Một số khía cạnh xã hội của vấn đề đang bàn tới

3. Một số khía cạnh xã hội của vấn đề đang bàn tới

Mặc dù những sai lầm về lý luận đang được bàn tới đã thể hiện trong cách làm của nhà trường, song bản thân những sai lầm đó lại là kết quả của những điều kiện của đời sống xã hội. Một sự thay đổi giới hạn trong nhận thức lý luận của các nhà sư phạm sẽ không giải quyết được các khó khăn, tuy nó góp phần hiệu quả vào việc làm thay đổi các điều kiện xã hội. Các thái độ căn bản của con người trước thế giới bị ảnh hưởng bởi quy mô và tính chất của các hoạt động mà họ tham gia. Thái độ nghệ thuật là ví dụ lý tưởng để minh họa hứng thú. Nghệ thuật không đơn thuần là cái nằm ở bên trong trí óc cũng không đơn thuần là cái nằm bên ngoài trí óc; nó không đơn thuần thuộc về tinh thần và cũng không đơn thuần thuộc về thể xác. Giống như mọi phương thức hành động khác, nghệ thuật đem lại những thay đổi trong thế giới. Nhiều hành động (có thể gọi chúng là những hành động cơ giới để đối lập lại với nghệ thuật) đem lại những thay đổi bên ngoài; chúng làm xáo trộn các sự vật. Không có phần thưởng lý tưởng nào, không có sự phong phú của cảm xúc và trí tuệ nào đi kèm với chúng. Khác với những hoạt động như vậy là những hoạt động góp phần vào việc duy trì đời sống, và duy trì sự điểm tô và trình bày bề ngoài của đời sống. Nhiều hoạt động xã hội, nhiều hoạt động của nền công nghiệp và nền chính trị của chúng ta đều được xếp vào hai loại hoạt động nói trên. Cả người tham gia vào các hoạt động đó lẫn người chịu tác động trực tiếp của những hoạt động đó đều không thể có hứng thú đầy đủ và tự do đối với công việc của mình. Bởi vì người làm công việc đó không có bất kỳ mục đích nào, hoặc bởi tính chất hạn chế về mục tiêu của công việc đó, cho nên trí thông minh không được kích thích thỏa đáng. Trong những điều kiện tương tự, rất nhiều người buộc phải dựa vào chính mình. Họ tìm nơi ẩn náu trong một trò chơi của tình cảm và những điều tưởng tượng nhất thời trong nội tâm. Họ có óc thẩm mỹ, song đó không phải là nghệ thuật bởi cảm xúc và suy nghĩ của họ phụ thuộc vào chính chúng thay vì chúng là phương pháp của hành động làm thay đổi các điều kiện. Đời sống tinh thần của họ mang tính uỷ mị; sự thưởng ngoạn một phong cảnh nội tâm. Thậm chí, việc theo đuổi khoa học có thể trở thành một cách chạy trốn khỏi những điều kiện khắc nghiệt của đời sống - chứ khoa học không phải là nơi ẩn náu tạm thời vì mục đích phục hồi và sáng tỏ để sau đó anh ta tiếp tục đối mặt với thế giới này. Ngay chính từ “nghệ thuật” có thể không khiến ta liên tưởng tới sự thay đổi cụ thể của sự vật, làm cho chúng trở nên có ý nghĩa hơn đối với tinh thần, mà chữ “nghệ thuật” khiến ta liên tưởng tới sự kích thích trí tưởng tượng lập dị và liên tưởng tới những đam mê cảm xúc. Sự phân li và khinh miệt lẫn nhau giữa con người “thực tế” và con người lý thuyết hoặc con người văn hóa, sự phân lìa giữa mỹ thuật và kỹ thuật chính là dấu hiệu cho thấy rõ tình hình nói trên. Như vậy, hứng thú và tư duy đã được hiểu theo nghĩa hạn hẹp hoặc nếu không thì lại bị hiểu theo nghĩa méo mó. Hãy so sánh những ý nghĩa phiến diện gắn với hai quan niệm được trình bày tại [Chương IX]: hiệu quả [xã hội] và văn hóa.

