Nghệ thuật, vật lý

Nguyên sơ hơn bất kì một ý niệm nào khác, cái đẹp sẽ thể hiện ra là sứ giả và người sản sinh ra các ý niệm.

Teilhard de Chardin

Nghệ sĩ là người mà trong bất kì lĩnh vực nào, khoa học hay nhân học, đã nắm được những hàm ý các hành động của mình và của sự hiểu biết mới ở chính thời đó. Anh ta là con người của sự hiểu biết toàn vẹn.

Marshall McLuhan

Chương 29: NGHỆ THUẬT / VẬT LÝ

Trước khi lý trí bắt đầu nổi lên lấn át bá quyền của thần thoại trong Hi Lạp cổ đại, thì đã có một vị nữ thần bảo hệ cho kiến thức thực tiễn là Techne, từ cái tên này mà chúng ta có được từ technique “kĩ thuật”, chứa đựng trong nó ý niệm về quá trình khảo cứu khoa học từng-bước-một. Tuy nhiên, một trong số các từ của tiếng Hi Lạp mang nghĩa “nghệ thuật” lại cũng là techne, bởi vì nàng cũng là nữ thần của nghệ thuật, và động từ tikein (“sáng tạo”) của tiếng Hi Lạp cũng có nguồn gốc từ tên của vị nữ thần đó. Techne đã là niềm cảm hứng cho cả khoa học lẫn nghệ thuật.

Khoa học, tập quán và trực giác tất cả đều công nhận não phải là bên của nghệ thuật. Bên phải - nghệ thuật - không gian chủ yếu thuộc về một bán cầu. Vậy mà, tuy nghệ thuật được nung nấu và thậm chí lấy nguồn cảm hứng theo phong cách tổng hợp, toàn bộ, tất-cả-tức-thì, nhưng công việc thực sự để soạn nên một bản nhạc, vẽ ra một bức tranh hay nặn thành một pho tượng lại là của não trái. Nó phải xảy ra lần-lượt-từng-bước-một và phụ thuộc vào một kĩ thuật theo một chuỗi trình tự. Xưởng tạo tác ra nghệ thuật nằm ở đâu đó trong não trái, nhưng các trụ sở của trung tâm thiết kế hay văn phòng sáng tạo thì lại nằm trong não phải.

Bên trái-vật lí-thời gian cũng trú ngụ chủ yếu ở một bán cầu não. Hệt như nghệ thuật cần có chuỗi trình tự của bên-trái, vật lý cũng phụ thuộc vào niềm cảm hứng từ bên-phải. Các nhà vật lý có viễn kiến vượt thời đại mình thường kể lại rằng những tư tưởng siêu việt ấy của họ đã nảy ra trong một chớp sáng của trực giác: một sự hiển linh bất thần, phi rời rạc, phi logicđích thực. Trong những trường hợp này, lao động gian nan để định hình trực giác thành ngôn ngữ của các chứng minh toán học chỉ xảy ra sau ý tưởng. Einstein đã diễn tả điều này khi ông nói: “Phát minh không phải là sản phẩm của tư duy logic, mặc dù sản phẩm cuối cùng được gắn chặt với một cấu trúc rất logic”. Bất chấp những giao cắt như vậy, khuôn khổ của vật lý vẫn bao gồm các phương trình đại số, trừu tượng và theo trình tự. Cơ sở hạ tầng của nó là logic và con số, cốt lõi của nó là một đường thời gian. Mặc dù người ta không thể gắn hoàn toàn một thứ rộng lớn và đầy tính sáng tạo như lĩnh vực vật lý chỉ cho một bên của não, nhưng hoạt động vật lý được dẫn động bởi các phương trình phức tạp đã được xử lý phần lớn trong bán cầu trái của não, bán cầu phụ thuộc thời gian và có khuynh hướng khoa học.

Suốt cuốn sách này, tôi đã cung cấp nhiều minh họa về năng lực tiên báo của nghệ thuật, chứng minh rằng nghệ sĩ đã thường xuyên hình dung ra được các hình ảnh đầy tính cách mạng, trước khi các nhà vật lý thiết lập nên những cấu hình mới mẻ, vượt tầm nhìn thời đại về thế giới như thế nào. Thậm chí ngay cả khi các nghệ sĩ và các nhà vật lý tình cờ cùng đi đến các hình dung ấy, hoặc ngay khi những lời giải thích của nhà vật lý vượt trước các hình ảnh trong tác phẩm của nghệ sĩ, thì các nghệ sĩ nói chung đã và tiếp tục sẽ không hề biết gì về những khám phá của các nhà vật lí. Như chúng ta đã thấy, một số những ví dụ gây bàng hoàng nhất về nghệ thuật mang tính cách mạng sâu sắc trong lịch sử phương Tây đã được thực hiện ở ngưỡng cửa thế kỉ hai mươi, khi hai lĩnh vực vật lý vừa xuất hiện làm thay đổi cả hệ thống tư duy, là thuyết tương đối và lý thuyết lượng tử. Thế giới ngày nay của chúng ta - đầy máy tính, tia laser, tàu thăm dò vũ trụ, bán dẫn và năng lượng hạt nhân - đã khẳng định sức mạnh vĩ đại của những tiên đoán ẩn chứa trong hai lý thuyết ấy. Tuy nhiên, hầu hết các thành viên trong xã hội đương đại lại chưa suy ngẫm về những hệ quả sâu xa mà hai lý thuyết ấy đem lại cho niềm tin của họ trong thực tại thông thường này. Vật lý mới giờ đây nằm như một hạt đậu bên dưới tấm nệm tập thể của loài người, nó khuấy động giấc ngủ an bình của họ, đủ để làm thay đổi cái cách mà con người suy nghĩ về thế giới. Nghệ thuật đã ở đó từ trước để thổi vang lên hồi kèn lanh lảnh cảnh báo về cơn stress kĩ thuật sẽ đến.

