Mối quan tâm tới Tự nhiên của nền khoa học cận đại

2. Mối quan tâm tới Tự nhiên của nền khoa học cận đại

Vào thế kỷ XV có một phong trào với tên gọi khác nhau tùy theo từng trường hợp: “sự phục hồi lại sự học” và “sự phục hưng”, đặc điểm của phong trào này là mối quan tâm mới mẻ tới đời sống hiện tại của con người, và do đó nó có mối quan tâm mới mẻ tới các mối quan hệ giữa con người với Tự nhiên. Phong trào này mang tính chất của thuyết tự nhiên hiểu theo nghĩa nó quay sang chống lại mối quan tâm chủ đạo thời đó coi Tự nhiên là cái siêu phàm. Có thể người ta đã đề cao thái quá ảnh hưởng của việc quay trở về với văn học cổ đại Hy Lạp đa thần giáo đối với sự ra đời của mối quan tâm mới mẻ nói trên. Dĩ nhiên sự thay đổi nào thì cũng đều chủ yếu là sản phẩm của hoàn cảnh đương thời. Nhưng có thể tin chắc rằng những người có học vấn [của thời kỳ Phục Hưng] với tâm hồn tràn ngập tư tưởng mới mẻ đã hăng hái quay sang nền văn học Hy Lạp để tìm sự nuôi dưỡng và sự củng cố thích hợp cho tư tưởng ấy. Và ở một mức độ đáng kể, mối quan tâm nói trên tới tư tưởng của người Hy Lạp không phải nhằm vào bản thân văn chương Hy Lạp, mà nhằm vào linh hồn của nền văn chương ấy. Tự do tinh thần, ý thức về trật tự và vẻ đẹp của Tự nhiên - cái đem lại sức sống cho văn chương của người Hy Lạp - đã đánh thức con người phải suy nghĩ và quan sát một cách phóng khoáng, tương tự như người Hy Lạp. Lịch sử của tri thức ở thế kỷ XVI cho thấy rằng các môn khoa học tự nhiên mới ra đời đã vay mượn mối quan tâm nói trên tới văn học Hy Lạp để làm điểm xuất phát. Windelband[1] đã nói, khoa học tự nhiên là đứa con mới chào đời của chủ nghĩa nhân văn. Quan điểm được ưa thích nhất vào thời đó là, con người tồn tại trong thế giới vi mô còn vũ trụ tồn tại trong thế giới vĩ mô.

Sự kiện trên một lần nữa lại làm nảy sinh câu hỏi vì sao mà sau đó người ta đã tách rời Tự nhiên ra khỏi con người và vì sao lại có sự phân chia rạch ròi giữa ngôn ngữ văn chương với khoa học tự nhiên. Có thể đưa ra bốn lý do. (a) Truyền thống cũ đã ăn sâu vững chắc trong các thiết chế. Chính trị, luật pháp, và ngoại giao vẫn đương nhiên là các ngành thuộc về tài liệu có tính quyền uy, bởi vì khoa học xã hội chỉ mới ra đời khi mà các phương pháp của khoa học vật lý và hóa học, ấy là chưa nói tới sinh vật học, đã tiến rất xa. Điều nói trên cũng xảy ra tương tự như thế đối với môn lịch sử. Hơn nữa, người ta đã phát triển nhiều phương pháp dạy ngôn ngữ đem lại hiệu quả; chỉ có tập quán của nhà trường là vẫn không thay đổi. Chỉ bởi vì mối quan tâm mới mẻ tới văn chương, đặc biệt là văn chương Hy Lạp, thoạt đầu đã không được phép tồn tại trong các trường đại học được tổ chức theo lối mô phạm, cho nên khi nó tìm cách vào được bên trong các trường đại học ấy thì chúng liền bắt tay với kiến thức truyền thống để làm hạn chế ảnh hưởng của khoa học thực nghiệm; những người làm công việc giảng dạy thì họa hoằn lắm mới được đào tạo về khoa học; còn những người có chuyên môn về khoa học thì lại làm việc trong các phòng thí nghiệm kín đáo và thông qua các viện hàn lâm là nơi xúc tiến nghiên cứu, song lại không được tổ chức như là các cơ quan giảng dạy. Rốt cuộc, truyền thống quý tộc trị từng coi thường những sự vật chất và coi thường giác quan và lao động chân tay, vẫn tiếp tục còn đấy sức mạnh.

