Môi trường xã hội

2. Môi trường xã hội

Bất kỳ ai có hoạt động liên quan đến người khác thì đều có một môi trường xã hội. Việc anh ta làm gì, anh ta có thể làm được gì, phụ thuộc vào những kỳ vọng, yêu cầu, sự tán thưởng và sự lên án của người khác. Nếu một người có mối liên kết với những người khác, người ấy không thể hành động mà không tính đến hành động của những người kia. Bởi vì họ là những điều kiện không thể thiếu để anh ta nhận ra những khuynh hướng của mình. Nếu anh ta di chuyển, anh ta sẽ kích thích những người khác di chuyển theo và ngược lại. Nếu chúng ta tưởng rằng có thể định nghĩa được hoạt động của một cá nhân theo những hành động biệt lập của anh ta, thì chỉ cần hãy tưởng tượng một thương gia đang làm công việc kinh doanh, mua và bán, hoàn toàn chỉ có một mình. Dù ngồi lập kế hoạch một cách kín đáo trong phòng tài vụ của mình hay khi đang mua nguyên liệu hoặc tiêu thụ thành phẩm, nhà sản xuất vẫn thực sự chịu sự điều khiển của xã hội như nhau. Suy tư và tình cảm nào có liên quan tới hành động trong mối liên kết với những người khác thì đó cũng là một phương thức của ứng xử xã hội hệt như hành động hợp tác hoặc thù địch bộc lộ rõ ràng ra ngoài.

Chúng ta cần chỉ ra cụ thể hơn rằng, bằng cách nào môi trường xã hội có thể giáo dục các thành viên non nớt của nó. Hiểu được bằng cách nào môi trường ảnh hưởng tới những thói quen hành động bên ngoài, là điều không khó. Ngay cả loài chó và mèo cũng thay đổi hành vi khi tiếp xúc với con người; chúng nhiễm thói quen mới bởi vì con người can dự vào điều chúng làm. Con người điều khiển súc vật bằng cách điều khiển tác nhân kích thích tự nhiên nào gây ảnh hưởng tới chúng; nói cách khác, bằng cách tạo ra môi trường nhất định nào đó. Con người sử dụng những mẩu thức ăn, dây cương, tiếng động, xe cộ để hướng dẫn cách thức xuất hiện của các phản ứng tự nhiên hoặc bản năng ở con ngựa. Bằng cách kiên trì điều khiển như vậy cho tới khi kích thích được hành vi nhất định nào đó, các thói quen được hình thành và vận hành theo một cách bất biến như thể lần đầu tiên chúng bị kích thích. Nếu bỏ một con chuột vào một mê cung và con chuột tìm được thức ăn sau khi thực hiện một số lần đổi hướng nhất định theo một trình tự nhất định, hành động đó của con chuột sẽ dần dần bị điều chỉnh cho tới khi con chuột có thói quen đi theo đúng lộ trình đó thay vì lộ trình khác khi nó đói.

Hành vi của con người cũng bị điều chỉnh theo một cách tương tự. Một đứa trẻ bị bỏng thì sợ lửa; nếu một ông bố bà mẹ thu xếp những điều kiện sao cho hễ khi nào đứa trẻ chạm vào một đồ chơi nhất định nào đó thì nó bị bỏng, thì đứa trẻ đó sẽ học cách tránh đồ chơi đó một cách máy móc hệt như nó tránh đụng vào lửa. Tuy nhiên, cho tới đây chúng ta đang đề cập tới cái có thể được gọi là huấn luyện để phân biệt với việc dạy mang tính giáo dục. Những sự khác biệt được xem xét đến nằm ở hành động bề ngoài hơn là nằm trong xu hướng tinh thần và tình cảm của hành vi. Tuy vậy, sự phân biệt [giữa huấn luyện và giáo dục] là không dễ nhận ra. Có thể tin rằng, theo thời gian, một mối ác cảm quá đáng sẽ hình thành trong đứa trẻ đó, không chỉ đối với cái đồ chơi cụ thể nói trên mà còn đối với loại đồ chơi giống như thế. Mối ác cảm có thể tồn tại dai dẳng cho tới khi đứa trẻ đó quên những lần bị bỏng đầu tiên; khi lớn lên nó có thể bịa ra lý do nào đó để giải thích mối ác cảm dường như vô lý đó của mình. Trong nhiều trường hợp, thay đổi môi trường để tác động tới tác nhân kích thích nhằm thay đổi thói quen hành động trước kích thích bên ngoài sẽ làm thay đổi luôn cả khuynh hướng tinh thần liên quan đến hành động ấy. Tuy vậy, điều này không phải lúc nào cũng xảy ra; một người được huấn luyện để tránh một cú đánh đe dọa có thể tự động tránh được cú đánh mà không hề có ý nghĩ hoặc cảm xúc tương ứng. Như vậy, chúng ta buộc phải tìm ra một số dấu hiệu phân biệt giữa huấn luyện và giáo dục.