Một đặc tính của bán cầu não phải bị bôi bác ghê gớm cho đến tận bây giờ là khả năng nhìn thấy trước được tương lai của nó. Hệ hình mẫu Newton, tôn vinh năng lực dự báo logic kiểu Prometheus và Apollo, đã để sót, đã bỏ qua, thậm chí xem thường những phương cách dự báo kiểu Dionysus dưới dạng linh cảm, trực giác và sự sáng suốt. Giờ đây, từ cái một thời dường như là ngóc ngách không ngờ tới nhất, vật lý đã xác nhận sự tồn tại của một nơi vốn là giả thuyết, mà từ đó chuyện này dự báo có thể xảy ra: đó là continuum không-thời gian. Như đã nhắc đến nhiều lần trong cuốn sách này, không một vật thể nào ở dạng vật chất có thể di chuyển được với tốc độ ánh sáng, tất nhiên, đây là điều kiện tiên quyết, để “nhìn thấy” không-thời gian. Thất bại lặp đi lặp lại của khoa học trong việc ấn định bản chất của trí óc đã nằm trong lời biện bạch rằng trí óc không phải là một dạng vật lí, một chất liệu, một vật thể, một lực hay trường nào và vì thế, nó nằm bên ngoài phạm vi của khoa học. Trong bộ não động vật có vú ba chiều hạn hẹp của mình, chúng ta không có được một khuôn khổ để khái niệm hóa về trí óc cũng như continuum không-thời gian. Nhưng biết đâu, đấy chính lại là manh mối chỉ ra rằng chúng có liên hệ với nhau.

Một người nào đó có thể nhìn được không-thời gian sẽ thấy rằng toàn bộ các sự kiện mà trong thế giới ba chiều tầm thường của chúng ta hiện ra theo cách tuyến tính, thì lại xảy ra cùng một lúc, tức là tất-cả-tức-thì. Khi bàn đến thuyết tương đối, các nhà vật lý bắt đầu nói năng nghe cứ như các pháp sư, Louis de Broglie viết:

“Trong không-thời gian, mọi cái mà đối với mỗi chúng ta tạo nên quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ được cho thành khối; và toàn bộ tập hợp các sự kiện, mà đối với chúng ta là sự tiếp nối nhau tạo nên sự tồn tại của một hạt vật chất, sẽ được biểu diễn bằng một đường, đường vũ trụ của hạt đó… Theo thời gian của mình trôi đi, mỗi một người quan sát lại phát hiện ra những lát cắt mới của không-thời gian, hiện ra với anh ta như các khía cạnh liên tiếp của thế giới vật chất, mặc dù trong thực tại, tập hợp các sự kiện tạo nên không-thời gian đã tồn tại trước khi anh ta biết về chúng”.

Khi cái nhìn thực sự là tất-cả-tức-thì, tức là khi nó có thể thấy được điều kiện không-thời gian, thì nó có thể nhận biết được tất cả các thời khoảng cùng một lúc, và chính vì thế mà nó báo trước được tương lai. Nhà triết học người Nga P.D. Cupensky đã viết:

“Chỉ có bộ máy tinh xảo gọi là tâm hồn nghệ sĩ mới có thể hiểu và cảm thấy được ánh phản xạ của vật tự nó (noumenon) ở trong hiện tượng (phenomenon). Trong nghệ thuật, cần thiết phải nghiên cứu “thần bí luận” - cái phía ẩn của cuộc đời. Người nghệ sĩ phải là một con người mẫn tiệp: anh ta phải thấy được cái mà những người khác không thấy, anh ta phải là một phù thủy: phải sở hữu sức mạnh làm cho người khác thấy ra được những cái mà bản thân họ không tự nhìn thấy được, nhưng anh ta thì thực sự thấy”.

Và đến đây, luận đề của cuốn sách này đã rõ: nghệ thuật mang tính cách mạng luôn bảo trước về sự xuất hiện của vật lý có tầm nhìn vượt thời đại. Khi cái nhìn mang tính cách mạng của người nghệ sĩ có gốc rễ từ bán cầu phải của Dionysus kết hợp với tiên cảm, thì nghệ thuật sẽ tiên báo được quan niệm tương lai về thực tại. Người nghệ sĩ đưa ra một cách nhìn mới về thế giới, rồi sau đó nhà vật lý sẽ lập nên một cách nghĩ mới về thế giới. Chỉ sau đó, những thành viên còn lại của nền văn minh mới đưa quan điểm mới mẻ này nhập vào trong tất cả các mặt của nền văn hóa. Tầm nhìn khi ngồi trên một chùm sáng là tầm nhìn thấy được tất cả ở đâybây giờ vĩnh viễn. Nhận thức kiểu không-thời gian nhất định phải có tính chất tổng thể, hòa trộn toàn bộ các vectơ của không gian với tất cả mọi khoảng của thời gian. Hầu như chắc chắn là nó phát xuất từ bán cầu não phải, bởi vì các nghệ sĩ và những người theo chủ nghĩa thần bí, thể hiện mình bằng hình ảnh và thơ ca, là những người hợp hơn với kiểu nhận thức này[1].

Bởi vì tiên nghiệm đã vi phạm tính nhân quả, nên nhiều người đã gạt đi, thậm chí không nghĩ đến khả năng có điều ấy, mặc dù cả thuyết tương đối lẫn cơ lượng tử đều đã đưa ra những hoàn cảnh giả thiết trong đó tiên nghiệm là điều có thể. Hơn thế nữa, bất chấp nhiều tiến bộ của ngành khoa học về thần kinh, vẫn còn tồn tại trong não nhiều chức năng còn chưa có lời giải thích nào thỏa đáng. Trong phần trước, tôi đã đưa ra một so sánh loại suy giữa một bộ não cá nhân và trí tuệ tập thể. Có lẽ quay lại so sánh này sẽ giúp ta hiểu được thế nào là sự mẫn tiệp của người nghệ sĩ.

Nhà khoa học thần kinh Lawrence Weizkrantz đã quan sát thấy một hiện tượng khác thường trong các cá nhân bị mù vì những khuyết tật trong phần vỏ não thị giác của họ. Năm 1974, ông đã ghi chép hiện tượng sau: khi một chùm sáng được chiếu vào các bệnh nhân này ở một khoảng cách đủ xa để sức nóng của nó không trở thành một yếu tố ảnh hưởng, họ được hỏi xem có nhìn thấy gì không. Tất nhiên, họ đều nói là không thấy gì cả. Sau đó, họ được thông báo rằng một chùm sáng đang chiếu về phía họ. Khi các nhà khảo sát đề nghị họ đoán xem chùm sáng rọi tới từ hướng nào, tất cả lại phản đối, nói rằng họ không hề có một sự hình dung nào dù là nhỏ nhất. Các nhà điều tra tiếp tục thúc giục họ thử dùng tay chỉ xem hướng nào là hướng họ đoán chùm sáng sẽ chiếu tới. Với một sự chính xác khác thường, vượt xa mọi xác suất, các bệnh nhân này, bị mất thị lực, thường có thể xác định đúng nguồn phát sáng.

Weizkrantz đặt tên cho năng lực phản ứng với những kích thích thị giác một cách không có ý thức này là thấu thị mù: năng lực nhìn thấy được cái mà về mặt vật lý là không thể nào thấy được. Cho đến nay, hiện tượng này vẫn còn được hiểu một cách rất nghèo nàn.

