Một số trường phái cơ bản

III. MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI CƠ BẢN

1. Chủ nghĩa thực chứng

a. Nguyên nhân ra đời

  • Do sự tác động của mâu thuẫn kinh tế - xã hội trong các nước tư bản chủ nghĩa.
  • Sự phát triển của khoa học tự nhiên hiện đại với sự phân ngành mạnh mẽ: nhiều môn khoa học mới xuất hiện, nhiều ứng dụng khoa học toán và lôgic toán. Với những quan điểm duy tâm, những nguyên tắc tiên thiên của triết học cổ điển không đủ khả năng tổng kết những thành quả của khoa học và không thể chỉ đường cho khoa học. Do vậy chủ nghĩa thực chứng ra đời có ý muốn loại trừ … triết học, tức loại trừ "những suy lý trừu tượng" và tự coi mình đứng trên chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Họ tuyên bố "cái được thực chứng" là có thật.

b. Quan điểm cơ bản

  • Triết học không nên nghiên cứu những quy luật chung nhất thuộc bản chất của thế giới mà nên đi tìm phương pháp khoa học có hiệu quả nhất cho các khoa học.
  • Triết học phải lấy các sự vật hiện tượng được "thực chứng", "xác thực" làm căn cứ. Họ cho rằng những khoa học cụ thể (kinh nghiệm) là nguồn gốc duy nhất của tri thức chân chính và phủ nhận giá trị nhận thức của sự nghiên cứu triết học. Họ phủ nhận sự suy luận lí luận với tư cách là một giai đoạn thu nhận tri thức. Những quan điểm mang tính trừu tượng, khái quát cao của triết học cổ điển không thể được kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm thì bị chủ nghĩa thực chứng tuyên bố là sai lầm và không có ý nghĩa.

c. Những giai đoạn khác nhau của chủ nghĩa thực chứng

  • Giai đoạn đầu: Ra đời vào đầu thế kỷ 19. Người khởi xướng là A.CôngTơ (A.Comte) (Pháp), Spen-xơ (Spencer) (Anh), J.S.Mill (Anh).
  • Giai đoạn hai: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán xuất hiện những năm 70-90 của thế kỷ 19. Người khởi xướng là Makhơ, Averaniut (Áo). Họ lý giải những vấn đề của nhận thức luận theo lập trường của thuyết tâm lý cực đoan chuyển thành chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Đó là chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, cho rằng khách thể không thể có được nếu không có cảm giác và kinh nghiệm của chủ thể. Họ cho rằng qui luật tự nhiên không tồn tại một cách khách quan và cũng không có chân lý khách quan.
  • Giai đoạn ba: Chủ nghĩa thực chứng mới xuất hiện vào sau chiến tranh thế giới lần 1 và phát triển cao vào những năm 50 của thế kỷ 20. Bao gồm:
    • Chủ nghĩa thực chứng logic (trọng tâm là Áo)
    • Triết học phân tích: Triết học này chủ trương ngôn ngữ là căn cứ xác thực của tri thức chứ không cần căn cứ khách quan nào, v..v…

Tóm lại: Nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực chứng mới là họ cho rằng mọi tri thức khoa học hiện đại được suy luận lôgic từ những sự kiện thực nhiệm dựa trên cơ sở phương pháp lôgic từ trừu tượng đến cụ thể (trg 82, LSTH tập 3 NXB TT-VH HN 1992). Khoa học xuất hiện là kết quả sự sáng tạo thuần túy của tư duy thông qua trực giác.

