tác phẩm hội họa của mình, Renoir thì thích thú trước vẻ trong trắng của tuổi thơ, còn Degas thì chọn trẻ em làm đối tượng nghiên cứu trong một thế giới người lớn. Đặc biệt, Pablo Picasso đã nhất quán thể hiện những tuổi đời từ năm đến mười lăm của trẻ em vốn bị khuyết thiếu, trong cả hai giai đoạn Xanh lam và Hồng của mình. Mặc dù chủ điểm của các tác phẩm ấy là con trẻ, nhưng việc thực hiện những tác phẩm ấy không hề giống trẻ con chút nào. Tất cả các họa sĩ nói trên đều đã sử dụng các kĩ năng rèn luyện được từ một nền giáo dục chính thức theo truyền thống hàn lâm. Các chuẩn mực khắt khe ấy đã ăn sâu trong cung cách thường thức nghệ thuật chung đến mức việc công chúng chấp nhận một họa sĩ không những chỉ sử dụng các chủ đề về trẻ trong nghệ thuật của mình mà còn áp dụng cả những kĩ thuật vẽ của một đứa trẻ đã trở thành một điều ngạc nhiên đến khó hiểu.

46646.jpeg

Hình 10.1. Édouard Manet, Chú bé thổi sáo (1866). BẢO TÀNG D’ORSAY, PARIS

Boy-on-the-rocks.jpeg

Hình 10.2. Henri Rousseau, Chú bé trên các tảng đá (1895-1897), PHÒNG TRANH NGHỆ THUẬT QUỐC GIA, WASHINGTON DC. BỘ SƯU TẬP CỦA CHESTERDALE

Henri Rousseau, một viên chức hải quan về hưu (vì thế mới có tên Le Douanier - ông Nhà Đoan) và một họa sĩ tự học, đã tạo ra trong những năm 80 của thế kỉ mười chín các tác phẩm có chủ đề về trẻ em và phong cách của trẻ thơ. Kiểu nhìn thế giới qua con mắt của một đứa trẻ đã không hề có trong các tác phẩm của những nghệ sĩ nổi tiếng trong các thời kì Hi Lạp, La Mã, Phục hưng và hàn lâm. Rousseau đã phá thủng cái bức tường kĩ thuật phức tạp tinh vi là ranh giới phân biệt chủ yếu giữa một nghệ sĩ trẻ con và một bậc thầy hội họa người lớn. Ông đi theo bản năng của mình về phép phối cảnh, vẽ những cây cối rậm rì sum sê từ trí tưởng tượng, chọn chủ đề từ các giấc mơ của mình. Điều tạo nên sức cuốn hút cho tác phẩm của Rousseau chính là cảnh tượng thế giới của ông không những chỉ là cảnh tượng nhìn qua con mắt của một đứa trẻ, mà còn thực sự như được một đứa trẻ vẽ nên, dù đó là một đứa trẻ rất khéo léo giỏi giang.

Bản thân Rousseau không biết gì đến những trò mưu mẹo. Hoàn toàn ngây thơ không biết gì trước những nụ cười khinh miệt của các họa sĩ khác, ông chở các bức tranh của mình trên một chiếc xe cút kít đem đến phòng triển lãm. Khi lần đầu tiên nhìn thấy các tác phẩm của Cézanne, ông đã thật thà đề nghị để ông “hoàn thiện” chúng. Một lần ông đã chúc mừng Picasso, nói rằng hai người họ chắc chắn là hai họa sĩ vĩ đại nhất của thế giới. Theo Werner Haftmann, Rousseau là người hoàn toàn bị mê hoặc bởi phép mầu của chính mình. Ông hoàn toàn lạc mất bản thân trong cái thế giới tranh của mình, đến mức đôi khi ông phải mở toang cửa sổ để trốn khỏi những con mắt đang chằm chằm nhìn từ đám cây cối thời tiền sử trong khu rừng huyền thoại lạ lùng mà ông đã tạo ra”.

Thật oái oăm về mặt thời điểm, hình mẫu thế giới của trẻ em lại nổi lên trong nghệ thuật đúng vào lúc quan điểm cơ học của Newton về thực tại đang thắng thế nhất. Biểu tượng âm dương của người Trung Quốc là một thể hiện đồ họa về mối quan hệ này giữa hai nguyên lý đối lập. Quan điểm đối lập ngập ngừng xuất hiện lần đầu tiên khi cái tương phản bổ sung cho nó đang ở đỉnh cao quyền lực.

