Nghĩa của thuật ngữ

1. Nghĩa của thuật ngữ

Chúng ta đã nhận thấy sự khác nhau giữa thái độ của một khán giả và thái độ của một tác nhân hoặc người tham gia. Người thứ nhất thờ ơ với những gì đang xảy ra; kết quả nào cũng giống hệt như kết quả nào, bởi mỗi kết quả chỉ là một điều gì đấy để nhìn vào. Người thứ hai bị ràng buộc vào những gì đang xảy ra; đối với anh ta, kết quả của điều xảy ra tạo ra sự khác biệt. Những vận may của anh ta hầu như bị đặt cược vào kết quả của các sự kiện. Do đó, anh ta cố gắng hết sức để tác động tới chiều hướng của sự việc đang diễn ra. Người thứ nhất giống như người đang ngồi trong một xà lim nhà tù và nhìn mưa rơi ngoài cửa sổ; mọi thứ đối với anh ta đều như nhau. Người kia giống như một người đã lên kế hoạch cho chuyến đi chơi dã ngoại vào ngày hôm sau mà cơn mưa dai dẳng sẽ làm hỏng kế hoạch đó. Chắc chắn anh ta không thể tác động tới thời tiết của ngày mai bằng những phản ứng trong hiện tại, song anh ta có thể lựa chọn một số biện pháp để có thể ảnh hưởng tới những sự kiện sẽ xảy ra, ví thử như anh ta hoãn chuyến đi chơi đã được lên kế hoạch chẳng hạn. Giả sử một người nhìn thấy một chiếc xe ngựa đang tiến tới và chiếc xe có thể đè lên anh ta, nếu như anh ta không thể chặn chuyển động của chiếc xe, thì ít nhất anh ta cũng có thể đứng tránh sang một bên nếu như anh ta dự liệu kịp thời được những hệ quả. Trong nhiều trường hợp, thậm chí anh ta có thể can thiệp một cách trực tiếp hơn. Như vậy, thái độ của một người tham gia vào diễn biến của sự việc là thái độ kép: có sự lo lắng, lo âu đến những hệ quả sẽ xảy ra, và một xu hướng hành động để đảm bảo những hệ quả tốt đẹp sẽ xảy ra và ngăn cản những hệ quả xấu.

Thái độ trên được biểu thị bằng các từ ngữ sau: quan tâm, hứng thú. Các từ ngữ này hàm ý một người bị ràng buộc vào những khả năng gắn liền với đối tượng; vì vậy anh ta luôn ở trong tư thế đề phòng những gì mà các đối tượng có thể gây ra cho anh ta; và trên cơ sở sự kỳ vọng hoặc dự liệu, anh ta mong muốn hành động để làm cho tình hình diễn ra theo chiều hướng thế này chứ không phải thế khác. Hứng thú và mục tiêu, quan tâm và mục đích, nhất thiết có liên hệ với nhau. Các từ ngữ như mục tiêu, ý định, mục đích, nhấn mạnh tới kết quả mà ta mong muốn và cố gắng để đạt được; các từ ngữ này bao hàm đương nhiên thái độ quan tâm và háo hức chăm chú của cá nhân. Những từ ngữ như hứng thú, yêu mến, quan tâm, động cơ, thì nhấn mạnh tới mối liên quan giữa điều được dự liệu và may rủi của cá nhân, và việc anh ta thực sự mong muốn hành động để đem lại một kết quả khả dĩ. Những từ ngữ này bao hàm đương nhiên những sự thay đổi khách quan. Nhưng sự khác biệt [giữa hai nhóm từ ngữ nói trên] chỉ là sự khác biệt về sự nhấn mạnh; cái nghĩa ở nhóm này thì mờ nhạt nhưng lại được nhấn mạnh ở nhóm từ ngữ kia. Cái gì được tiên liệu thì đều mang tính khách quan và trung lập; cơn mưa vào ngày mai; khả năng bị xe ngựa chẹt. Song, đối với một sinh vật tích cực, một sinh vật biết tham gia vào các hệ quả thay vì bàng quan trước hệ quả đó, thì cùng lúc ấy còn có cả sự phản ứng cá nhân nữa. Sự khác biệt được nhận ra trong trí tưởng tượng tạo ra sự khác biệt trong hiện tại, sự khác biệt ấy được thể hiện bằng thái độ lo lắng và cố gắng. Mặc dù các từ ngữ như yêu mến, lo lắng, và động cơ, biểu thị một thái độ của sở thích cá nhân, song bao giờ chúng cũng là những thái độ trước các đối tượng - trước cái được dự liệu. Chúng ta có thể coi giai đoạn của sự dự liệu khách quan nói trên là mang thuộc tính trí tuệ và giai đoạn nảy sinh thái độ quan tâm cá nhân là mang thuộc tính của xúc cảm và ý chí, song hoàn toàn không có bất kỳ sự tách rời giữa các sự kiện của tình huống.

