Lựa người làm

Chương nhì: Lựa người làm

I. Công việc phải hợp với tâm lí và sinh lí mỗi người.

II. Ích lợi của sự lựa người làm.

III. Những lời chỉ trích.

IV. Cách lựa.

1. Theo thị hiếu.

2. Theo tài năng.

2A- Các hạng người

2B- Không hạng nào quí hơn hạn nào

2C- Sắp đặt theo tài năng

2D- Bảng ghi tài năng.

2E- Thẻ của thợ

3. Theo tính tình

4. Vài kết quả. Kết luận.

5. Diện mạo giúp ta biết người.

I. Công việc phải hợp với tâm lí và sinh lí mỗi người

Ta phải lựa người làm mà giao công việc để đạt được mực tối cao của năng lực sản xuất mà không đi ngược với những nhu cầu tâm lí và sinh lí của mỗi người.

Về tâm lí, ta thấy đàn bà khác đàn ông. Đàn bà có lòng nhân từ nhưng phần tình cảm thắng phần lí trí, cho nên rất tận tâm nhưng cũng dễ cố chấp. Đàn ông, vì lí trí thắng tình cảm, cho nên sáng suốt hơn, quả quyết hơn nhưng có phần ích kỉ.

Đó là nói về phần đông. Trong số đàn bà và đàn ông cũng có người nóng nảy, có kẻ điềm tĩnh, có người hăng hái, có kẻ lạnh lùng. Giao một công việc tỉ mỉ cho người nóng nảy, hoặc công việc điều khiển một đoàn thể cho kẻ lãnh đạm, tức là mua trước sự thất bại.

Về sinh lí, ta thấy có hạng người bắp thịt nổi khắp mình, có hạng người mà toàn thân chỉ là một bó gân hoặc một bao mỡ.

Taylor đã nghiên cứu công việc vác những thỏi gang để đặt vào xe. Trung bình trong 8 người thợ, ông chỉ lựa được một người “vai u thịt bắp” (không có nghĩa gì khinh bỉ trong bốn tiếng ấy hết), hợp với công việc đó. Lựa được người rồi, ông cho họ nghỉ một chút sau khi vác được 10 hoặc 20 thỏi gang. Kết quả là công việc làm mau hơn trước gấp 4 lần.

Một người khác đã thí nghiệm thấy rằng những bắp thịt của bàn tay co vào duổi ra nhiều lắm, mỗi phút được 120 lần. Nếu dùng một cái máy để bắt những bắp thịt đó co vào 150 lần trong một phút và như vậy trong 5 phút liên tiếp thì khi nghỉ, bàn tay sẽ cứng đơ và 1 giờ sau bàn tay mới cử động lại được. Nếu làm như vậy trong 10,15 phút thì bàn tay sẽ không cử động được nữa, cho tới suốt đời người.

Nhưng mỗi phút co vào 120 lần thì tuy mau mà chóng mệt. Mỗi phút co 30 lần thì không mệt chút nào nhưng quá chậm. Lợi hơn hết là bắt co mỗi phút 60 lần thôi (nghĩa là nửa số tối đa 120/2 = 60). Như vậy vừa mau mà vừa làm hoài không mệt.

II. Ích lợi của sự lựa người làm

Những điều trên kia chỉ rằng nếu biết theo những luật tâm lí và sinh lí của loài người thì năng lực sản xuất lên cao được nhiều.

Không những như vậy, sự lựa người làm còn có những ích lợi sau này:

Khi công việc hợp với thể chất và tài năng một người, thì người đó thích làm và muốn tập tành thêm cho mỗi ngày mỗi khéo.

Người đó không muốn đổi nghề và do đó nhân viên trong xí nghiệp quyến luyến chủ hơn. Người ta đã nghiệm rằng 30% những người xin thôi việc là vì công việc không hợp với họ.

Số tai nạn xảy ra trong khi làm việc sẽ bớt đi vì thợ chú ý tới công việc hơn và không vụng về, không phải làm quá sức.

III. Những lời chỉ trích

Chắc bạn sẽ nói:

Nhưng nghề cũng có ảnh hưởng tới người ta vậy. Một người tính nóng nảy, nếu tập cho họ làm những công việc tỉ mỉ thì lâu họ cũng thành kiên tâm được. Vả lại nếu trong 8 người chỉ lựa được một người phu vác như Taylor đã làm, thì 7 người kia sẽ bị đuổi đi và số người thất nghiệp tăng lên nhiều lần.