Sự tình trên chắc hẳn còn tồn tại chừng nào mà xã hội được tổ chức dựa trên sự phân chia giữa giai cấp lao động và giai cấp nhàn hạ. Trí thông minh của người lao động được tôi luyện trong quá trình lao động không ngừng; trí thông minh của người được giải phóng khỏi kỷ luật của nghề nghiệp thì trở nên ưa khoái lạc và mềm yếu đi. Hơn nữa, đa số con người vẫn không có sự tự do kinh tế. Hoạt động của họ bị ấn định bởi sự ngẫu nhiên và sự tất yếu của hoàn cảnh; nó không phải là sự bộc lộ bình thường các năng khiếu của họ trong mối quan hệ tương giao với các nhu cầu và nguồn lực của môi trường. Các điều kiện kinh tế của chúng ta vẫn đẩy rất nhiều người vào địa vị nô lệ. Vì thế, trí thông minh của những ai đang kiểm soát hoàn cảnh thực tiễn thì không mang tính nhân văn. Thay vì lợi dụng rộng rãi sự chinh phục thế giới này vì những nhu cầu của con người, trí thông minh đó lại chỉ được dành cho việc điều khiển người khác vì những mục đích bất nhân chừng nào mà những mục đích ấy chỉ dành riêng cho một nhóm người.

Sự tình trên cắt nghĩa nhiều điều trong các truyền thống giáo dục trong lịch sử. Nó giải thích sự mâu thuẫn của các mục tiêu được bày tỏ trong những bộ phận khác nhau của hệ thống nhà trường; [giải thích] tính chất thực dụng hạn hẹp của hầu hết nền giáo dục tiểu học, và tính chất kỷ luật hoặc văn hóa hạn hẹp của hầu hết nền giáo dục đại học. Nó giải thích khuynh hướng cô lập những vấn đề trí tuệ, tới mức mà tri thức trở thành mô phạm, hàn lâm, và mang tính chuyên môn nghề nghiệp, và nó giải thích niềm tin phổ biến coi giáo dục kiến thức nhân văn là mâu thuẫn với những yêu cầu của một nền giáo dục quan tâm tới việc đào tạo kiến thức của các nghề nghiệp của đời sống.

Song, sự tình nói trên còn giúp xác định vấn đề riêng của nền giáo dục hiện nay. Nhà trường không thể thoát khỏi ngay lập tức những lý tưởng được thiết định bởi các điều kiện xã hội có trước. Nhưng nhà trường có thể góp phần cải thiện những điều kiện đó dựa vào kiểu xu hướng trí tuệ và tình cảm mà nó đào tạo. Và chính đây là chỗ thể hiện đầy đủ nhất ý nghĩa của khái niệm hứng thú và kỷ luật đích thực. Những ai có mối hứng thú được mở rộng và trí thông minh được rèn luyện khi tiếp xúc với sự vật và sự kiện trong các hoạt động năng động có mục đích (dù đó là trò chơi hay công việc), họ sẽ dễ dàng tránh được việc phải lựa chọn như sau: giữa một tri thức hàn lâm và viển vông, và một hoạt động nặng nhọc, hạn hẹp cụ thể và “mang tính thực hành” đơn thuần. Tổ chức nền giáo dục sao cho các khuynh hướng bẩm sinh được huy động đầy đủ vào hoạt động, đồng thời đảm bảo rằng việc thực hiện hoạt động đó phải cần đến sự quan sát, thu nhận kiến thức và vận dụng trí tưởng tượng có mục đích, chính là điều cần làm nhất để cải thiện các điều kiện xã hội. Dao động giữa, [giáo dục xét như là] luyện tập để có được hiệu quả trong một hoạt động cụ thể mà không cần vận dụng trí thông minh, và [giáo dục xét như là] sự tích lũy tri thức được cho là một mục đích tối hậu tự thân, có nghĩa là nền giáo dục phải chấp nhận các điều kiện xã hội hiện hữu như là không thể thay đổi được nữa và do đó nó tự trao trách nhiệm duy trì mãi mãi những điều kiện xã hội đó. Một sự cải tổ nền giáo dục sao cho việc học tập diễn ra trong mối liên hệ với việc duy trì một cách thông minh các hoạt động có mục đích, là một công việc diễn ra chậm chạp. Nó chỉ có thể được hoàn thành từng phần, từng bước một. Song, đó không phải là một lý do để trên danh nghĩa chấp nhận một triết lý giáo dục này song trên thực tế lại tuân theo một triết lý giáo dục khác. Dám thực hiện việc cải tổ nói trên và duy trì nó một cách bền bỉ, là một thách thức.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org