Có thể tìm thấy đầu mối trong sự kiện rằng, hành động của con ngựa không thực sự đóng góp vào mục đích xã hội. Nếu có ai đó khác sử dụng con ngụa để đạt được một kết quả có lợi hơn bằng cách bắt con ngựa thực hiện hành động có lợi hơn - anh ta kiếm thức ăn cho nó v.v... Song, con ngựa có lẽ không có thêm bất kỳ mối quan tâm mới mẻ nào. Nó quan tâm đến thức ăn chứ không quan tâm đến sự phục vụ mà nó đem lại. Nó không phải là cộng sự trong một hoạt động có sự chia sẻ trách nhiệm. Nếu như con ngựa có thể trở thành một cộng sự, thì trong khi nó tham gia vào hoạt động kết hợp, nó sẽ phải có cùng mối quan tâm tới kết quả công việc của nó giống như các cộng sự khác. Nó sẽ phải chia sẻ những ý kiến và cảm xúc.

Bởi chưng, trong rất nhiều trường hợp - quá nhiều trường hợp là đằng khác - hoạt động của trẻ em non nớt chỉ đơn thuần được lợi dụng nhằm giữ cho chúng có được các thói quen có ích. Trẻ em được huấn luyện như một con vật hơn là được giáo dục như một con người. Các bản năng của nó vẫn gắn với những đối tượng của đau đớn và khoái lạc lần đầu tiên nó gặp phải. Nhưng để có được hạnh phúc hoặc để tránh đau khổ do thất bại, nó phải hành động theo cách nào đó mà người khác tán thành. Trong những trường hợp khác, nó chia sẻ hoặc tham gia thực sự vào hoạt động chung. Trong trường hợp như vậy, động năng ban đầu của nó bị điều chỉnh. Trẻ em không chỉ hành động theo một cách nào đó phù hợp với hành động của người khác, mà trong khi làm điều ấy, những ý kiến và xúc cảm xuất hiện trong nó cũng truyền sức sống sang những người khác. Một bộ lạc chẳng hạn, là cộng đồng hiếu chiến. Những thành công mà bộ lạc cố gắng để đạt được, những thành tựu mà bộ lạc đó đề cao, đều có liên hệ với chiến đấu và thắng lợi. Trong môi trường như vậy, một đứa trẻ sẽ được khuyến khích bộc lộ những tình cảm hiếu chiến, đầu tiên là trong các trò chơi, sau đó là trong chiến đấu thực sự khi mà nó có đủ sức mạnh. Chừng nào mà nó chiến đấu, nó nhận được sự tán thưởng và công nhận; nếu nó không làm điều đó, nó sẽ bị ghét bỏ, bị chế nhạo, bị từ chối sự khen ngợi. Không có gì lạ, rằng những khuynh hướng và tình cảm hiếu chiến của nó được củng cố trong khi những khuynh hướng và tình cảm khác bị hi sinh; rằng hiểu biết của nó bắt đầu hướng tới những điều gắn liền với xung đột. Chỉ có bằng cách như vậy nó mới trở thành một thành viên được cộng đồng công nhận chính thức. Như vậy, những thói quen tinh thần của nó dần dần được điều chỉnh để đồng hóa vào những thói quen của cộng đồng.