d. Nhận định

  • Chủ nghĩa thực chứng có công nghiên cứu nhiều thành quả của toán học và khoa học tự nhiên hiện đại.
  • Tuy nhiên họ đã phủ nhận ý nghĩa thế giới quan của triết học tức là phủ nhận bản thân triết học.
  • Chủ nghĩa duy khoa học đã có công đi sâu nghiên cứu và tiếp thu nhiều thành quả trong toán học và trong các khoa học tự nhiên hiện đại, trong đó có những nhân tố tích cực, triết học Mác có thể tiếp thu và sử dụng. Nhưng trào lưu triết học này có một mâu thuẫn không thể khắc phục được: do muốn phá vỡ một số công thức của triết học truyền thống, nó đã đi đến chỗ cực đoan phủ nhận ý nghĩa thế giới quan của triết học, tức là phủ nhận bản thân triết học. Mặc dù những nhà triết học sau Pốppơ và Cun đã chú ý đến ý nghĩa thế giới quan của triết học đối với khoa học, nhưng do thiếu quan điểm duy vật lịch sử nên họ không có cách nào thoát khỏi tính hạn chế đó. Vì vậy chủ nghĩa duy khoa học không thể mở ra một con đường mới cho triết học.

2. Chủ nghĩa hiện sinh

Đây là quan điểm của giới trí thức tư sản. Có nguồn gốc tư tưởng triết học của KierKegasrd (1813-1855, người Đan Mạch). Đây là Triết học của tôn giáo Tin Lành (Tự điển triết học trang 287.), một loại triết học có tính cá nhân sâu sắc. Tác phẩm quan trọng của Kierkegasd là "Sở hãi và kinh hoàng" Ông cho rằng hiện sinh tồn tại ở 3 mặt: Thẩm mỹ, đạo đức, tôn giáo.

a. Nguyên nhân ra đời

Ra đời sau chiến tranh thế giới lần 1 ở Đức;Ra đời sau chiến tranh thế giới thứ 2 ở Pháp.

  • Nguyên nhân thứ nhất là từ mâu thuẫn của xã hội tư bản. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hóa, cùng cực, lấy đi của họ cái vị trí làm người đích thực. Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủng khiếp của hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần. Nhiều luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh cùng với phong trào hiện sinh thể hiện sự nổi loạn từ trong lòng xã hội tư bản nhằm lên án nó, chống lại nó, kêu gọi con người phải tự cứu lấy mình. Nhưng dựa vào cái gì để tự cứu mình và cứu xã hội thì họ chưa rõ.
  • Nguyên nhân thứ hai là phản ứng trước việc các nước phương Tây tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật, đã hạ thấp, bỏ rơi con người, hoặc chỉ quan tâm đến mặt vật chất và lý trí của con người mà xem nhẹ mặt tâm hồn, đời sống tình cảm của họ. Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất định trong việc làm cho các nước phương Tây đạt được thành tựu vượt bậc trong việc chinh phục tự nhiên bằng khoa học, công nghệ hiện đại. Đồng thời khoa học kỹ thuật cũng bắt con người gánh chịu hậu quả ngày càng nặng nề về môi sinh, xã hội, văn hóa, sức khỏe. Một xã hội phương Tâu giàu có về vật chất lại nghèo nàn về văn hóa, tinh thần; tăng trưởng nhanh về kinh tế lại suy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức. Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn có lý khi họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hóa vai trò của lý trí, của khoa học, khi học vạch rõ sự thiếu hụt tính nhân đạo trong chính nền tảng của văn minh phương Tây. Nhưng họ mắc sai lầm khi chỉ thừa nhận vai trò của cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang phía chủ quan phi duy lý.

b. Những nhân vật tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh

  • Chủ nghĩa hiện sinh vô thần: Heidegger, J. Paul Sartre
  • Chủ nghĩa hiện sinh công giáo: G. Marcel, K. Jasper
  • Chủ nghĩa hiện sinh Tin lành: Kierkegarsd.

c. Quan điểm cơ bản

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện như là một thế giới quan bi quan của tầng lớp trí thức tư sản ở các nước TBCN tự đặt ra cho mình câu hỏi: Một con người đã mất hết những ảo tưởng tự do và tiến bộ thì phải sống ra sao trước những tai họa của lịch sử?