Năng lực nhìn thấy cái không thể nhìn thấy, đã hiện diện ở trong cá nhân, thì theo phép ngoại suy, có thể cũng tồn tại trong xã hội nói chung. Các nghệ sĩ có tầm nhìn cách mạng đã được phú cho khả năng thấu thị mù. Thỉnh thoảng, họ lại nhìn thấp thoáng thấy một hiện thực mà tất cả những người còn lại trong chúng ta không nhìn thấy được. Khi được hỏi, các nghệ sĩ không thể diễn đạt nổi tiên cảm của mình. Sự tồn tại của thấu thị mù đã được ghi chép lại rất đầy đủ; có lẽ khi tin rằng một số nhà thấu thị, như nhà tiên tri mù Tiresias trong thần thoại Hi Lạp, đã nhìn thấy những gì không thể nhìn thấy được. Nghệ sĩ là những nhà tiên tri không nói ra thành lời, họ chuyển những gì nhìn thấy được thành các biểu tượng trước khi chúng có thể được diễn đạt bằng lời nói: Tiên báo dưới dạng nghệ thuật chính là thấu thị mù của nền văn minh.

Nhà tiên tri là những người nói về các sự vật trước khi chúng ra đời. Để làm được điều này, họ phải có được một kiểu ý thức về không-thời gian, không phải thuần tuý là một hiểu biết thoáng chốc về những trải nghiệm đang trôi qua, hay chỉ là năng lực dự báo được các sự kiện sẽ xảy ra trong một khuôn khổ khoa học. Trái lại, ý thức về không-thời gian, sự biết tất-cả tức-thì, là nền tảng cơ bản để nhà tiên tri không bị hạn chế bởi các giới hạn văn hóa về ba vectơ Euclid của không gian hay những khái niệm của Aristotle về thời gian tuyến tính.

Các sáng tạo của người nghệ sĩ phát xuất từ tầng tồn tại này đều hiện ra mang dáng dấp tiên tri, gọi là tiên tri chỉ vì chúng đã xảy ra trong khuôn khổ bối cảnh của một nền văn hóa từ chối không công nhận những trạng thái mở, vô tận về mặt thời gian của bản thân sự tồn tại. Khi đó, nhà tiên tri không nhìn về phía trước của thời gian, mà chỉ diễn tả trạng thái của continuum không-thời gian, chính nó đã mang tính thời gian vô tận. Trong không-thời gian, cái cổ xưa nhất gắn quyện lẫn lộn với cái tương lai nhất. Đối với nhà tiên tri, hai thứ chỉ là một, bởi vì trong miền đất thần bí thống nhất của không-thời gian, những phân biệt như “quá khứ” hay “tương lai” là vô nghĩa.

Chúng ta cuối cùng cũng phải tôn kính các nhà tiên tri. Trong khi kỉ nguyên Lí trí tôn vinh Kant, người đã phỏng đoán chính xác rằng không gian và thời gian là tách biệt và là hai phạm trù kinh nghiệm khác biệt nhau, thì gần đây, chúng ta đã tái khám phá ra tác phẩm của William Blake, người còn có khả năng tiên tri hơn cả Kant, ông đã thấy không gian và thời gian là hai thành tố của một thể thống nhất. Đối với Blake, thời gian và không gian không hề tồn tại một cách tuyệt đối. Chúng là hai mặt sinh đôi của một thứ mà ông gọi là “cái Vĩnh cửu”. Trong cuốn Jerusalem, đoạn 49:21, ông viết rằng: “Những Hình ảnh của cái Vĩnh cửu, do các cảm nhận bị thu hẹp lại, đã trở thành những Hình ảnh yếu ớt của Thời gian và Không gian”. Einstein và Minkowski chắc chắn sẽ hết lòng tán thành điều này.

Thuyết tương đối là một quan niệm cấp tiến đến mức để có thể hiểu được tầm quan trọng của nó, chúng ta phải hòa trộn quá trình tiến hóa sinh ra các loài vào trong lịch sử thành văn của nhân loại. Từ ba triệu năm trước đến năm 1905, não bên phải lập bản đồ ba vectơ của không gian và não bên trái điều khiển ba trạng thái của thời gian. Đặc biệt, trong văn hóa phương Tây, thời gian tách biệt khỏi không gian: Newton đã tuyên bố thế và Kant thậm chí còn cho rằng cả hai đều là những “cơ quan nhận thức”. Ở cuối thế kỉ mười tám, Kant đã không thể biết được rằng vào giữa thế kỉ hai mươi, các nhà khoa học thần kinh đã khẳng định: đúng là một bán cầu não phù hợp hơn với việc xử lý các khái niệm về không gian, còn bán cầu kia phù hợp hơn với việc xử lý các khái niệm về thời gian. Khi Einstein công bố thuyết tương đối hẹp mang tính chất cách mạng của mình, ông đã phát lộ ra mối quan hệ tương hỗ giữa hai tọa độ này. Sau đó, Minkowski đã hòa nhập không gian và thời gian thành continuum không-thời gian. Những khám phá vĩ đại của Einstein và Minkowski đã vĩnh viễn làm thay đổi thế giới của chúng ta. Theo Einstein và Minkowski, không gian và thời gian là hai mặt hòa trộn vào nhau của một thể thống nhất bậc cao hơn, nằm vượt lên trên tầm với của nhận thức con người. Khẳng định những gì mà các nhà thấu thị đã nói trong bao thế kỉ, Einstein đưa chúng ta nhảy vọt lên một chiều mới ở bậc cao hơn. Niềm tin vào sự tách biệt giữa không gian và thời gian sẽ là phản tác dụng, nếu chúng ta muốn hiểu được tầm tư tưởng sâu xa của Einstein.

Ba triệu năm trước đây, não người đã tự tổ chức thành một cơ quan chức năng có hai khối, mà mục đích dường như là tăng thêm việc sử dụng tính nhân quả, bằng cách giữ cho thời gian và không gian hoàn toàn tách biệt nhau. Ở thời đại của mình, chúng ta đã chứng kiến hai tọa độ hoàn toàn đối lập nhau này hòa nhập vào nhau. Tuyên bố mang tính cách mạng của Einstein không những chỉ là một chiến công trong lịch sử tư tưởng con người, nó còn khắc nên một đường phân thủy tối quan trọng trong phạm vi rộng lớn hơn của toàn bộ quá trình tiến hóa sinh học.