Một sự tách rời như vậy chỉ tồn tại nếu như thái độ của cá nhân diễn biến theo cách riêng của nó trong một thế giới chỉ có mình nó. Thế nhưng, thái độ của cá nhân bao giờ cũng là sự phản ứng trước điều đang xảy ra tại tình huống mà cá nhân có tham gia, và các thái độ đó có bộc lộ thành sự phản ứng được hay không tùy thuộc vào mối quan hệ tương giao giữa chúng với những thay đổi khác. Các hoạt động của sự sống chỉ này nở và thất bại trong mối liên hệ giữa chúng và những thay đổi của môi trường. Hiểu theo nghĩa đen, chúng bị ràng buộc vào những thay đổi đó; khao khát, xúc cảm và yêu thương chẳng qua chỉ là những cách ràng buộc khác nhau giữa hành động của chúng ta với hành động của sự vật và con người ở quanh ta. Thay vì chúng biểu thị một vương quốc thuần túy cá nhân hoặc chủ quan, tách rời khỏi thế giới khách quan và trung lập, thì chúng lại chỉ rõ sự không tồn tại một thế giới như thế. Chúng cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng những thay đổi của sự vật không phải là thuộc về một thế giới tách rời khỏi các hoạt động của một bản ngã, và sự nghiệp cùng hạnh phúc của bản ngã bị ràng buộc vào sự vận động của con người và sự vật. Hứng thú, quan tâm, nghĩa là bản ngã và thế giới ăn khớp với nhau trong một tình huống đang diễn biến.

Từ “hứng thú”, theo cách dùng thông thường, biểu đạt (i) toàn bộ tình trạng của sự phát triển thực sự, (ii) những kết quả khách quan mà ta dự liệu và mong muốn, và (iii) khuynh hướng tình cảm cá nhân. (i) Nghề nghiệp, việc làm, sự theo đuổi, công việc, thường được gọi là hứng thú. Như vậy, chúng ta nói rằng hứng thú của một người là chính trị, hoặc nghề viết báo hoặc làm từ thiện hoặc khảo cổ học hoặc sưu tầm tranh khắc Nhật Bản hoặc nghề ngân hàng. (ii) Hứng thú còn có nghĩa là thời điểm mà một đối tượng gây xúc động hoặc sự chú ý của một người; thời điểm mà đối tượng gây ảnh hưởng tới anh ta. Trong một số nghĩa vụ pháp lý, một người phải chứng minh rằng mình có khả năng “hứng thú” [quan tâm, lợi ích] thì mới có quyền xuất hiện tại tòa. Anh ta phải chứng minh rằng biện pháp đề xuất nào đó là có liên quan đến công việc của anh ta. Một hội viên hùn vốn vẫn có một mối hứng thú đối với một công ty bởi vì sự phát đạt hay sa sút của công ty đó tác động tới lợi nhuận hoặc trách nhiệm pháp lý của anh ta mặc dù anh ta không tham gia thực sự vào việc điều hành công ty đó. (iii) Khi chúng ta nói một người có hứng thú tới điều này hay điều khác, chúng ta nhấn mạnh trực tiếp thái độ cá nhân của người đó. Có hứng thú tức là tình trạng bị thu hút, bị ràng buộc, bị cuốn hút vào đối tượng nào đó. Bén một hứng thú tức là đang ở trong tình trạng cảnh giác, quan tâm, lưu ý. Chúng ta nói tới một người có hứng thú theo cả hai ý nghĩa sau đây: anh ta chìm đắm trong công việc nào đó và anh ta tìm thấy sở trường của mình trong công việc đó. Cả hai ý nghĩa này đều biểu lộ việc bản ngã bị lôi cuốn vào một đối tượng.