Thật thích hợp làm sao khi đúng vào lúc trước khám phá của Einstein, một nghệ sĩ hồn nhiên như Rousseau, người mà tranh của ông có thể lấy làm khung cảnh cho các câu truyện cổ tích người mà vẫn thường bóp méo các hình dạng, lại được ngợi ca là có đóng góp quý giá cho nghệ thuật bằng cách nhìn thế giới của mình! Sẽ là rất thú vị nếu ai đó thử mường tượng ra cảnh tác phẩm của Rousseau sẽ được tiếp nhận ra sao tại triều đình của Lorenzo de Medici[1]. Khi ấy, các nhà Nhân văn đang tuyên bố rằng con người là thước đo của mọi vật. Trong một thời gian dài, trẻ em đã không hề được tin tưởng dùng làm tiêu chuẩn để đo cái gì cả.

Sau khi các bức họa quyến rũ và hồn nhiên trẻ thơ của Rousseau ra đời gặp được thành công, các nghệ sĩ khác mới để ý thấy rằng dù mĩ thuật nghiêm túc có ghi chép, phản ánh, điểm tô cuộc sống đến thế nào đi chăng nữa, nó vẫn không phải là “vui vẻ”. Thậm chí ngay trong những bức tranh mô tả phong cảnh trong đó con người, thần thánh, tiểu tiên đồng đang nô đùa, thì việc ngắm nhìn thứ nghệ thuật ấy cũng không thể coi là một hoạt động mà tự nó hoặc từ nó có niềm vui thú. Nghệ thuật là một việc nghiêm túc. Và khi thế kỉ mười chín kết thúc, nhiều họa sĩ bắt đầu đưa các yếu tố vui tươi trẻ thơ vào trong tác phẩm của mình.

Jacques Villon (anh của Marcel Duchamp) là một trong những người sáng lập ra Hội các họa sĩ biếm họa vào năm 1904. Chẳng bao lâu sau, Marcel cũng tham gia với anh mình và định ra một khái niệm mới về sự hài hước trong nghệ thuật tạo hình. Các họa sĩ biếm họa, trước đó được gọi là các tay vẽ trào lộng hay nhái lại, từ đấy trở đi đã đòi quyền được gọi là các nhà hài hước. Kết quả là truyện tranh hài hước hiện đại đã ra đời - một hình thức nghệ thuật tương tác trong đó người xem thực sự bật cười trong khi nghiền ngẫm thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật.

Cùng một mạch tương tự, Marcel Duchamp - mà tác phẩm sẽ được bàn đến một cách đầy đủ hơn ở Chương 15 - đã thể nghiệm những hình thức có vẻ đơn thuần là những trò đùa nhả thông minh. Có lần ông đã đem cả một cái bô đi tiểu mua từ cửa hàng bản đồ kim khí gia dụng đưa đi nộp vào một cuộc thi nghệ thuật, tuyên bố rằng bởi vì ông là nghệ sĩ, nên bất kì cái gì ông nói là nghệ thuật, sẽ là nghệ thuật. Lần khác, ông vẽ thêm bộ ria lên một phiên bản của bức Mona Lisa thiêng liêng bất khả xâm phạm, rồi đặt tên cho tác phẩm của mình là LHCOQ, những chữ cái này khi phát âm lên theo tiếng Pháp có nghĩa là “Nàng ta có cặp mông nóng bỏng”.

