Môi trường xã hội xét như là mang tính giáo dục

3. Môi trường xã hội xét như là mang tính giáo dục

Cho đến đây, kết luận cuối cùng của chúng ta là, môi trường xã hội hình thành nên xu hướng tinh thần và tình cảm của hành vi bằng cách kích thích cá nhân tham gia vào hoạt động làm khơi dậy và củng cố những động lực nào đó - tức những hoạt động có mục đích và đưa đến những hệ quả nhất định. Một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình gồm các nhạc sĩ, bất kể nó có năng khiếu gì về âm nhạc, nó sẽ không tránh khỏi bị kích thích, và so với những năng khiếu khác có thể được đánh thức trong một môi trường khác, thì năng khiếu âm nhạc dễ bị đánh thức hơn cả. Nếu đứa trẻ đó không có hứng thú với âm nhạc và nếu nó không có một năng lực nhất định về âm nhạc, nó sẽ thấy “lạc lõng”; nó không thể tham gia vào cuộc sống của nhóm mà nó thuộc về. Không cá nhân nào tránh khỏi trải qua một số kiểu tham gia vào cuộc sống của những người mà họ sống cùng; môi trường xã hội tạo ra ảnh hưởng có tính giáo dục hoặc đào tạo tới các cá nhân một cách vô tình và độc lập với mọi mục đích có trước.

Ở những cộng đồng dã man và chưa văn minh, sự tham gia trực tiếp như vậy (làm thành giáo dục gián tiếp và ngẫu nhiên mà chúng ta đã đề cập [tại Chương 1]) gần như là ảnh hưởng duy nhất nhằm dạy cho trẻ em những kinh nghiệm và niềm tin của cộng đồng. Thậm chí ở các xã hội của ngày hôm nay, sự tham gia đó vẫn là phương thức học tập cơ bản đối với ngay cả những trẻ em được hưởng giáo dục nhà trường một cách bắt buộc. Có những điều nào đó đã trở thành đối tượng được đề cao, phù hợp với các mối hứng thú và việc làm của cộng đồng; số khác lại là đối tượng của sự ác cảm. Đời sống cộng đồng không tạo ra những động năng hoặc tình cảm yêu và ghét, song nó cung cấp những đối tượng gần với yêu và ghét. Cách thức mà cộng đồng hoặc giai cấp của chúng ta làm điều này điều nọ, đều hướng tới việc quyết định nên những đối tượng được chú ý thực sự và do đó đặt ra những sự điều khiển và ranh giới của quan sát và ghi nhớ. Cái gì kỳ lạ hoặc xa lạ (nghĩa là nằm ngoài những hoạt động của cộng đồng) thì có xu hướng dễ bị cấm về mặt đạo đức và bị ngờ vực trên phương diện tinh thần. Dường như không thể tin nổi rằng, chẳng hạn, những điều mà chúng ta biết rất tường tận thì chúng lại có thể bị bỏ sót tại những thời đại trong quá khứ. Chúng ta có xu hướng giải thích điều đó bằng cách quy sự ngu dốt bẩm sinh cho tổ tiên của mình và cho rằng chúng ta có trí thông minh bẩm sinh cao hơn họ. Song, lý do [thực sự] là, các phương thức sống của họ [tổ tiên chúng ta] không gợi ra sự chú ý tới những sự kiện đó [những điều mà bây giờ chúng ta biết tường tận], mà họ bị thu hút vào những điều khác. Hệt như các giác quan chỉ bị kích thích trước những đối tượng mà chúng có thể nhận ra được, năng lực quan sát, hồi tưởng và tưởng tượng không hoạt động tự phát, chúng được khởi động bởi nhu cầu xuất phát từ những nghề nghiệp xã hội hiện thời. Xu hướng tính cách được hình thành chủ yếu bởi những ảnh hưởng như vậy, độc lập với giáo dục nhà trường. Giáo dục có chủ tâm và hữu thức nhất cũng chỉ giải phóng các năng lực được hình thành theo cách trên để chúng được sử dụng trọn vẹn hơn, loại bỏ những gì thô tục, và cung cấp những đối tượng để giúp cho hoạt động của chúng sản sinh ra ý nghĩa.