Trong lĩnh vực giáo dục, khi vị trí của hứng thú được đề cập tới với giọng chê bai, người ta sẽ thấy rằng ý nghĩa thứ hai của nó được cường điệu và sau đó bị cô lập. Hứng thú được hiểu đơn thuần là tác động của một đối tượng tới ưu điểm hoặc nhược điểm của cá nhân, tới thành công hoặc thất bại của cá nhân. Bị tách rời khỏi mọi diễn biến khách quan của sự việc, hứng thú chỉ còn là tình trạng vui sướng hoặc đau khổ thuần túy của cá nhân. Trên phương diện giáo dục, người ta đi đến chỗ cho rằng đề cao tầm quan trọng của hứng thú nghĩa là gắn thêm tính chất hấp dẫn nào đó cho vật liệu mà nếu không thế vật liệu đó sẽ mang tính trung lập; để duy trì sự chú ý và sự cố gắng, người ta dùng khoái lạc để mua chuộc. Cách làm này bị gọi giễu một cách thích đáng là sư phạm “từ thiện”; một lý luận giáo dục “phát chẩn”.

Sự phản đối nói trên được dựa trên sự kiện - hoặc sự giả định - rằng các hình thức của kỹ năng phải học và nội dung phải lĩnh hội không cần thiết phải tạo ra sự hứng thú: nói cách khác, chúng được cho là không thích hợp với các hoạt động bình thường của học sinh. Biện pháp sửa chữa không nằm ở việc tìm ra khuyết điểm của học thuyết về hứng thú, lại càng không phải là đi tìm cái bá mồi dễ chịu nào đó để đem gần vào vật liệu xa lạ. Biện pháp sửa chữa nằm ở việc phát hiện ra những đối tượng và những phương thức hành động có mối liên hệ với các năng lực hiện có của học sinh. Khi vật liệu thu hút hoạt động và duy trì hoạt động đó một cách nhất quán và liên tục, thì chức năng đó của vật liệu chính là sự hấp dẫn của nó. Nếu vật liệu tạo ra được hiệu quả theo cách đó, thì chẳng cần đến hoặc chẳng cần tìm kiếm những thủ thuật tạo sự hấp dẫn cho vật liệu hoặc chẳng cần viện đến nỗ lực độc đoán, ép buộc nửa vời.

Về mặt từ nguyên, “hứng thú” hàm ý cái nằm ở giữa - tức cái nối hai sự vật mà lúc khác chúng ở cách xa nhau. Trong giáo dục, khoảng cách được rút ngắn đó có thể được coi là khoảng cách về thời gian. Bởi việc một tiến trình phải cần có thời gian thì mới có thể hoàn thành là một sự kiện quá hiển nhiên đến nỗi hiếm khi chúng ta phát biểu nó một cách rõ ràng. Chúng ta không lưu ý tới sự kiện rằng có một quãng đường phải vượt qua trong tăng trưởng, nó nằm giữa giai đoạn bắt đầu và giai đoạn hoàn thành của quá trình; chúng ta bỏ sót một điều rằng có điều gì đó can thiệp vào quá trình đó. Trong học tập, các năng lực hiện có của học sinh là giai đoạn ban đầu; mục tiêu của người thầy là ranh giới ở xa. Nằm ở giữa là phương tiện - tức các điều kiện trung gian: những hành động phải thực hiện; những khó khăn phải vượt qua; những vật dụng phải dùng đến. Chỉ có dựa vào chúng, hiểu theo nghĩa đen của chữ “thời gian”, các hoạt động ban đầu [của học sinh] mới có thể đạt tới một sự hoàn thiện mỹ mãn.

Những điều kiện trung gian gây hứng thú cho học sinh chính bởi vì diễn biến của các hoạt động hiện hữu theo đúng mục đích được dự liệu và mong muốn, phụ thuộc vào chúng. Có những cách gọi tên khác nhau cho “những điều kiện trung gian”: phương tiện để thực hiện các khuynh hướng hiện có, cái đứng “ở giữa” người thực hiện và mục đích của anh ta. Khi vật liệu cần thiết phải được làm tăng sự hấp dẫn, điều đó nghĩa là xét như nó được trình bày, nó thiếu mối liên hệ với các mục đích và năng lực hiện có [của học sinh]: hoặc giả, nếu nó có mối liên hệ ấy thì sự liên hệ đó không được nhận ra. Làm tăng sự hấp dẫn của vật liệu bằng cách dẫn dắt để một người nhận ra mối liên hệ đang tồn tại nói trên, là điều tuyệt đối khôn ngoan; làm tăng sự hấp dẫn cho vật liệu dựa vào sự khích lệ giả tạo và xa lạ, thì điều đó xứng đáng với những tiếng tăm xấu của quan niệm tồn tại xưa nay về hứng thú trong giáo dục.