Đã đành nghề ảnh hưởng tới người nhưng nếu ta bắt một người làm một việc không phù hợp với họ thì trong khi làm họ phải đè nén những xu hướng, bản năng của họ, khổ cho họ lắm. Nếu có thành công nữa thì cũng phải lâu. Như vậy không có ích gì cho họ và cho ta hết. Còn sự làm tăng số người thất nghiệp thì khỏi lo, vì 7 người kia ta sẽ dùng vào công việc khác hợp với họ hơn và nhờ đó họ sẽ có tương lai hơn.

IV. Cách lựa

Ta phải lựa theo:

Thị hiếu

Tài năng, thể chất, tính tình họ.

1. Lựa người theo thị hiếu

Thị hiếu là cái mà ta ưa thích, ham mê. Theo lệ thường, ai có tài về việc gì thì muốn được làm việc ấy. Người có hoa tay thì ưa vẽ, người có khiếu về toán thì thích làm kĩ sư. Nhưng cũng có khi thị hiếu không hợp với tài năng. Cho nên ở trong xã hội có người thiệt thà mà thích buôn bán, không có khiếu về văn thơ mà lại sính làm thơ. Trong lòng người ta có những mâu thuẫn như vậy. Gặp những trường hợp đó, ta phải giảng giải cho người ấy hiểu rằng công việc họ muốn làm cần có những tài năng mà họ thiếu, và tài năng của họ hợp với việc khác hơn. Nếu giảng kỉ cho họ rồi, mà họ vẫn nhất định đòi làm cho được thì ta cũng để cho họ làm, vì bất kì công việc nào, sự ham thích là điều kiện cốt yếu để thành công. Nếu ta ham làm thơ thì dù không có năng khiếu, mà chịu kiên nhẫn tập tành cũng thành một thi nhân trung bình được. Còn như có hoa tay mà lại ghét vẽ, không chịu học vẽ, thì cũng không sao thành hoạ sĩ.

Tuy vậy cũng phải phân biệt thị hiếu và lòng ham nhất thời. Tôi rất thích đàn, luyện từ sáng đến tối, bạn bè mỉa mai, tôi không nản lòng, đâu có hoà nhạc thì dù xa xôi mưa gió tôi cũng tới, như vậy hàng năm mà không biết chán. Đó là thị hiếu.

Anh bạn tôi nghe một cuộc hoà đàn, cảm vì những bản nhạc, lại thấy nhạc sĩ được nhiều người mến, mau có tên tuổi, anh thích nghề đó liền, về nhà hăng hái học, nhưng chỉ ít bữa là chán. Đó không phải là thị hiếu mà là sự ham muốn nhất thời.

Nên cho mỗi người thợ lựa công việc theo thị hiếu của họ nhưng nhất quyết phải đánh đổ lòng ham thích nhất thời của họ.

Đại khái người ta biết rằng những người hung tợn thường làm nghề đồ tể, những người lãnh đạm, có thứ tự, giỏi lí luận, biết tự chủ, thường lựa nghề kĩ sư, nhưng vì ít ưa giao du cho nên không nên cho cai quản một xí nghiệp. Kẻ ưa tĩnh, không chịu bó buộc, bao giờ cũng lựa nghề tự do. Những thầy thông thầy kí phần nhiều là những người ốm, gầy, ít vui, chăm chỉ, kiên tâm, có thứ tự, ít hoạt động, có ý tứ, cẩn thận, cần kiệm và hay lo xa. Trái lại những người bán hàng, giao thiệp nhiều, thường là người tròn, mập vui tính, có óc thực tế, nhưng không cần kiệm và ít thành thật.

2. Lựa người theo tài năng

Có những tài năng thuộc về:

- Thể chất: tài vác nặng, tài leo, tài lặn...

- Giác quan: tay khéo, mắt nhanh, tai thính...

- Trí tuệ: nhớ dai, mau hiểu, dễ chú ý, giàu tưởng tượng...

Muốn đoán được tài năng mỗi người, phải biết thể chất và tính tình họ.