Đã hơn chín mươi năm kể từ khi Einstein và Minkowski phát lộ ra mối quan hệ qua lại giữa không gian, thời gian và ánh sáng. Bất chấp những bằng chứng không thể bác bỏ về sự tồn tại của continuum không-thời gian, vẫn còn đang có vô vàn những tư biện liên quan đến cái gì có thể tồn tại trong bình diện mới này, không tính đến khám phá của Einstein rằng lực hấp dẫn là do không-thời gian bị cong đi trong chiều thứ tư. Quay lại ví dụ loại suy về tổ kiến một lần nữa, chúng ta thấy rằng một sinh vật chỉ có thể nhận biết được không gian mà không biết gì về thời gian là sinh vật sống trong một thế giới bị co lại đến khắc nghiệt. Thời gian tuyến tính được thêm vào các hoạt động của bộ não động vật có vú đã dẫn đến kết quả độc nhất vô nhị: ý nghĩ được tạo ra. Và khi các ý nghĩ đạt đến một số lượng tới hạn trong não của loài Homo sapien này, thì một cái còn mơ hồ hơn nữa đã nảy sinh: đó là trí tuệ biết tự ngẫm, có năng lực hiểu được không gian vô tận và thời gian vĩnh cửu. Phát kiến về chiều thứ tư thật trọng yếu với loài người, bởi tọa độ thời gian là thứ đã được cấp cho các loài thú ở bậc thấp hơn. Bằng ngoại suy, tôi đã cho rằng không-thời gian đã sinh ra trí tuệ vũ trụ.

Nếu như trí tuệ biết tự ngẫm của cá nhân biết rằngbiết, thì trí tuệ vũ trụ không những biết rằng nó biết, mà nó còn biết mọi cái, mọi nơibất kì thời điểm nào. Nó ở trong một chiều mà tất cả các giai đoạn thời gian đều hòa trộn vào nhau để chúng có thể được nhận thấy cùng một lúc; và ở vận tốc của ánh sáng, các vị trí phía trước lẫn phía sau đều hòa nhập vào nhau. Trong hệ tọa độ của chúng ta, rất nhiều khả năng là trí tuệ vũ trụ có lẽ được thể hiện qua linh cảm sáng suốt, và được hiện diện trong những cá nhân nhất định, những con người bị tất cả số còn lại trong chúng ta, vẫn còn bị trói buộc bởi lịch sử, coi là lập dị hay lang băm. Trí tuệ vũ trụ là lực đẩy phía sau tinh thần thời đại của chúng ta, thoạt tiên thốt lên từ tác phẩm của các nghệ sĩ trực giác, não phải, có tầm nhìn cách mạng, rồi sau đó là qua công trình của các nhà vật lý duy lí, não trái, mang viễn kiến vượt thời đại mình.

Năm 1926, Niels Bohr, một người đi tiên phong trong cơ học lượng tử đã đưa ra nguyên lý bổ sung, một nguyên lý có thể dùng để gắn kết được một số các thành phần ương bướng của vật lý mới với nhau. Thật trớ trêu là quan niệm vĩ đại này của ông lại liên quan nhiều đến triết học hơn là khoa học. Công trình gốc của ông không hề chứa một phương trình nào và được công bố trong một tạp chí triết học. Những cánh tay chào mời, rộng rãi từ quan niệm của Bohr đã cho phép các nhà vật lý lẫn những người không phải chuyên gia vật lý bắt đầu tích hợp những nghịch lý của thuyết tương đối và cơ lượng tử. Bohr đặc biệt quan tâm giải quyết nghịch lý nói rằng ánh sáng dường như vừa là hạt vừa là sóng. Nhưng nguyên lý của ông có thể áp dụng một cách hữu hiệu không kém trong cuộc giải phẫu lưỡng phân đối với không gian/thời gian, phải/trái, nghệ thuật/vật lí. Ông công nhận người quan sát và người/vật được quan sát là một cặp tương tác không thể tách rời, và đưa ra quan điểm cho rằng có lẽ không hề có cái gọi là thực tại khách quan. Kết hợp bất kì đôi nào trong những cặp nói trên sẽ tạo nên một đối ngẫu tương tác, cùng nhau tạo nên một thể thống nhất không hề có mối nối. Theo Bohr, đối lập không phải lúc nào cũng là đối nghịch, mà trái lại biết đâu chúng lại chính là các mặt bổ sung cho nhau của một sự thật ở một chiều cao hơn. “Đối lập với một phát ngôn đúng, là một phát ngôn sai,” Bohr có lần đã nói, “nhưng đối lập với một chân lý sâu xa, thì là một chân lý sâu xa khác”.

Một trong những thành tựu quan trọng nhất từ trước đến nay của văn minh phương Tây là tách được cái ngoài kia của thực tại khách quan ra khỏi cái trong này của suy nghĩ tự ngẫm. Ở buổi đầu của phương pháp khoa học, Descartes đã tuyên bố rằng đó là hai hiện tượng rõ rệt và tách biệt với nhau. Suốt trong các thế kỉ tiếp theo, khoa học, đại lý xông xáo nhất của bán cầu não trái, đã làm sáng tỏ sự rối loạn gây nên bởi việc trộn lẫn hai cái vào với nhau. Tuy nhiên, nguyên lý bổ sung đã quay lại gắn kết cái ngoài kia với cái trong này một lần nữa. Không những chỉ người quan sát được kết nối với người/vật được quan sát, mà kết nối ấy cũng không phải là mang tính nhân quả cổ điển: nó là một phần của tư duy lượng tử mới mẻ. Nói theo lời lẽ của một nhà vật lý khác là Erwin Schrodinger:

“Lí do tại sao cái bản ngã biết suy nghĩ, có tri giác, hữu tình của chúng ta đã không thấy ở đâu trong bức tranh thế giới của chúng ta có thể được chỉ ra một cách dễ dàng trong mười một âm tiết này: bởi vì-BẢN-THÂN-NÓ-chính-là-bức-tranh-thế giới. Nó đã là toàn thể và vì thế, nó không thể được chứa trong chính nó như là một bộ phận của cái toàn thể đó được”.

Học trò của Bohr là John Wheeler cũng lặp lại ý kiến này, ông cho rằng trí tuệvũ trụ cũng là một cặp bổ sung; bởi vì cái này không thể tồn tại mà không có cái kia.