Chúng ta đã nói quá nhiều về nghĩa của từ “hứng thú”. Bây giờ chúng ta nói tới nghĩa của từ “kỷ luật”. Khi nào một hoạt động đòi hỏi phải có thời gian để hoàn thành, khi nào có rất nhiều phương tiện và trở ngại nằm ở giữa sự khởi đầu và kết thúc, khi đó sự suy nghĩ cân nhắc và kiên trì là cần thiết. Có thể thấy rõ, phần lớn nghĩa của từ “ý chí”, theo cách nói hằng ngày, hoàn toàn nghĩa là tính kiên trì và nhẫn nại một cách có chủ tâm và hữu thức để theo đuổi một tiến trình hành động đã dự định bất chấp khó khăn và sự xúi giục cản trở. Theo cách sử dụng thông thường của từ “ý chí”, người có ý chí mạnh mẽ tức là người không dao động hoặc nửa vời trong quá trình theo đuổi mục đích đã chọn. Năng lực của anh ta là có tính thực thi; tức là, anh ta phấn đấu bền bỉ và kiên quyết thực thi hoặc thực hiện mục tiêu của mình. Một ý chí yếu ớt thì bao giờ cũng dễ dao động giống như là mặt nước vậy.

Rõ ràng, có hai nhân tố nằm trong ý chí. Một nhân tố liên quan đến việc dự liệu các kết quả, nhân tố kia liên quan đến mức độ ảnh hưởng do kết quả dự liệu đó tác động lên người ấy. (i) Ngoan cố cũng nghĩa là kiên trì, song nó không phải là ý chí hiểu theo nghĩa ưu điểm. Ngoan cố có thể chỉ là tính không chịu thay đổi và tính vô cảm của động vật. Một người có thể bền bỉ làm một điều gì đấy chỉ bởi vì anh ta đã khởi đầu công việc đó, không phải do bất kỳ mục đích được cân nhắc rõ ràng nào. Trên thực tế, người ngoan cố thường không chịu (mặc dù anh ta có thể hoàn toàn không ý thức được sự khước từ của mình) tự mình làm rõ đâu là mục đích được đề ra, nói chung; anh ta có một suy nghĩ rằng nếu anh ta tự cho phép mình hiểu rõ và hiểu đầy đủ mục đích, thì mục đích có thể sẽ không còn giá trị nữa. Ở tính cố chấp đạt bằng được mục đích, việc khước từ phê phán các mục đích đang tồn tại thậm chí còn thể hiện rõ rệt hơn nữa. Người thực sự hành động là người luôn cân nhắc các mục đích của mình, anh ta hiểu rõ ràng và đầy đủ các kết quả do hành động đem lại. Những người được gọi là thiếu ý chí hoặc buông thả bao giờ cũng tự lừa dối mình về những hệ quả do các hành động của họ đem lại. Họ chọn ra đặc tính nào đó dễ chịu và phớt lờ mọi trạng huống đi kèm. Khi họ bắt đầu hành động, những kết quả gây khó chịu mà trước đó họ cố tình bỏ qua, bắt đầu xuất hiện. Họ ngã lòng hoặc giả họ than vãn rằng mục đích đúng đắn của họ đã bị số phận tàn nhẫn can thiệp, và họ chuyển sang phương châm hành động khác. Khó lòng thổi phồng điều sau đây [bởi nó đã quá hiển nhiên]: sự khác biệt lớn nhất giữa ý chí mạnh mẽ và ý chí yếu ớt là khác biệt về trí tuệ, nó cốt ở mức độ quyết tâm bền bỉ và mức độ cân nhắc đầy đủ các hệ quả.

(ii) Dĩ nhiên, một người vẫn có thể chẳng hạn tìm ra các kết quả bằng cách suy đoán. Khi đó anh ta vẫn nhìn thấy trước được mục đích, song anh ta không bám chặt vào mục đích ấy. Mục đích là cái gì đó để xem xét và anh ta duy trì nó vì hiếu kỳ hơn là điều cần hoàn thành. Không ai có thể vượt qua khả năng suy nghĩ cho phép của mình, song một người lại có thể sử dụng khả năng suy nghĩ một cách phiến diện. Khi một người cân nhắc hệ quả của các phương châm hành động đề ra, chúng ta nói anh ta “lấy nó ra”. Một tính tình yếu mềm nào đó ngăn cản anh ta duy trì sự chú ý vào mục đích đã dự định và ngăn cản anh ta bắt tay vào hành động. Hầu hết con người đều tự nhiên từ bỏ một đường lối hành động đã đề ra khi họ gặp những trở ngại bất thường, bất ngờ, hoặc khi họ được khích lệ chuyển sang một hành động trước mắt dễ chịu hơn.