2A. Các hạng người

Đã có nhiều nhà tâm lí, sinh lí và coi tướng chia loài người ra làm nhiều hạng tùy theo thể chất và tính tình. Mỗi người đứng về một phương diện, chia theo một lối, sắp đặt theo một cách, một quan niệm. Các y sĩ chia loài người ra làm 4 hạng:

a) Hạng đảm chất (temperament bilieux), trong máu có nước mật (cũng kêu là đảm trấp) da thường nóng, khô vàng, nhiều xương, ít thịt, tính tình nóng nảy, hiếu thắng, hay ghen.

b) Hạng lâm ba chất (temperament lymphatique) có nhiều mỡ, da hồng hào, mát, bắp thịt nhão, làm biếng, không hoạt động. Lâm ba là một chất trong huyết trắng. Người Trung Quốc dịch âm chữ lymphe rồi ta phiên dịch âm lại thành ra lâm ba.

c) Hạng thần kinh chất (temperament nerveux) thần kinh mẫn tiệp, mắt sáng, ưa hoạt động nhưng không bền chí, tưởng tượng mạnh và có sáng kiến.

d) Hạng huyết chất (temperament sanguine) nhiều huyết, da hồng hào và nóng, ăn nhiều, ngủ cũng nhiều, rất hoạt động, dễ cảm, nhưng nông nổi, ít suy nghĩ.

Tuy chia ra làm 4 hạng như vậy, nhưng ít có người ở riêng một hạng nào lắm. Do sự di truyền mà thể chất người ta thường ở trong 2 hoặc 3 hạng, hỗn hợp với nhau.

2. Nhà tâm lí Leone Bourdel cũng chia loài người làm 4 hạng:

a) Hạng điều hoà (harmonique), dễ cảm và hiểu xã hội chung quanh nhưng chỉ có thể phát triển khi hoàn cảnh hợp với họ. Những nghệ sĩ ở trong hạng này.

b) Hạng hạp điệu (mélodique) ở trong hoàn cảnh nào cũng phát triển được vì họ khéo biến thông để cho thích hạp với hoàn cảnh. Các người bán hàng và các nhà ngoại giao ở trong hạng này.

c) Hạng tiết tấu (rythmique) nhất định giữ ý của họ, mục đích của họ, ngoài ra họ không cần hiểu cái gì hết. Họ thường là những người độc tài, nghiêm khắc. Các tướng sĩ ở trong hạng này.

d) Hạng hỗn hợp có đủ tính tình phải trái nhau của 3 hạng trên cho nên hay dời đổi.

Bốn hạng đó hợp với 4 thứ máu A, B, O, AB, hạng điều hoà có nhiều máu A, hạng tiết tấu có nhiều máu B, hạng hạp điệu có nhiều máu O, hạng hỗn hợp có nhiều máu AB (1)

Ngoài ra, tính tình người ta từ nhỏ tới già còn thay đổi tùy theo tuổi.

Tới 7 tuổi con nít dễ cảm xúc nhất.

Từ 7 đến 14 tuổi, con nít khó bảo nhất, bướng nhất.

Từ 14 đến 21 tuổi, tính tình không nhất định hay do dự, lo lắng nhiều tình cảm và năng lực.

Từ 21 đến 28 tuổi, thanh niên biết thích ứng với hoàn cảnh nhưng dễ bị cảm hoá.

Từ 28 đến 35 tuổi, có tánh xã giao, hợp quần

Từ 35 đến 42 tuổi, năng lực làm việc mạnh nhất.

Từ 42 trở đi, cố chấp không chịu bỏ thói quen và tật của mình.

3.Claude Sigaud cũng chia làm 4 hạng;

a) Hạng tiêu hoá mạnh, tính tình lãnh đạm, thích yên tĩnh

b) Hạng hô hấp mạnh, dễ cảm xúc

c) Hạng nhiều bắp thịt, vui vẻ, tận tâm nhưng ít chịu suy nghĩ

d) Hạng đầu óc, thích suy nghĩ.

4. Garin, giám đốc viện xét tính tình ở Genève (Thụy Sĩ) chia ra 5 hạng.

a) Hạng tiêu hoá, mặt nở, tròn, nhiều thịt, ít xương, bộ tiêu hoá rất mạnh, làm biếng, bảo thủ, làm công chức hoặc làm bếp thì rất hợp.

b) Hạng cử động, mặt gân guốc, nhiều xương, ít thịt, má gồ, cầm đưa ra, thích làm công việc nặng nhọc.

c) Hạng đa cảm, nét mặt thanh tú, không ưa việc nặng, thích khoa học và nghệ thuật.

d) Hạng điều hoà, ưa những địa vị chỉ huy như trong quân đội, chính trị, tư pháp.

e) Hạng không điều hoà, tính tình không đoán được.