Nếu chúng ta phát biểu nguyên lý liên quan tới thí dụ minh họa trên, chúng ta sẽ thấy rằng môi trường xã hội không trực tiếp làm cho đứa trẻ quen với những mong muốn và quan niệm nhất định, nhưng cũng không đơn thuần thiết lập những thói quen hành động thuần túy cơ bắp nhất định nào đó, chẳng hạn nhắm mắt hoặc tránh một cú đánh “theo bản năng”. Cung cấp các điều kiện để kích thích cách hành động hữu hình và cụ thể nào đó, chỉ là bước đầu tiên. Làm cho một cá nhân trở thành một người biết chia sẻ hoặc là cộng sự trong hoạt động chung sao cho cá nhân ấy coi thành bại của cộng đồng cũng là thành bại của chính mình, mới là bước hoàn thành. Ngay sau khi cá nhân ấy bị kiểm soát bởi thái độ tình cảm của cộng đồng, anh ta sẽ nhạy bén nhận ra được những mục đích riêng mà cộng đồng ấy nhắm tới và những phương tiện được sử dụng để đạt được mục đích. Nói cách khác, anh ta hình thành những niềm tin và hiểu biết giống như những niềm tin và hiểu biết của những người khác trong cộng đồng. Ngoài ra, anh ta sẽ tích lũy được kho hiểu biết hầu như không khác gì so với những người khác bởi những hiểu biết đó gắn liền với những hoạt động quen thuộc của anh ta.

Vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong việc tiếp thu sự hiểu biết chắc chắn là nguyên nhân chính dẫn tới quan niệm phổ biến cho rằng có thể truyền trực tiếp sự hiểu biết từ người này sang người khác. Dường như thể tất cả những gì chúng ta phải làm để truyền một hiểu biết vào tâm trí của người khác là truyền một âm thanh vào tai người ấy. Như vậy, truyền đạt kiến thức trở nên đồng nghĩa với một quá trình vật lý đơn thuần. Song, sự học tập dựa vào ngôn ngữ, khi được đem ra phân tích, được thấy rằng nó khẳng định cái nguyên lý vừa được thừa nhận ở trên. Có lẽ chúng ta sẽ không mấy do dự thừa nhận rằng một đứa trẻ học khái niệm chiếc mũ, chẳng hạn, bằng cách bắt chước cách sử dụng chiếc mũ giống như người khác; bằng cách đội chiếc mũ lên đầu, đưa chiếc mũ cho người khác để người đó đội lên đầu, yêu cầu người khác đội mũ khi ra khỏi nhà v.v... Song người ta có thể vặn hỏi rằng bằng cách nào nguyên lý hành động chia sẻ nói trên có thể áp dụng đối với trường hợp học một khái niệm dựa vào phương tiện lời nói và đọc, khái niệm một chiếc mũ sắt của người Hy Lạp chẳng hạn, khi mà không có bất kỳ sự sử dụng trực tiếp nào giống như trường hợp của chiếc mũ nói trên. Hành động chia sẻ nào xảy ra trong quá trình tìm hiểu một cuốn sách nói về sự phát hiện ra châu Mỹ?

Bởi vì ngôn ngữ có khuynh hướng trở thành công cụ chính yếu để học rất nhiều điều, chúng ta hãy xem thử nó hoạt động thế nào. Đứa trẻ mới sinh ra dĩ nhiên chỉ bắt đầu với những âm, những tiếng phát ra và giọng nói không có nghĩa, tức chẳng bày tỏ một ý kiến nào cả. Âm thanh chỉ là một loại tác nhân kích thích để tạo ra sự phản ứng trực tiếp, một số âm thanh có tác dụng xoa dịu, số khác có khi khiến người ta giật mình v.v... Âm h-a-t sẽ vẫn mãi là một âm thanh vô nghĩa như thể một âm trong ngôn ngữ của bộ tộc người Mỹ bản địa Choctaw, giống như một âm thanh cằn nhằn không cấu âm rõ ràng, nếu như nó không được nói ra trong mối liên hệ với một hành động có nhiều người cùng tham gia. Khi người mẹ đem đứa bé ra ngoài trời, bà ta nói “hat” trong khi đặt vật gì đó lên đầu đứa bé. Việc được đem ra ngoài trời trở thành một mối hứng thú đối với đứa bé; bà mẹ và đứa con không chỉ cùng nhau ra ngoài trời theo nghĩa cụ thể, mà cả hai còn liên quan tới hành động đi ra ngoài trời đó; hai mẹ con cùng hưởng chung cảm giác vui thú khi ở ngoài trời. Cùng với những yếu tố khác nữa gắn liền với hành động, âm “hat” nhanh chóng có cùng chung một nghĩa đối với đứa bé cũng như đối với mẹ của nó; nó trở thành một dấu hiệu báo cho đứa bé biết hành động mà nó sắp tham gia. Chỉ duy sự thật rằng ngôn ngữ gồm những âm có thể hiểu được với cả hai bên tự nó đã đủ để cho thấy rằng nghĩa của ngôn ngữ phụ thuộc vào mối liên hệ gắn với một trải nghiệm được chia sẻ.