Những cố gắng thuở ban đầu này nhằm đưa vui đùa vào trong nghệ thuật đã bùng lên thành tràng cười đến rụng cả rốn trong phong trào Dada, nổ ra vào năm 1916, ở một nơi ít ai ngờ nhất là thành phố Zurich trang nghiêm bình lặng. Các nhà thơ, họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà viết kịch gắn bó với trào lưu này đã lý tưởng hóa hành vi của trẻ con, cái mà họ đã nỗ lực để mô phỏng. Họ tin rằng hệ thống niềm tin của một đứa trẻ còn có lý hơn hệ thống của người lớn, bởi vào thời điểm đó, hệ thống sau đang phải vất vả tự thoát ra khởi những chiến hào ác nghiệt của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Có một điều mà các nghệ sĩ theo phong trào Dada không hề hay biết, và nếu biết được chắc chắn họ sẽ tán thưởng, cho đó là một trò đùa khổng lồ mang tầm vũ trụ, là chỉ cách vài phố từ quán Café Voltaire ở Zurich, nơi tụ họp của họ, Albert Einstein cũng trong năm đó đang thực hiện những nét hoàn thiện cuối cùng cho thuyết tương đối rộng của ông. Lí thuyết vĩ đại thứ hai này của Einstein giải thích sự bí ẩn của lực hấp dẫn. Và thậm chí còn hơn cả thuyết tương đối hẹp, nó sẽ phá tan tành thành trì các khái niệm của người lớn về thực tại.

Sau khi phong trào Dada tàn lụi, một nghệ sĩ khác đã xuất hiện và vẽ với một phong cách gợi nhớ đến kì quặc về tuổi thơ. Họa sĩ người Thụy Sĩ Paul Klee đã sáng tạo ra một tổng thể tác phẩm về kích thước, quy mô và nội dung là thông minh, đầy trí tuệ, nhưng cũng tràn trề vẻ thơ trẻ tươi mới. Klee đã công nhận món nợ với đứa trẻ ở trong mình khi ông viết: “Hệt như một đứa bé con bắt chước chúng ta khi nó chơi, chúng ta trong cuộc chơi của mình lại bắt chước các lực lượng đã sáng tạo và đang sáng tạo ra thế giới này”.

Dù cho sự tồn tại của một đứa trẻ có vẻ như ở một khoảng cách rất xa các phương trình của Einstein, nhưng Einstein đạt được những hiểu biết thấu suốt đến như vậy bởi vì nguyên gốc, từ khi còn là một đứa trẻ, ông đã hồn nhiên đặt ra được câu hỏi về chùm sáng của mình, câu hỏi mà không một người lớn nào đã từng nghiêm túc xem xét đến. Henry Le Roy Finch, một trong các nhà viết tiểu sử về Einstein đã đề cập chi tiết hơn về mối quan hệ này:

“Người ta đã từng nói rằng lương tri là đặc quyền của người tốt, và kẻ xấu bị tiêu diệt vì chúng thiếu nó. Chúng ta có thể tự hỏi liệu có cái gì đó tương tự như thế áp dụng đối với chân lý hay không - rằng chân lý là đặc quyền chỉ có được ở người giản dị, và chỉ có những người nào theo một ý nghĩa nhất định nào đó, không hề mưu mẹo ma mãnh, mới có thể có khả năng nhận biết chân lí. Trong trường hợp của một người như Einstein, chúng ta không lý giải nổi, nhưng cảm thấy rằng chắc chắn có một mối liên hệ bên trong tất yếu giữa tính đơn giản đến phi thường về mặt lý thuyết trong công trình của ông với bản chất giản dị của chính con người ông. Chúng ta cảm thấy rằng chỉ có một người nào đó bản thân phải giản dị đến thế thì mới có thể nghĩ ra nổi những ý tưởng như vậy”.