  • Theo họ thì con người phải thực sự quan tâm đến sự tồn tại của cá nhân. Nguyên tắc của chủ nghĩa hiện sinh là "Trở về với thực tại chân thực". Họ cho rằng triết học duy lý tư biện trước đó đã xem con người và thế giới xung quanh họ là đối tượng của sự nghiên cứu khoa học do vậy đó là nền triết học đánh mất cá nhân đi (phi cá nhân). Cho nên phải khắc phục xu hướng này là phải từ bỏ triết học và khoa học để trở về với sự tồn tại của con người. "Tồn tại phải trở thành đối tượng của triết học" (Hai-đéc-ghe). "Tồn tại" ở đây là sự thực tồn của cá nhân (hiện sinh). Hiện sinh là sự có mặt, sự hiện hữu của con người với ý nghĩa đích thực và diện mạo riêng của nó (với tự do riêng của nó) mà đặc biệt là diện mạo tinh thần của họ.
  • Sự tồn tại của con người phải là sự tồn tại tự do cho nên khi con người nhận ra được sự tồn tại của chính mình cũng là lúc con người tìm thấy tự do.
    • Tự do theo chủ nghĩa hiện sinh là con người không chịu sự quy định của một qui luật tất yếu nào của tự nhiên hay qui luật xã hội mà là sự tự tạo ra bản thân mình qua từng hành động của mình. Cho nên tự do cũng là tự do chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm chứ không tự bào chữa hay đổ thừa cho hoàn cảnh. Đây là nét tích cực thể hiện thái độ phản kháng đối với những ai cúi đầu trước hoàn cảnh. Nhưng mặt khác quan điểm này cũng biểu hiện thái độ cực đoan, chủ quan khi tuyệt đối hóa tự do cá nhân bất chấp quy luật khách quan.
    • Thế nhưng tự do của con người không tách khỏi tha nhân. Sự gắn bó với tha nhân làm nên thân phận của con người. Cho nên phải thông cảm với tha nhân. Nhưng sự thông cảm này không thể giải thích và giải quyết bằng nhận thức mà bằng đức tin. Nhờ có đức tin mà con người đương đầu được với mọi nguy hiểm. Phải sống với nhau dựa vào đức tin bởi vì theo chủ nghĩa hiện sinh thì quan hệ với tha nhân là quan hệ tranh chấp trong đó tha nhân là người "giẫm chân" lên cái tôi chủ thể. Tha nhân là địa ngục làm cho cái tôi cá nhân bị tha hóa, bị mất tự do, không còn là mình nữa. Như vậy hiện thực sống của con người là phi lý, là tội lỗi. tại sao con người phải đau khổ như vậy? Bởi vì con người xa rời Chúa. Do vậy muốn chấm dứt tội lỗi và tha hóa con người phải quay về với Chúa.

Đây là quan niệm bi quan về thân phận con người của chủ nghĩa hiện sinh. Con người phải tồn tại trong cô đơn, trong đau khổ, thất bại và con người đi tìm sự giải thoát đó trong đức tin vào Chúa.

d. Nhận định

  • Chủ nghĩa hiện sinh phản ánh tâm trạng của một bộ phận đáng kể của giới trí thức tư sản.
  • Mặt tiến bộ: Đặt ra cho nhân loại vấn đề phải quan tâm giải quyết là vấn đề bản chất con người, vấn đề tôn vinh các giá trị của con người và giải quyết những vấn đề rất con người đó là tự do, sự tha hóa dưới sự thống trị của khoa học kỹ thuật, thức tỉnh mọi người phải trăn trở về ý nghĩa của cuộc sống và các hiện tượng bất hợp lý trong xã hội tư bản hiện đại.
  • Mặt hạn chế: Giải pháp của chủ nghĩa hiện sinh về các vấn đề xã hội đặt ra trên đây về cơ bản là tiêu cực, chủ quan.