Sự thống nhất thời gian và không gian của Einstein cùng với thuyết bổ sung của Bohr đã đem loài người đến ngưỡng cửa của một kiểu suy nghĩ mới, Homo sapien, loài linh trưởng dạng người thông minh có bộ não tách đôi, sẽ phải tiêu hóa được kiểu suy nghĩ mới này để vượt qua được cái ngưỡng cửa ấy. Sự phân vùng não, ba triệu năm nay đã thoải mái phân chia không gian với thời gian, phải với trái, và gần đây hơn, nghệ thuật với vật lí, giờ đã không còn là một cách có hiệu quả để đối phó với một thế giới đã thay đổi bởi tư tưởng sâu sắc của Einstein. Như nhà toán học Henri Poincaré đã viết năm 1914;

“Người hiện đại dùng nguyên-nhân-và-kết quả giống như người cổ đại dùng các vị thần để thiết lập trật tự cho Vũ trụ. Điều này không phải vì nó là hệ thống chân thực nhất, mà chỉ bởi vì nó là hệ thống tiện nhất mà thôi”.

Để đưa thuyết tương đối và cơ học lượng tử hòa nhập vào trong não trạng của chúng ta, thì việc chúng ta tiếp tục tiến hóa một cách có ý thức, thoạt đầu có vẻ bất tiện, nhưng rồi sau sẽ trở thành một mệnh lệnh bắt buộc. Muốn lấy được lợi thế từ những khám phá mới trong lĩnh vực vật lí, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc hợp nhất các chức năng của hai bán cầu não. Đây là một nhiệm vụ phi thường: cái vực thẳm chia cách bán cầu phải với bán cầu trái trong văn hóa phương Tây thật rộng mênh mông.

Để minh họa cho cái vực ngăn cách ấy, hãy giả sử mỗi năm trong lịch sử loài người, ủy ban giải thưởng Nobel sẽ trao một giải cho thành tựu nghệ thuật xuất sắc và một giải cho thành tựu khoa học xứng đáng nhất. Bởi vì từ “vật lí” có nguồn gốc từ một từ Hi Lạp có nghĩa là “tự nhiên”, chúng ta hãy mở rộng khái niệm về nhà vật lý để nó bao gồm tất cả những ai đã từng suy ngẫm về bản chất của tự nhiên, trong đó có cả Pythagoras, Plato, St. Augustine, Aquinas, Kant, Dalton, Darwin và Freud.

Bất chấp bao nhiêu thần Titan trong nghệ thuật và vô số người khổng lồ trong khoa học, nhưng sự thật bật lên từ các ghi chép của lịch sử đã chỉ ra rằng: hầu như hiếm có ai đủ phẩm chất để nhận được cả hai giải thưởng ấy. Thực tế, tuy cũng đã từng có những nghệ sĩ ghé qua lãnh địa khoa học, và đã từng có các nhà vật lý thể hiện một thiên tư nghệ thuật nào đó, nhưng rất hiếm người đủ khả năng đóng góp được một cách xuất sắc cho cả hai lĩnh vực.

Suy ngẫm kĩ, cuối cùng chỉ có một cái tên vượt lên trên tất cả: Leonardo da Vinci. Các phát minh và khám phá phong phú của ông trên nhiều lĩnh vực khác hẳn nhau của khoa học đã bảo đảm cho ông có thể nhận không những một mà là nhiều đề cử Nobel. Đồng thời, di sản nghệ thuật mà ông để lại đồ sộ đến mức chắc chắn ông cũng sẽ là một người được giải Nobel trong lĩnh vực này. Thật lạ lùng là làm sao trong toàn bộ lịch sử thành văn của nền văn minh, lại chỉ có được mỗi một con người đủ quyền đoạt cả hai giải? Điều này đã nổi lên những phân chia sâu sắc trong nền văn hóa của chúng ta giữa nghệ thuật và vật lí, suy ngẫm và tập trung, bán cầu phải và bán cầu trái, không gian và thời gian, Dionysus và Apollo rằng: chúng ta đã chỉ tạo ra được một ví dụ duy nhất, không thể phản bác được về sự tích hợp hoàn toàn giữa hai phương diện đối ngẫu của tính sáng tạo; ở các cấp độ quá hoàn hảo mẫu mực. Tuy nhiên, sự tồn tại thậm chí chỉ ở một con người như Leonardo cũng đã chỉ ra khả năng và tầm quan trọng của việc có thể hàn liền cái khe ngăn cách nhân tạo này giữa hai bán cầu. Bằng cách nào đó, Leonardo đã hòa quyện các quá trình nhìn thấy với suy ngẫm, và cái kho hình ảnh và tư tưởng nảy sinh từ sự thụ thai chéo này thật quá dồi dào.

Hẳn là Leonardo đã ra đời với một kiểu bố trí dây thần kinh dị thường như thế nào đó trong bộ não. Chúng ta đã biết được nhiều điều kinh ngạc về năng lực trí óc của ông, trong đó đáng ngạc nhiên nhất là ông thuận cả hai tay, và có thể dễ dàng viết xuôi viết ngược (kiểu như nhìn qua gương). Những đặc tính này cũng có thể tìm thấy được ở những người mắc chứng khó đọc, một hội chứng về nhận biết trong đó các chữ cái b và d, p và q thường xuyên bị lẫn với nhau. Các nhà khoa học thần kinh hiện nay đưa ra lý thuyết cho rằng chứng khó đọc có thể là do tính trội của não đã bị mất. Với một đứa trẻ mắc chứng khó đọc, cả hai bán cầu đều có trách nhiệm gần tương đương nhau trong việc hình thành nên và hiểu được lời nói, ngôn ngữ viết, sử dụng hai tay; chứ không có kiểu bố trí thông thường là các trung tâm chỉ huy tay nào thuận hơn và điều khiển ngôn ngữ sẽ nằm ở thùy não trội. Rõ ràng là Leonardo đã dùng nó (hiện tượng tính trội của não bị mất) để di chuyển qua lại giữa hai quá trình xử lý của não, một có gốc rễ bắt nguồn trong không gian, một có gốc rễ bắt nguồn trong thời gian. Bằng cách đó, ông đã đạt được một chiều sâu hiểu biết về thế giới này mà hiếm ai, nếu như có, lại ngang bằng được.

Tôi cho rằng hai bán cầu não có chức năng tương đương đã làm cho con người kép này có thể cảm nhận về thời gian và không gian khác hẳn với tất cả những nghệ sĩ khác trước ông. Như chúng ta đã thấy trong Chương 4, Leonardo đã đưa lối vẽ chồng mờ lên đến đỉnh điểm của nó. Chính cái nhìn thấu của ông vào không gian sâu và thấy được cách các trạng thái khí quyển thay đổi ánh sáng phía xa đã bộc lộ ra những sắc thái tinh tế về chiều sâu cho tất cả những người ngắm tranh của ông biết. Đặc điểm này của hiện thực trước đấy đã trôi đi mà không một nghệ sĩ hay người khác nào nhận thấy cả.