5. Nhưng có lối sắp đặt này của Ducoteau là có ích cho công việc lựa thợ hơn hết. Ông chia hạng thợ, nghĩa là hạng nhiều bắp thịt của Sigaud, hoặc hạng cử động của Garin ra làm 4, tùy theo sức nhanh, sự khéo léo, sức dai và sức mạnh, rồi lấy chữ đầu: N (nhanh) K (khéo), D (dai), M (mạnh) để đặt tên (tiếng Pháp là V (Vitesse), A (Adresse), R (Résistance), F (force).

Hạng người chạy đua một quãng đường ngắn chỉ cần nhanh chứ không cần khéo, dai và mạnh, ở vào hạng N k d m (N là nhanh, cần hơn hết, cho nên in chữ lớn)

Nếu quãng đường hơi dài, cần phải khéo léo trước hết thì phải dùng hạng người n K d m (K là khéo léo, cần hơn hết cho nên in chữ lớn)

Nếu quãng đường rất dài, cần sức dai trước hết thì phải lực người ợ hạng n k D m.

Nếu công việc gì cần mạnh trước hết thì phải dùng người ở hạng n k d M.

Muốn cho dễ nhớ, ta có thể lấy chữ N để chỉ sức nhanh, chữ h để chỉ sự khéo (h là chữ thứ nhì trong chữ khéo), chữ a để chỉ sức dai (a là chữ thứ nhì trong chữ dai) và chữ m để chỉ sức mạnh.

Ghép lại thành N h a m dễ nhớ hơn là N k d m.

2B. Không hạng nào quý hơn hạng nào

Bảo trong những hạn người đó, có hạng quý, có hạng hèn, là không có tinh thần khoa học. Con dao cạo không quý hơn con dao rựa, vì nếu ta cần chặt cây, đẽo gỗ thì dao cạo có ích gì cho ta đâu, mặc dầu nó rất bén, rất đắc tiền. Trái lại một con dao rựa dù cùn cũng giúp cho ta được nhiều trong việc đó. Giá trị của người cũng như của vật chỉ là tương đối, không khi nào tuyệt đối. Cho nên sau chiến tranh, những thợ nề, thợ mộc, thợ máy, tới đâu cũng có người dùng, còn những thầy kí thầy thông ít khi kiếm được việc. Biết dùng người và vật cho phải có chỗ, phải việc thì người nào cũng đáng trọng, vật nào cũng đáng quý.

2C. Sắp đặt thợ theo tài năng

Ở chương trên, các bạn đã biết rằng muốn đo tài năng, trí tuệ và tính tình mỗi người, cần có những trắc nghiệm. Trắc nghiệm nào cũng chỉ cho ta cách cho điểm. Nếu có thể được nên cho từ 0 đến 10 điểm, rồi ghi những điểm đó trên đường ngang OX. Trên đường dọc OY, ghi số người được điểm. Ví dụ thử 3000 người. Có 50 người được từ 1 đến 2 điểm, bạn gạch đường ab ngang với số 50 (coi hình dưới). Có 100 được từ 2 đến 3 điểm, bạn gạch đường cd ngang với số 100. Có 200 người được từ 3 đến 4 điểm, bạn gạch đường ef ngang với số 200 v.v...Rồi vẽ một đường cong để nối những đường ngang đó lại. Đường cong của bạn giống cái hình chuông.

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-27.jpg

Sau cùng bạn chia hình đó ra làm 4 phần bằng những đường dọc đi ngang qua số 10, số 7, số 5,5 và số 4. Những phần đó là I, II, III, IV. Người nào ở trong phần I (nghĩa là được từ 7 điểm trở lên) vào hạng rất tốt, ở trong phần II là hạng tốt, ở trong phần III là hạng tầm thường, ở trong phần IV là hạng dở.