3. Chủ nghĩa thực dụng

a. Nguyên nhân ra đời

  • Ra đời vào cuối thế kỷ 19 (từ 1871-1874) ở Mỹ, có cơ trở từ đời sống xã hội Mỹ là suy nghĩ và hành động vì mục đích kiếm lợi nhuận là trên hết. Nó phản ánh trực tiếp lợi ích và nhu cầu thực tế của giai cấp tư sản. Trường phái này ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đến nay.
  • Người sáng lập là Piếc-xơ, Giêm-xơ. ra đời khi câu lạc bộ siêu hình học ở Trường Đại học Cambrig được thành lập.

b. Quan điểm cơ bản

  • Nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận của chủ nghĩa thực dụng là lấy hiệu quả công dụng làm tiêu chuẩn. Đặc biệt nó nhấn mạnh đến vấn đề phương pháp tư duy và tuyên bố rằng triết học là lý luận về phương pháp.
  • Về mặt nhận thức luận: chủ nghĩa thực dụng không xem xét khái niệm ở bản thân khái niệm mà chú ý đến hiệu quả có thể kiểm nghiệm được của khái niệm đó khi ứng dụng vào thực tế. Tiêu chuẩn của chân lý là lợi ích. (Giêmxơ).
  • Về bản thể luận: chủ nghĩa thực dụng cho rằng thế giới được con người thực nghiệm trực tiếp thì ai cũng chứng nghiệm như nhau không phân biệt duy vật hay duy tâm. Nếu xuất phát từ hiệu quả để khẳng định giá trị của tôn giáo và khoa học thì niềm tin khoa học và tín ngưỡng tôn giáo đều có giá trị thiết thực vì cả hai đều là công cụ để đạt đến mục đích của đời sống con người. Như vậy là chủ nghĩa thực dụng đã phủ nhận tính qui luật khách quan của thế giới và thực chất là tiếp tục con đường duy tâm chủ quan của Bercelie.

c. Nhận định

  • Quan điểm cho rằng tiêu chuẩn của chân lý là lợi ích, mà lợi ích luôn biến đổi và rất khác nhau. Từ đó chủ nghĩa thực dụng đi đến chỗ cho rằng thế giới luôn bất ổn và con người không thể nắm bắt được.
  • Nhưng chủ nghĩa thực dụng cũng cho được những gợi ý cho con người rằng phải chú ý đến ý nghĩa thực tiễn của các hoạt động lý luận. Nhưng điều này hãy còn thấp xa so với tư duy về biện chứng giữa lí luận và thực tiễn của triết học Mac.

4. Chủ nghĩa Tôma mới

a. Nguồn gốc tư tưởng

Đây là một hình thái mới của triết học Thiên chúa giáo ở phương Tây xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Nó bắt nguồn từ quan điểm của Thomas D'Aquin (1224-1274) ở Italia. Đây là hệ thống triết học lấy tôn giáo và chúa làm nòng cốt; lấy đức tin làm tiền đề.

b. Những luận điểm cơ bản

  • Điều hòa lý trí và đức tin, khoa học và thần học. Chủ nghĩa Tôma mới khác chủ nghĩa Tôma cũ là chủ nghĩa Tôma mới đi sâu hơn vào nhận thức luận, nhấn mạnh vai trò nhất định của khoa học, lấy khoa học chứng minh cho giá trị của đức tin.
  • Về xã hội: Chủ nghĩa Tôma mới phủ nhận sự tồn tại của giai cấp, chủ trương con người trừu tượng, trần thế là tạm thời, cuộc sống tương lai là vĩnh hằng.
  • Về đạo đức: Tôma mới nhấn mạnh sự tự do của ý chí một cách cực đoan, nhưng đó là ân huệ của Chúa. Nhưng tự do thỏa mãn những nhu cầu vật chất của cá nhân là nguyên nhân chính của tội ác. Do vậy chủ nghĩa Tôma mới đề cao tự do tinh thần. Nguyên lý của họ là "Mỗi người vì mình. Chúa vì mọi người" Còn chủ nghĩa tập thể làm con người mất tự do (chống cộng sản!)

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang
"Like" us to know more!