Trong bức tranh nổi tiếng nhất thế giới, Mona Lisa, Leonardo đã đặt người phụ nữ trẻ ít người biết đến này vào trong một bầu không khí huyền bí vĩnh cửu. Một phần đầy ý nghĩa tạo nên sắc thái không thể nào đoán định của nàng nằm ngay bên các mép tranh, trong tầm nhìn của người xem; bởi vì ở phía hai bên đầu của nhân vật, Leonardo đã tạo ra các phong cảnh riêng biệt, không phù hợp với nhau: một cái được vẽ ra theo một kiểu phối cảnh làm cho nó nom như gần hơn so với cái kia. Tuy cũng có một số ít người nhận biết được sự hơi khác biệt về chiều sâu này, nhưng con mắt của số đông người xem thì không cảm nhận được, và cái nghịch lý về không gian ấy đã làm tăng thêm sự bí ẩn của nụ cười Mona Lisa.

Năng lực cảm nhận thời gian của Leonardo cũng rất khác thường, Ông quan sát và ghi lại trong các bức hình họa của mình chuỗi hình ảnh phức tạp của cánh chim câu vẫy trong lúc bay, cũng như những hình mẫu được tạo ra bởi dòng nước chảy xiết. Chỉ mãi đến ba trăm năm sau, khi kĩ thuật chụp ảnh cách quãng thời gian được phát mình ra để có thể làm chậm lại những hình ảnh mờ nhoè ấy, thì các bức ảnh mà người ta chụp đã khẳng định những gì mà Leonardo đã thấy. Chỉ mình ông, trong tất cả các nghệ sĩ của thế giới, là có thể nhìn thấy được thời gian trong chuyển động chậm rãi của nó, làm chậm trễ dòng trôi của nó để quan sát được chuỗi đập cánh bay của con chim hay các hình mẫu của các con suối chảy, và ghi lại được trong một khung tranh tĩnh lặng những cuộn xoáy tầng tầng phức tạp đến không thể nào tin nổi ấy. Đặc điểm này thật độc nhất vô nhị, tôi đoán rằng nó cũng có liên quan đến việc không bán cầu não nào nổi trội ở Leonardo, cho phép ông có thể hình dung ra thời gian như một hiện tượng tất cả-tức-thì, hơn là nhìn nhận nó theo chuỗi lần-lượt-từng thứ thông thường.

Bằng chứng nữa chứng tỏ cảm nhận về thời gian của Leonardo khác với người thường là ông nổi tiếng về sự chậm trễ lề mề. Trong một trường hợp, Leonardo đã lập ra kỉ lục của mọi thời đại về quãng cách thời gian từ lúc nhận làm một tác phẩm đến lúc giao tác phẩm đã hoàn thành - hai mươi ba năm trời! Trong một trường hợp khác, Giáo hoàng Leo X đặt Leonardo vẽ một bức tranh về bất kì chủ đề gì mà ông muốn. Luôn luôn suy tư về các vấn đề kĩ thuật, Leonardo bắt đầu mày mò tổng hợp một loại dầu bóng đặc biệt để phủ lên hoàn thành bức tranh còn chưa được vẽ của ông. Giáo hoàng, khi đến kiểm tra tiến độ thực hiện đơn đặt hàng của mình, đã phải chán nản giơ cả hai tay lên trời và phát cáu kêu lên: “Gã này không bao giờ hoàn thành được thứ gì cả! Anh ta đã nghĩ đến chuyện kết thúc công việc thậm chí khi chưa thèm bắt đầu!”. Nếu Leonardo đã không hình dung thời gian là một chuỗi tuyến tính, chạy xuôi từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, thì có lẽ đối với ông, kết thúc cũng giống như bắt đầu. Biết mình có năng lực nhìn thời gian theo kiểu tất-cả-tức-thì, ông đã có lần nhận xét:

“Chúng ta biết rất rõ rằng thị giác, qua sự quan sát rất nhanh, chỉ cần một cái liếc nhìn là khám phá ra vô hạn các hình dạng. Tuy nhiên, thị giác lại chỉ có thể nhận thấy mỗi lần một hình ảnh mà thôi”.

Mặc dù Leonardo sống trước chúng ta hơn bốn trăm năm, nhưng những thành tựu của ông vẫn còn đang tiếp tục làm mê say cả một cộng đồng dân số hoạt động chủ yếu nghiêng về một bên này hay bên kia của trí não. Trong tác phẩm Con mắt ngây thơ, Roger Shattuck thông báo: chỉ trong một khoảng thời gian năm mươi năm - từ 1869 đến 1919, giai đoạn nổi bật vì sự bùng nổ một loạt sáng tạo trong khoa học và nghệ thuật của phương Tây - trung bình mỗi năm có một tác phẩm dày dặn lấy chủ đề về Leonardo. Số lượng tác phẩm về Leonardo hơn hẳn số lượng tác phẩm về bất kì một cá nhân nào khác. Sự tuôn trào văn chương này tới từ những tác giả rất khác nhau, mà chúng tôi chỉ xin nhắc tới một số người như Bernard Berenson, Jakob Burckhardt, Sigmund Freud và Paul Valéry. Số lượng sách vẫn còn đang được xuất bản về cuộc đời và sự nghiệp của người nghệ sĩ/nhà khoa học phi thường ấy đã nói lên rằng sự kết hợp của ông giữa chủ nghĩa nhân văn nghệ thuật và sự tò mò khoa học vẫn tiếp tục làm chúng ta mê mẩn trong niềm kính sợ.

Nếu Leonardo đã có thể kết hợp được hai nửa của trí óc bị chia đôi, thì làm thế nào để những người còn lại chúng ta có thể học để thực hiện được như vậy? Có lẽ câu trả lời nằm ở việc tổng hợp nghệ thuật và vật lí. Một khi hai nỗ lực này có thể được nhìn nhận là gắn kết với nhau đến không thể tách rời, thì sự tăng cường tiếp theo, diễn ra qua thể chai giữa hai bán cầu não phải và não trái, sẽ làm phong phú thêm năng lực của những người có thể nhìn thấy cái này bằng ngôn ngữ của cái kia. Để có thể đánh giá được đầy đủ hơn tại sao việc tích hợp tất cả các cách nhìn từ mỗi bán cầu não sẽ tạo nên một cách nhìn và cách nghĩ mới, tôi xin đưa ra một ví dụ loại suy sau đây.