2D. Bảng ghi tài năng

Khi đã biết một người thợ có những tài năng gì và hợp với công việc nào rồi, ta lập bảng sau đây:

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-28.jpg

Thợ Ng-V-H rất giỏi về việc khiêng gạch, xách nước, đào đất, nhưng phải dùng người đó làm thợ nề vì trong xưởng thợ nề hiếm mà những công việc kia thì nhiều người quá rồi.

2E.Thẻ của thợ

Ngoài ra lại phải làm một cái thẻ (fiche) cho mỗi người thợ, trên đó biên:

1. Tên, họ, tuổi, chỗ ở

2. Học nghề những khoá nào.

3. Trước đã làm ở đâu, các chủ trước xét ra sao?

4. Gia đình ra sao?

5. Thể chất và tính tình thuộc hạng nào? (điều hoà hay hạp điệu, tiết tấu? N k d m, hay n K d m, hay n k D m, hay n k d M?

6. Giỏi về những việc gì?

7. Dở về những việc gì?

8. Nên giao những công việc gì cho người đó? Phải hướng dẫn họ ra sao?

9. Cách dùng người đó ra sao? Nên ngọt hay nên xẵng? Nên trả lương lối nào? Nên chỉ trích người đó không hay để cho họ tự ý làm?

10. Phải coi chừng người đó ở phương diện nào?

Thẻ làm rồi, ta nên cho thợ biết khoản 6 và 7 trong thẻ để thợ biết sở trường, sở đoản của họ mà học tập sửa đổi.

3. Theo tính tình

Nhưng lựa thợ theo tài năng, chưa đủ, vì vẫn có thể sai lầm được, cho nên còn phải lựa theo tính tình nữa. Năm 1947, ở Mỹ đã một triệu thợ được lựa theo tính tình rồi mới giao việc, và người ta nhận thấy năng lực của họ tăng lên được từ 10 đến 30%.

Hãng đóng phi cơ Lockheed trước kia chỉ lựa theo tài năng, thì cứ 3 người thợ, có một người không hạp với công việc; từ khi lựa lại theo tính tình thì cứ 20 người thợ mới có một người không hạp.

Phương pháp trắc nghiệm tính tình, rất giản dị, không cần máy móc, dụng cụ gì cả. Chỉ cần vài tờ giấy in sẵn những cấu hỏi dễ đáp; thợ đọc xong rồi ghi câu trả lời: “có” hay “không”; chẳng hạn những câu:

- Anh thích những màu rực rỡ hay màu phơn phớt?

- Anh có thích tới một cuộc hội họp khi anh không biết trong cuộc hội họp có cái gì không?

- Trong lúc trò chuyện, anh thích kể một truyện vui không?

- Phần đông những người anh gặp có làm anh thích không?

- Đi xem hát bóng, anh có muốn cho kẻ hung bạo trong phim bị tội không?

- Anh có thích hoà giải những người gây lộn với nhau không?

- Mỗi khi phải quyết định, anh có thấy khó khăn không?

Những câu hỏi đó, cũng như trên ba trăm câu hỏi khác mà các nhà tâm lí đã tốn công lập ra rồi thí nghiệm, có vẻ tầm thường mà thực ra có nhiều ý nghĩa. Hai câu đầu chẳng hạn cho ta biết người mà ta thử, có tinh thần mạo hiểm không, hay là trái lại, an phận. Hai câu sau thuộc về tính thích giao thiệp hay thích cô độc. Hai câu sau nữa thuộc về tài chỉ huy. Còn câu cuối thuộc về tính tự chủ.

Nhờ những câu hỏi đó, hãng Lockheed lựa những thợ bướng bỉnh hay gây lộn cho làm chung với nhau, những thợ hiền lành cho làm chung với nhau, những thợ tính tình cô độc cho làm riêng một mình những công việc tỉ mỉ, những thợ thích cái mới thì được thay đổi công việc thường, trái lại những thợ ghét thay đổi, thì được làm hoài một công việc. Kết quả là năng lực sản xuất của thợ tăng lên rất nhanh.