Nói ngắn gọn, âm “h-a-t” trở thành âm thanh có nghĩa theo đúng như cách mà đồ vật “cái mũ” có được ý nghĩa đó, tức bằng cách chúng được sử dụng theo một phương cách nhất định nào đó. Và đứa trẻ và người lớn đều có cách hiểu như nhau đối với âm h-a-t và đồ vật “cái mũ” bởi âm h-a-t và cái mũ đều được sử dụng trong một kinh nghiệm chung mà cả hai cùng tham gia. Điều đảm bảo để có được cách sử dụng giống nhau [giữa âm và đồ vật] nằm ở sự kiện rằng đồ vật và âm trước hết được sử dụng trong một hành động chung xét như là một phương tiện để thiết lập mối liên hệ thực sự giữa đứa trẻ và một người trưởng thành. Đứa trẻ và người trưởng thành có cùng những cách hiểu hoặc ý nghĩa như nhau bởi vì họ tham gia như các cộng sự vào một hành động nơi mà điều mỗi người làm phụ thuộc và ảnh hưởng tới điều mà người kia làm. Nếu hai người man rợ cùng tham gia vào một cuộc đi săn thú rừng, và có một hiệu lệnh nào đó có nghĩa là “di chuyển sang bên phải” đối với người nói ra song lại có nghĩa “di chuyển sang bên trái” đối với người nghe thấy hiệu lệnh đó, thì rõ ràng họ không thể cùng nhau tiếp tục thực hiện chuyến đi săn một cách thành công. Người này hiểu được người kia có nghĩa là những đối tượng, trong đó có các âm, phải có cùng giá trị đối với cả hai người liên quan đến việc thực hiện một công việc chung.

Sau khi âm đã có nghĩa nhờ mối liên hệ với đồ vật được sử dụng trong hành động chung, chúng có thể được sử dụng trong mối liên hệ với các âm khác có nghĩa tương tự, để tạo ra nghĩa mới, hệt như cách mà đồ vật được chuyên chờ nghĩa bởi các âm đó kết hợp với nhau. Như vậy, những từ mà một đứa trẻ nghe thấy, chẳng hạn “mũ sắt Hy Lạp”, khởi thủy mang một nghĩa nào đó (hoặc được hiểu theo một nghĩa nào đó) bởi nó được sử dụng trong một hành động có mối hứng thú và mục đích chung. Giờ đây từ “mũ sắt Hy Lạp” làm xuất hiện một nghĩa mới bằng cách nó kích thích người nào nghe thấy âm hoặc đọc chữ “mũ sắt Hy Lạp” phải hình dung trong đầu các hoạt động có sử dụng chiếc mũ sắt đó. Lúc này, người hiểu được nghĩa của từ “mũ sắt Hy Lạp” đã trở thành cộng sự trong tưởng tượng của những người đã từng đội loại mũ sắt đó. Anh ta tham gia tưởng tượng vào một hành động chung. Hiểu được nghĩa đầy đủ của từ là điều không dễ. Hầu hết chúng ta có lẽ chỉ dừng lại ở suy nghĩ cho rằng “mũ sắt” hàm nghĩa một vật đội đầu kỳ quặc mà một dân tộc có tên là Hy Lạp một thời đã dùng nó. Vì thế, chúng ta kết luận rằng, sử dụng ngôn ngữ để chuyển tải và học các khái niệm tức là mở rộng và làm tinh tế nguyên lý cho rằng sự vật có nghĩa bởi chúng được sử dụng trong một kinh nghiệm chia sẻ hoặc trong một hành động chung; điều này không mâu thuẫn với nguyên lý trên, hiểu theo bất kỳ nghĩa nào. Khi từ ngữ không tham gia như các nhân tố trong một tình huống chia sẻ, hoặc công khai hoặc trong trí tưởng tượng, chúng hoạt động như là kích thích vật lý chứ không phải cái có nghĩa hoặc có giá trị trí tuệ. Chúng bắt hành động vận hành theo một lối mòn nhất định nhưng không hề có bất kỳ mục đích hoặc ý nghĩa hữu thức nào đi kèm. Như vậy, chẳng hạn, dấu cộng có thể là một kích thích để tạo ra hành động viết một con số bên dưới một con số khác và cộng các con số với nhau, song người thực hiện hành động đó sẽ thao tác gần như một người máy trừ phi anh ta hiểu được ý nghĩa của điều mình đang làm.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org