Một trào lưu khác thường trong cái thế kỉ mười chín mang tính quyết định luận ấy, là sự xuất hiện đầy nghịch lý của các câu truyện cổ tích được viết thành văn. Đầu tiên là bộ sưu tập truyện cổ dân gian của anh em nhà Grimm, xuất bản năm 1812-1822, rồi đến các câu chuyện thần tiên thú vị của Hans Christian Andersen tiếp nối ra đời năm 1835. Thần thoại, truyện tưởng tượng và các lực lượng siêu nhiên đã chuẩn bị cho sự chào đón tức thì và nồng nhiệt một loại truyện trẻ con khác hẳn - đó là cuốn Alice ở Xứ Sở Thần Kì. Năm 1865, bốn mươi năm trước khi thuyết tương đối hẹp dỡ tung toàn bộ mẫu hình đang tồn tại về thực tại, một nhà toán học ở trường Cambridge tên là Charles Dodgeson, với bút danh Lewis Caroll, đã cho xuất bản tác phẩm kinh điển ấy của mình. Ông viết ra cuốn truyện tinh nghịch này để tặng cho cô con gái út của một đồng sự. Nhân vật chính của câu chuyện, cô bé Alice, đã lạc vào một thế giới trong đó sự biến dạng của không gian, thời gian và tính không bền vững của các vật là một phần không thể tách rời của câu chuyện. Những thay đổi khác thường mà Alice phải chịu khi cô bé thí nghiệm với các món đồ ăn khác nhau đã tạo ra những biến dạng về thị giác giống đến kì lạ so với tính đàn hồi của người và vật trong các điều kiện mà vận tốc tiến đến c. Trong không-thời gian, không hề có khoảng nào để đi xuyên qua đó cả, ở Xứ Sở Thần Kì cũng như vậy, Nữ hoàng Đỏ đã nói với Alice: “Bây giờ, tại đây, nhà ngươi sẽ thấy: nhà ngươi phải cắm đầu cắm cổ chạy hết sức, để ở y nguyên một chỗ”. Lời lẩm bẩm chán chường của chú thỏ trong câu chuyện Qua chiếc gương soi “Mình càng chạy nhanh bao nhiêu, thì mình lại càng bị tụt lại bấy nhiêu” đã tóm tắt điều kiện của không-thời gian tại vận tốc ánh sáng một cách không còn gì cô đọng hơn thế nữa.

Trong Xứ Sở Thần Kì, các quy luật nhân quả của trình tự tiếp nối đã thường xuyên bị vi phạm. Khi Nữ hoàng Đỏ quát lên: “Trị tội trước, phán quyết sau”, thì người đọc được biết rằng quan điểm của người quan sát là tối quan trọng đối với tính tương đối của chân lí. Khi Humpty Dumpty khẳng định: “Khi tớ dùng một từ nào đó, thì nó có cái nghĩa đúng như cái nghĩa mà tớ muốn nó có”, là chú đã khẳng định tính tương đối về điểm nhìn của mỗi một người quan sát, còn Dodgson đã đặt vấn đề nghi ngờ khả năng diễn đạt nổi chân lý tuyệt đối của ngôn ngữ thường ngày. Tính phi lý của nhiều sự kiện trong câu chuyện tưởng tượng của Dodgson cũng tương đồng với những mặt phi logic của cơ học lượng tử - một cuộc cách mạng khác trong vật lý vào những năm đầu của thế kỉ hai mươi. Trong thế giới quan kì ảo của trẻ thơ, hành động cầu mong chủ quan có thể ảnh hưởng tới những thay đổi ở thế giới khách quan “ngoài kia”. Quan niệm của Einstein về tính tương đối và quan niệm sau đó của cơ lượng tử đã khẳng định rằng: việc quan sát và các suy nghĩ của người quan sát đã thâm nhập vào những tính toán và các phép đo thế giới “thực”. Con trẻ chơi đùa, nghệ sĩ làm việc và nhà khoa học đo đạc các hiệu ứng lượng tử - tất cả đều có một điểm chung, đó là tất cả đều đang sáng tạo ra thực tại.

Cái nhìn từ nôi trẻ thơ và thế giới tưởng tượng của trẻ em là phản đề của cả tâm thức suy nghĩ theo kiểu Newton lẫn chủ nghĩa hiện thực kinh viện. Công chúng thời Nữ hoàng Victoria, những người đã chế áp các giá trị của trẻ em, đâm ra bối rối trước sự xuất hiện của các giá trị ngây thơ trong nghệ thuật và văn học. Họ đã không thể biết được rằng chẳng bao lâu sau đấy mọi người sẽ phải tưởng tượng quay lại tận tuổi ấu thơ để mong hiểu nổi những biến dạng theo kiểu gương nhà cười của không-thời gian. Thật hài hước là những biến dạng ấy lại được Alice của Dodgson hình dung ra dễ dàng hơn so với bố mẹ của cô bé.

Chú thích

  1. Lorenzo de Medici, còn được gọi là "Lorenzzo Huy hoàng" (1449-1492): Chính khách, nhà thơ, học giả người Italia, trị vì Florence (1469-1492), nhà bảo trợ đầu tiên của Michelangelo. - ND

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!