Một người được huấn luyện để có thể cân nhắc các hành động của mình, để thực hiện chúng một cách có chủ tâm, tức là người ấy có kỷ luật trong chừng mực đó. Nếu ngoài khả năng nói trên, người đó còn có thêm khả năng duy trì một tiến trình hành động đã được lựa chọn một cách thông minh bất chấp sự sao lãng, bối rối, và khó khăn, tức là chúng ta hiểu được bản chất của kỷ luật. Kỷ luật nghĩa là năng lực sẵn có để có thể đem ra sử dụng; nghĩa là làm chủ các nguồn lực sẵn có để hoàn thành hành động đã cam kết. Biết được mình phải làm gì và vận động để nhanh chóng thực hiện việc đó và bằng cách sử dụng những phương tiện cần thiết, tức là có kỷ luật, bất kể chúng ta đang nghĩ tới một đám đông hay một trí óc. Kỷ luật là cái mang tính tích cực. Thị uy tinh thần, kìm nén khuynh hướng tự nhiên, ép buộc sự vâng lời, hành hạ thể xác, bắt cấp dưới thực hiện một công việc không phù hợp - những việc làm đó có mang tính kỷ luật hay không, tùy thuộc vào việc chúng có nhắm tới hay không sự phát triển năng lực nhận ra điều người ta định làm và nhắm tới sự kiên trì để hoàn thành công việc.

Có lẽ không cần thiết phải nhấn mạnh rằng hứng thú và kỷ luật là gắn liền với nhau, chứ không đối lập nhau. (i) Ngay cả khi năng lực đang trải qua khâu mang tính thuần túy trí tuệ [nhất] của quá trình huấn luyện - tức khi mà người ta nhận ra điều mình đang làm xét như nó được biểu hiện trong các hệ quả - thì nó cũng không thể xảy ra mà không có hứng thú. Nếu không có hứng thú, việc suy nghĩ cân nhắc sẽ chỉ mang tính chất chiếu lệ và hời hợt. Các bậc cha mẹ và thầy cô thường than phiền - và họ than phiền là đúng - rằng trẻ em “không muốn nghe hoặc giả không muốn hiểu”. Trí óc của chúng không thấy chủ đề hứng thú chính bởi vì chủ đề ấy chẳng hề liên quan gì tới chúng; nó không tham gia vào các mối quan tâm của chúng. Đây là một tình trạng cần được sửa chữa, song biện pháp sửa chữa không nằm trong việc sử dụng những phương pháp càng làm tăng thêm sự lãnh đạm và ác cảm. Ngay cả việc trừng phạt một đứa trẻ vì sự lơ là, thì đó cũng là cách để cố gắng làm cho nó hiểu ra rằng nội dung đó không phải là một điều hoàn toàn chẳng có liên quan gì; đó là một cách để khơi dậy “hứng thú”, tức là tạo ra một cảm giác liên hệ. Rốt cuộc, ý nghĩa của việc trừng phạt ấy được đánh giá bằng việc nó kích thích đơn thuần về mặt thể xác để đứa trẻ hành động theo cách mà người lớn mong muốn hay là sự trừng phạt ấy dẫn dắt đứa trẻ đến chỗ “suy nghĩ” - nghĩa là ngẫm nghĩ về các hành động của mình và làm cho các hành động ấy thấm đượm mục tiêu. (ii) Nói rằng hứng thú là điều kiện tất yếu của sự kiên trì mang tính thực thi, là điều còn hiển nhiên hơn nữa. Các nhà tuyển dụng không đăng quảng cáo tìm người lao động không có hứng thú với công việc họ đang làm. Nếu người ta muốn tuyển dụng một luật sư hoặc một bác sĩ, người ta chẳng bao giờ nảy ra trong đầu lập luận rằng người được tuyển dụng sẽ gắn bó tận tụy với công việc của anh ta hơn nếu như công việc ấy hoàn toàn không phù hợp với bản tính của anh ta đến nỗi anh ta chỉ đơn thuần làm việc vì ý thức nghĩa vụ. Hứng thú là cái đo lường - hay đúng hơn nó chính là sự đo lường - mức độ hấp dẫn của mục đích dự liệu để kích thích một người phải hành động để thực hiện mục đích đó.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org