Một trong những đặc tính hấp dẫn nhất của bộ máy giác quan của chúng ta đã xảy ra như kết quả của sự trùng hợp ngẫu nhiên của các trường chồng lấn lên nhau. Khi một giác quan có cặp như nhìn và nghe cùng đánh giá một cảm nhận từ hai vị trí hơi khác nhau trong không gian, thì một điều đặc biệt có một không hai đã xảy ra. Ví dụ, do cả hai mắt ta đều nhìn hướng tới phía trước, chúng ta về cơ bản đều thấy cùng một bức tranh với mỗi con mắt tại một thời điểm bất kì cho trước, nhưng vì khoảng cách giữa các ổ xương của hai nhãn cầu là tối thiểu, nên mỗi một võng mạc lại ghi nhận cảm giác riêng của nó từ một điểm nhìn hơi lệch đi.

Khi ta nhìn vật nào đó bằng một con mắt, chúng ta chỉ cảm nhận được hai vectơ của không gian: chiều cao thẳng đứng và chiều dài nằm ngang. Tuy nhiên, khi mở tiếp con mắt thứ hai, chúng ta cung cấp cho não của mình thông tin từ một góc hơi khác. Ở một nơi nào đó giữa ma trận của phần vỏ não thị giác, não chồng các thông tin từ hai góc ấy gối lên nhau để tạo ra, một cách gần như là huyền bí, chiều thứ ba là chiều sâu.

Não chúng ta cũng hoạt động theo kiểu như vậy khi nghe. Mỗi tai của chúng ta đều nghe thấy cùng những âm thanh ấy, tuy nhiên mỗi tai lại tiếp nhận thông tin âm thanh từ một điểm khác nhau trong không gian. Lại tương tự như trường hợp của mắt, khoảng cách giữa hai tai, dù rất nhỏ, cũng đủ để tạo ra một chiều thứ ba của âm thanh mà chúng ta cảm nhận được là chiều sâu. Chuyện này quá rõ với những ai đã nghe nhạc qua một cặp tai nghe stereo, thấy âm thanh như phát ra từ giữa đỉnh đầu. Điều này xảy ra ngay cả khi người nghe biết rằng âm thanh phát ra từ mỗi chiếc loa đang đi vào mỗi cái tai ở hai bên đầu.

Chúng ta cũng có thể khám phá ra một chiều mới khi cố gắng hiểu nghệ thuật hoặc vật lý bằng thuật ngữ của từng lĩnh vực. Ngôn ngữ của chúng ta hẳn là cũng công nhận điều này, chính vì thế mà khi nói một người là “toàn diện” hay “có chiều sâu”, chúng ta thường muốn ngụ ý rằng người ấy có thể nhìn thấy thế giới qua các lăng kính khác nhau của nghệ thuật và khoa học, và bằng việc tích hợp các cách nhìn ấy, sẽ đi đến được một sự hiểu biết sâu sắc hơn về thực tại. Những diễn tả anh ta này chỉ ra rằng: một cách vô thức, chúng ta nhận thấy người nào có khả năng đan kết những cách nhìn khác nhau về cơ bản của hai bán cầu não lại thành một thì sẽ trở thành con người giàu có hơn. Chúng ta nói về họ bằng những từ ngữ gợi lên chiều sâu - “đa diện”, “đa chiều”. Nghệ thuật và vật lý cũng cung cấp những điểm nhìn chồng lấn lên nhau về một thứ mà một số người chúng ta gọi là tự nhiên, số khác thì gọi là thực tại. Nó là cái hoàn cảnh mà chúng ta tồn tại trong đó. Chấp nhận một quan điểm bao gồm cả nghệ thuật lẫn vật lý sẽ cho phép chúng ta có thể nhìn thấy vẻ huy hoàng đầy đủ của nó với ba chiều, và hiểu được sự tồn tại của nó trong một cái bây giờ được kéo dãn rộng ra. Sự tổng hợp ấy sẽ tạo nên một ý thức được nâng cao thêm và đánh giá được về thế giới mà chúng ta đang sống ở trong đó. Meister Eckhardt, một pháp sư thời Trung cổ đã viết:

“Ta đã từng được hỏi “Khi nào con người chỉ thuần tuý hiểu?” và đã trả lời “Khi anh ta chỉ nhìn thấy một thứ, tách ra khỏi thứ khác”. Và khi nào thì con người vượt lên trên sự chỉ có hiểu? Điều này thì ta trả lời anh: “Khi một con người nhìn thấy Tất cả trong tất cả, khi đó con người ấy đứng trên sự hiểu thuần tuý”.

Trong tác phẩm Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère[2] (1882) (Hình 29.1), Édouard Manet đã chộp bắt được bản chất của tính bổ sung giữa không gian và thời gian. Bức tranh là tuyên ngôn cuối cùng của Manet, được thực hiện khi ông đã mang bệnh và thường phải trải qua những cơn đau đớn, kiệt sức. Bởi vì khi ấy ông bệnh tật và các nhà phê bình nghệ thuật đã quen với những bức tranh bí hiểm của ông, nên phần lớn sự kì dị của tác phẩm này được gán cho là do tâm trạng bi phẫn của Manet. Tuy nhiên, chính tác phẩm này đã tiên đoán tương lai. Manet, người nghệ sĩ báo hiệu sự xuất hiện của nghệ thuật hiện đại, đã giới thiệu trên chỉ một nền vải cả nguyên lý bổ sung - sớm bốn mươi năm trước Bohr, lẫn những đặc điểm chủ chốt của thuyết tương đối hẹp - sớm hơn hai mươi tư năm trước Einstein.

A-bar-at-the-folies-bergere-1882-1.jpeg

Hình 29.1. Édouard Manet, Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère (1882), CÁC PHÒNG TRANH VIỆN COURTAULD, LONDON. BỘ SƯU TẬP COURTAULD

Trong bức tranh này, một cô phục vụ trẻ, dửng dưng không để lộ cảm xúc, đứng trước một tấm gương lớn phản ánh lại cái thế giới mà Manet biết quá rõ - đám đông ồn ào ở rạp Folies-Bergère. Mặc dù Manet được người ta nhớ đến là nghệ sĩ đã sáng tạo ra phép phối cảnh đập dẹt mọi thứ, nhưng bức tranh này lại gây ấn tượng với người xem bằng cách tạo ra cho họ cảm giác về không gian sâu. Nhìn vào tấm gương của Manet như nhìn qua cánh cửa sổ mở ra của vũ trụ. Phản chiếu trong đó là một đám đông ở xa, hình dạng càng ngày càng lòe nhòe dần sâu vào theo khoảng cách. Tranh cho thấy dường như chẳng có bức tường giới hạn phía sau ở cái rạp Folies này, thay vào đó là một đường chân trời bao gồm các hình người lẫn lộn với một không gian lờ mờ bất tận, tạo nên một cảm giác choáng ngợp về chiều sâu. Một chùm đèn sáng lấp lánh, lơ lửng trên đầu đám đông, dường như không được treo vào một cái trần nào cả và nom không khác gì một thiên hà đầy sao. Chùm đèn, kết hợp với các đốm sáng nhấp nháy và các khối cầu trắng sáng đủ các kích cỡ, rõ ràng cũng không hề được gắn vào cái trần nào, đã góp phần tạo nên ấn tượng rằng chúng ta, những người xem, đang không phải là nhìn vào một cái gương nào cả, mà thay vào đó, là đang chăm chú ngắm lên một bầu trời đêm quang đãng.