(b) Cuộc nổi loạn của đạo Tin Lành đã kéo theo một mối quan tâm ngày càng lớn đến sự tranh luận và những bất đồng về thần học. Cả hai bên đều quan tâm tới những tác phẩm văn chương. Cả hai bên đều cần đến việc đào tạo khả năng nghiên cứu và giải thích cặn kẽ những tư liệu mà họ tin tưởng. Nhu cầu đào tạo người có khả năng bảo vệ niềm tin đã chọn chống lại phía bên kia, người có khả năng tuyên truyền và ngăn cản sự xâm phạm của bên kia, là lớn đến nỗi chẳng có gì nhiều để nói rằng vào giữa thế kỷ XVII các trường trung học và đại học đã chú ý tới việc dạy ngôn ngữ xuất phát từ mối hứng thú thần học được hồi sinh, và họ đã sử dụng việc dạy ngôn ngữ làm công cụ của giáo dục tôn giáo và cuộc tranh luận liên quan đến giáo hội [Thiên chúa giáo La Mã]. Như vậy, nguồn gốc giáo dục của ngôn ngữ xét như chúng ta thấy trong nền giáo dục ngày nay không phải là kết quả trực tiếp của thời kỳ Phục hưng, mà là kết quả của việc áp dụng nó vào các mục đích thần học.

(c) Chính bản thân khoa học tự nhiên đã được quan niệm theo cách nó làm rõ nét thêm sự đối lập giữa con người và Tự nhiên. Francis Bacon đưa ra một ví dụ gần như hoàn hảo về mối liên hệ giữa mối hứng thú của chủ nghĩa tự nhiên và mối hứng thú nhân văn. Khoa học, sau khi đã lựa chọn các phương pháp quan sát và thực nghiệm, đã phải từ bỏ ý định “đi trước” Tự nhiên - tức từ bỏ ý định áp đặt cho Tự nhiên những khái niệm có sẵn - và nó [khoa học] đã buộc phải trở thành tên thông ngôn khiêm nhường [của Tự nhiên]. Sau khi đã tuân phục Tự nhiên trên phương diện lý thuyết, con người sẽ học được cách điều khiển Tự nhiên trong thực hành. “Tri thức là sức mạnh.” Câu cách ngôn này nghĩa là, con người phải dựa vào khoa học để kiểm soát Tự nhiên và bắt sức mạnh của Tự nhiên phải phục vụ các mục đích của mình. Bacon đã chỉ trích nền học vấn và logic truyền thống là chỉ đơn thuần tạo ra tranh cãi, nó quan tâm đến chiến thắng về lý lẽ, chứ không chiến thắng nhờ việc khám phá ra cái chưa biết. Logic mới mẻ của ông đã đề ra phương pháp tư duy mới, nhờ đó mà một kỷ nguyên của những khám phá rộng lớn đã ra đời, và kết quả đem lại là những đồ vật phát minh để phục vụ con người. Con người từ nay từ bỏ nỗ lực vô ích và bất tận nhằm thống trị lẫn nhau, để cùng tham gia vào công việc thống trị Tự nhiên vì lợi ích của nhân loại.

Quan trọng hơn cả, Bacon đã tiên đoán hướng đi sau đó của tiến bộ [khoa học]. Nhưng ông đã “nói hộ” cho sự tiến bộ ấy. Ông không thấy rằng trong một thời gian dài, nền khoa học non trẻ đã buộc phải phục vụ những lợi ích truyền thống của sự bóc lột con người, ông tưởng rằng khoa học sẽ mau chóng đem lại cho con người những mục đích mới mẻ. [Nhưng] thay vì thế, nó lại giúp cho một giai cấp này có thêm phương tiện để càng mở rộng thêm những mục đích truyền thống trong khi một giai cấp khác phải chịu thiệt thòi. Đúng như ông đã dự đoán, cuộc cách mạnh công nghiệp đã diễn ra sau một cuộc cách mạng về phương pháp khoa học. Thế nhưng cuộc cách mạng công nghiệp đã phải mất nhiều thế kỷ mới tạo ra được một tư duy mới mẻ. Chế độ phong kiến tất yếu phải thất bại trước những ứng dụng của nền khoa học mới, bởi vì quyền lực đã bị chuyển từ giới quý tộc địa chủ sang các nhà máy. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã thế chỗ, chứ không phải là một chủ nghĩa nhân văn xã hội. Sản xuất và thương mại được duy trì cứ như thể nền khoa học mới chẳng cố bất kỳ bài học đạo đức nào, mà nó chỉ có những bài học mang tính kỹ thuật về tiết kiệm trong sản xuất và sử dụng việc tiết kiệm ấy vào mục đích tư lợi. Dĩ nhiên, ứng dụng của khoa học tự nhiên (đó là ứng dụng dễ nhận thấy nhất) đã củng cố thêm khẳng định của những người tự nhận là theo chủ nghĩa nhân văn, rằng khoa học là mang tính duy vật chất chủ nghĩa trong những khuynh hướng của nó. Một khoảng trống đã xuất hiện: đâu là những mối hứng thú chỉ con người mới có, vượt ra ngoài việc kiếm tiền, tiết kiệm tiền, và tiêu tiền; và thế là ngôn ngữ và văn chương bèn nhảy vào để đưa ra yêu sách rằng chúng là đại diện cho những mối hứng thú đạo đức và lý tưởng của nhân loại.