Mặc dù “ảnh hưởng vô thức của môi trường” nói trên là rất tinh tế và có mặt ở khắp nơi đến mức chúng gây ảnh hưởng tới từng đặc điểm của tính cách và trí tuệ, nhưng sẽ là quan trọng nếu như nêu cụ thể một vài phương diện cho thấy ảnh hưởng rõ rệt nhất của chúng. Thứ nhất: các thói quen ngôn ngữ. Các phương thức ngôn ngữ cơ bản, số lượng từ vựng hình thành trong quá trình giao tiếp bình thường trong cuộc sống, được duy trì không phải như một phương tiện truyền đạt cố định mà như một tất yếu xã hội. Đứa trẻ tập nhiễm, chúng ta hoàn toàn có thể nói như vậy, tiếng mẹ đẻ. Mặc dù những thói quen nhiễm phải như vậy có thể được sữa chữa hoặc thậm chí được thay thế dựa vào giáo dục có tính hữu thức, song vào những thời điểm kích động, những cách ăn nói học được một cách có chủ đích lại thường biến mất và cá nhân lại quay trở lại với ngôn ngữ thực sự bẩm sinh của họ. Thứ hai: cách cư xử. Làm gương bao giờ cũng nổi tiếng là có sức thuyết phục hơn lời giáo huấn. Cư xử lịch sự, như chúng ta thường nói, xuất phát từ sự giáo dục lễ phép trong gia đình hoặc đúng hơn nó chính là sự giáo dục lễ phép trong gia đình; và người ta học được phép lịch sự bằng hành động lặp đi lặp lại thường xuyên để trả lời tác nhân kích thích lặp đi lặp lại thường xuyên, chứ không phải bằng truyền đạt thông tin. Bất chấp sự uốn nắn và dạy dỗ hữu thức diễn ra không bao giờ ngừng, bầu không khí xung quanh và sự sống xung quanh rốt cuộc mới là tác nhân chính hình thành nên cách cư xử. Và cách cư xử lễ phép chỉ là đạo đức dành cho người vị thành niên. Hơn nữa, ở đạo đức dành cho người thành niên, giáo dục hữu thức có thể chỉ đem lại hiệu quả trong chừng mực nó chiều theo “cách đi đứng và ăn nói” phổ biến của những người làm thành môi trường xã hội của đứa trẻ. Thứ ba: sở thích tao nhã và khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Nếu đôi mắt thường xuyên nhìn thấy những vật cân đối, có hình dáng và màu sắc tao nhã, một chuẩn mực về sở thích sẽ đương nhiên phát triển. Một môi trường lòe loẹt, lộn xộn và được trang hoàng thái quá sẽ làm hỏng sở thích, hệt như khung cảnh nghèo nàn và cằn cỗi không tạo ra sự khát khao cái đẹp. Trước sự bất lợi như vậy, giáo dục hữu thức hầu như chỉ có thể truyền đạt kiến thức trung gian (second-hand knowledge) liên quan đến những gì mà người khác nghĩ. Với tính chất như vậy, sở thích không bao giờ trở thành mang tính tự phát và ăn sâu trong cá nhân, mà nó vẫn tiếp tục là một sự nhắc nhở lặp đi lặp lại về suy nghĩ của những người mà ta được dạy phải kính trọng. Nói rằng một người hình thành nên các chuẩn mực đánh giá giá trị sâu sắc hơn qua các tình huống tham gia quen thuộc của anh ta, là chưa đủ để đề cập thành điểm thứ tư, bởi đó là sự hợp nhất của những điểm đã được trình bày. Chúng ta hiếm khi phân biệt được phạm vi của phán đoán hữu thức về điều gì có giá trị và điều gì vô giá trị, bởi chúng ta không hề ý thức được các chuẩn mực đánh giá. Nhưng nhìn chung có thể nói rằng, những điều mà chúng ta cho là hiển nhiên mà không cần tìm hiểu hoặc ngẫm nghĩ kỹ lưỡng, thì đó là những điều định đoạt suy nghĩ hữu thức và các quyết định của chúng ta. Và những thói quen nằm ở bên dưới cấp độ của suy tưởng như vậy chính là những thói quen được hình thành qua sự trao đổi diễn ra liên tục giữa chúng ta và những người khác.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org