Để tăng thêm ảo giác này, Manet đã rút mất tấm thảm dưới chân người quan sát, bởi không thấy nó ở trên mặt sàn nào cả, trước mặt quầy rượu cũng không. Với trống rỗng ở phía trên lẫn phía dưới, cái biển người được phản chiếu trong gương nom như đang lơ lửng trong không gian. Một cặp chân có vẻ như cắt rời từ một nữ diễn viên nhào lộn trên không đang đong đưa ở góc trên bên trái đã tăng thêm cảm giác về trạng thái lửng lơ không trọng lượng của bức tranh. Nhìn quá về phía sau cô phục vụ quầy rượu là nhìn sâu vào cả Vũ trụ.

Nghiên cứu kĩ hơn bức tranh, ta còn thấy để lộ ra một kết cấu khác rất dị thường. Trong tấm gương, lưng của cô phục vụ lại được phản chiếu chệch về bên phải, nơi cô gái đang nói chuyện với một ông khách quen. Hơn thế nữa, nếu nhìn cô gái chếch đi từ phía bên phải, thì ta thấy cô gái cúi nghiêng về phía trước như thu hút sự chú ý của ông khách, trong khi đó tại cảnh chính phía trước mặt, cô gái đứng rất thẳng. Tuy vậy, chúng ta đáng ra không thể thấy được một cách trọn vẹn, không hề vướng víu hình ảnh phía trước đẹp như tượng của cô phục vụ, nếu như đã có một người khác đứng chắn trước mặt cô gái. Do ở một góc nhìn, ông ta không có, nhưng sang một góc nhìn khác, ông ta lại xuất hiện, nên bức tranh như một sự thể hiện kép về quang cảnh ở đó.

Thực sự, đúng là Manet đã vẽ quầy rượu đó ở rạp Folies-Bergère từ hai góc nhìn khác nhau. Mỗi một quang cảnh chứa những thông tin không thể tìm thấy được ở quang cảnh kia. Manet đã đưa ra khái niệm về một cảnh được nhìn thấy từ hai điểm tách biệt nhau trong không gian, cũng như cùng một cảnh được hình dung ra trong những thời điểm khác nhau của thời gian. Tư tưởng nghệ thuật sâu xa này của người nghệ sĩ đã hiện lên thành hình ảnh báo trước về mệnh lệnh của Einstein và Bohr: chúng ta phải kết hợp hai mặt đối lập nhau của thực tại, để có thể tiến lên trên con đường hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.

Các hệ quả về mặt tiến hóa của việc tách bộ não ra thành hai trí tuệ riêng biệt đã mang rất nhiều tầng ý nghĩa. Thứ nhất, việc phân chia ấy đã cho chúng ta con đường đến được các tọa độ kép không gian và thời gian. Điều này dẫn đến việc hình thành một năng lực trực giác và trí tuệ được nâng cao hơn để giúp Einstein, ba triệu năm sau, có thể phát hiện ra rằng không gian và thời gian thực ra không tách biệt, mà là một, ở một cấp độ khái quát cao hơn. Để hiểu được tư tưởng ấy của ông, chúng ta cũng phải tái hợp các điểm nhìn của hai bán cầu não lại thành một thể thống nhất. Một nơi để bắt đầu quá trình này là giao điểm giữa nghệ thuật và vật lí. Bán cầu phải và bán cầu trái, tế bào hình que và tế bào hình nón, nghệ thuật và vật lí, tất cả đều cung cấp những cách nhìn bổ sung cho nhau về thực tại. Việc chúng ta tổng hợp những cặp đôi này không những chỉ làm sâu sắc thêm hiểu biết của chúng ta về từng thứ một và về cả cặp, mà còn thêm được một chiều mới cho cái trí tuệ đang tạo ra năng lượng cho trí tuệ vũ trụ.

Người La Mã đã tạo ra Janus, một nam thần trước đó chưa hề có tiền thân trong thần thoại Hi Lạp. Tôi thì ngờ rằng Techne và Janus có quan hệ gần gũi với nhau. Theo thần thoại, Janus là một vị thần có hai mặt. Tôi cho rằng chúng ta, mỗi người chúng ta, phải trở thành Janus. Thần chiếm giữ không gian của một ngưỡng cửa, và tại một thời điểm trong thời gian, cùng nhìn tới phía trước lẫn phía sau, ghi nhận những gì đã đi qua và những gì đang tới. Từ cốt lõi của quá khứ đến bờ mép của tương lai, Janus nhìn quét cả hai quang cảnh trong không gian và thời gian đồng thời cùng một lúc. Nếu chúng ta nghĩ một bộ mặt ấy là nghệ thuật và mặt kia là vật lí, thì hai kiểu phối cảnh này sẽ mời gọi chúng ta phải thay đổi cách thức nhìn nhận và suy ngẫm về thế giới. Tuy có vẻ khác nhau theo hướng nhìn, nhưng người nghệ sĩ và nhà vật lý đã vẽ lại cho chúng ta những bức tranh về thực tại theo một kiểu mới.

Chú thích

  1. Gần đây hai nhà khoa học thần kinh Marshall Gladstone và Catherine T. Best đã đưa ra một giả định khác về năng lực cảm giác nghệ thuật / bán cầu não phải đã đi trước năng lực khoa học / bán cầu não trái như sau: "Bán cầu phải dùng để mã hóa thông tin mới, trong khi đó, bán cầu trái lại phù hợp nhất cho việc thông báo lại thông tin đã có, đã được mã hóa thành một khối; quá trình đạt được nhận thức diễn ra sau khi có sự chuyển dịch từ bán cầu phải sang trái"
  2. Rạp hát Folies-Bergère: Một trong những nhà hát ca múa nhạc tạp kĩ ở phố Richer, quận 9, Paris, thành lập tháng 5/1869 và vẫn hoạt động cho đến này, đặc biệt nổi tiếng trong giai đoạn 1890-1920. - ND

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!