(d) Hơn nữa, cái triết lý tự nhận mình là dựa vào khoa học, nó tự xưng là đại biểu có uy tín cho ý nghĩa chung cục của khoa học, thì hoặc là mang đặc điểm nhị nguyên, điều này được thấy rõ ở sự phân biệt rạch ròi giữa tinh thần (cái làm nên đặc trưng của con người) và vật chất (cái làm thành Tự nhiên); hoặc nó mang đặc điểm cơ giới không hề giấu giếm, nó quy giản những đặc điểm quan trọng của đời sống con người thành ảo tưởng. Ở trường hợp thứ nhất, triết lý đó thừa nhận những tuyên bố coi các môn học nhất định nào đó là nơi tiếp nhận cụ thể các giá trị tinh thần, và nó gián tiếp củng cố yêu sách đòi hỏi sự ưu việt của các môn học đó, bởi vì con người có khuynh hướng coi công việc của con người là quan trọng bậc nhất, ít nhất là đối với chính họ. Ở trường hợp thứ hai, nó kêu gọi một sự phản công, nó gieo nỗi hoài nghi và ngờ vực vào giá trị của khoa học tự nhiên, tạo ra lý do để coi khoa học tự nhiên là kẻ thù của những mối hứng thú cao quý hơn của con người.

Trí thức của người Hy Lạp và thời Trung cổ chấp nhận thế giới trong sự đa dạng về đặc tính, và coi các phương pháp của Tự nhiên là có mục đích, hay nói theo ngôn ngữ chuyên môn, chúng mang tính mục đích luận. Nền khoa học mới đã được trình bày với ý định để phủ nhận sự tồn tại thực tế của mọi đặc tính nằm trong sự hiện hữu thực tồn, tức tồn tại khách quan. Âm thanh, màu sắc, tốt và xấu, đều được coi là mang tính chủ quan thuần túy - được coi là những ấn tượng đơn thuần trong trí óc. Khi đó tồn tại khách quan được coi là chỉ mang những nét riêng biệt bề ngoài có tính định lượng - được coi là khối lượng vật chất vô cùng lớn đang di chuyển, khác biệt duy nhất nằm ở chỗ tại một thời điểm này thì tổng số khối lượng vật chất là lớn hơn so với một thời điểm khác, và vật chất tại những điểm nào đó có tốc độ di chuyển với tốc độ lớn hơn so với tại những điểm khác. Bởi thiếu đi những đặc điểm phân biệt định tính, cho nên Tự nhiên hầu như đã không còn tính đa dạng đáng kể. Những sự đồng dạng chứ không phải đa dạng, đã được đề cao; người ta tin vào lý tưởng về việc phát minh ra một công thức toán học độc nhất áp dụng đồng thời cho toàn bộ vũ trụ, nơi bắt nguồn của toàn bộ tính chất đa dạng bề ngoài của các hiện tượng. Đây chính là nghĩa của triết lý cơ giới luận.

Một triết lý như vậy không trình bày ý nghĩa đích thực của khoa học. Nó coi phương pháp kỹ thuật là bản thân sự vật; [nó coi] công cụ và thuật ngữ là thực tại, coi phương pháp là nội dung. Khoa học giới hạn các phát biểu vào các điều kiện cho phép chúng ta dự đoán và kiểm soát khả năng xảy ra của các sự kiện, mà không cần biết đến các đặc tính của các sự kiện ấy. Vì thế mà khoa học mới mang tính chất cơ giới và định lượng. Nhưng mặc dù nó không quan tâm đến những đặc tính của sự kiện, thì nó cũng không thể loại trừ các đặc tính ấy khỏi thực tại, cũng như không thể đẩy chúng xuống một địa hạt thuần túy tinh thần; khoa học chỉ cung cấp các phương tiện có thể sử dụng được vào các mục đích. Như vậy, mặc dù trên thực tế, tiến bộ của khoa học làm tăng ảnh hưởng của con người đối với Tự nhiên, giúp con người có thể đặt các mục đích ấp ủ của nó trên một nền tảng vững chắc hơn bao giờ hết, và ngoài ra có thể đa dạng hóa các hoạt động của mình hầu như theo ý muốn, thế nhưng cái triết lý tự nhận là phát biểu có hệ thống về những thành tựu của khoa học thì lại coi thế giới chỉ là một sự tái phân bố vật chất trong không gian một cách vô mục đích và đơn điệu. Như vậy, tác động trực tiếp của nền khoa học cận đại là nhấn mạnh thêm thuyết nhị nguyên giữa vật chất và tinh thần, và do đó nó thiết lập nên hai nhóm các môn học tách rời nhau: các môn học tự nhiên và các môn học nhân văn. Bởi vì khác biệt giữa “tốt hơn” và “xấu hơn” gắn liền với những đặc tính của kinh nghiệm, vì vậy bất kỳ triết lý khoa học nào loại trừ chúng ra khỏi nội dung đích thực của thực tại thì chắc chắn nó sẽ bỏ qua cái mà loài người coi là hấp dẫn nhất và quan trọng nhất.

Chú thích

  1. Wilhelm Windelband (1845-1915): nhà triết học người Đức.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org