4. Vài kết quả - kết luận

Để bạn nhận rõ sự ích lợi và cần thiết nữa - của công việc lựa người, tôi kể mấy thí dụ sau đây đã được ghi vô hồ sơ của viện Tâm lí thực hành ở Ba lê:

a) Một thầy thư kí trong một xí nghiệp nọ, rất nhiều tài năng. Từ những nhà tâm lí chuyên đã xét thầy cho đến những người xếp đều khen thầy là siêng năng, thông minh, mau mắn, nhớ dai, lễ phép, trọng kỉ luật, hoạt bát... nhưng các nhà tâm lí chê là thầy dễ chịu ảnh hưởng của người khác, không gánh được trọng trách và khuyên nên để thầy đó bán hàng. Ban quản lí vì thiếu người, phải cho thầy làm xếp một phòng giấy. Sau hai tháng, thất bại, người ta đuổi thấy ra.

b) Cũng tại xí nghiệp đó, trong thẻ một nhân viên có mấy hàng này: “Phải coi chừng người này giao du với những hạng người nào”. Quả nhiên, sau người đó ăn cắp của hãng, không phải vì lòng tham mà vì nể một người bạn tham lam nên giúp kẻ đó ăn cắp.

c) Một người khác, già, chậm lại mau quên, nhưng rất được các người dưới phục và nghe. Ban quản lí cho người đó làm xếp một xưởng. Công việc rất chạy vì người đó biết mình mau quên cho nên tìm ra được một cách sắp đặt và một lố thẻ để ghi cho dễ nhớ. Loại thẻ đó sau được cả xí nghiệp dùng.

d) Trong một mỏ nọ ở miền Trung nước Pháp, xảy ra một vụ trộm quan trọng; người ta nghi ngờ hai người thợ nhưng không có đủ bằng cứ. Cuộc điều tra không tiến hành được chút nào thì viên giám đốc sực nhớ mấy tháng trước có bắt hết các nhân viên trong mỏ đi lên Paris để bà Léone Bourdel trắc nghiệm về tâm lí và sinh lí. Hồ sơ của họ bà đó còn giữ. Ông bèn viết thư cho bà, kể qua lại vụ trộm rồi nhờ bà coi hồ sơ số 304 và số 307 của hai người mà ông nghi. Ông giấu tên hai người đó mà trong hồ sơ cũng không ghi tên họ.

Xét hồ sơ rồi, bà Léone Bourdel kêu điện thoại trả lời quả quyết:

Tên 307 đã xếp đặt vụ trộm và đứng canh gác cho tên 304 vô lấy rồi chở đồ lên xe cam nhông.

Trong một bức thư gởi tới sau, bà giải nghĩa:

“Tên 637: tính tình không ngay thẳng, có thứ tự, có sáng kiến, có tài sai khiến, khéo tổ chức, giỏi tưởng tượng, mắt lanh. Chắc chắn y đã xếp đặt công việc và đứng canh gác. Tên 304 dễ bị cám dỗ, không có bản ngã, không biết bổn phận, hay gần gũi kẻ khác, khéo léo và bền sức. Chắc chắn y đã bị tên 637[1] dụ dỗ và sai lấy đồ rồi chở lên xe”

Viên giám đốc kêu họ lại phòng giấy, trước mặt những nhân viên điều tra của chính phủ. Trước họ tin rằng không ai biết được cả, mà nay bỗng nhiên những bí mật của họ người ta biết rõ từng chi tiết, họ sợ lắm, thú nhận hết. Một viên thanh tra vừa cùm tay họ vừa nói:

- Các anh là nạn nhân của khoa tâm lí thực hành.

Một nhà doanh nghiệp nói: “Trong kĩ nghệ thời nay, hai xí nghiệp cùng ở trong một ngành kinh tế, có khác nhau chỉ ở vấn đề người mà thôi, vì máy móc cũng như nhau”. Tôi có thể nói thêm: Trong việc nhà cũng vậy, việc nước cũng vậy chỉ có vấn đề người là quan trọng hơn hết.

5. Diện mạo giúp ta biết người

Sau cùng chắc các bạn điều biết diện mạo và chữ viết của ai giúp ta đoán được tính tình và tài năng người đó. Ở Genève (Thụy Sĩ) có một viện nghiên cứu diện mạo để hướng dẫn những người nào muốn lựa nghề. Ông Garin giám đốc viện đó, trong một bài nhan đề: Khoa coi tướng thực hành đăng trong tạp chí Sciences pour tous có nói: Ngoài cách dùng trắc nghiệm để đo tâm lí, còn phải xét tướng người rồi mới giao việc. Như muốn giao một chức quản lí, ban kĩ thuật phải lựa người mà sơn căn (sống mũi ở giữa hai con mắt) rộng, xương trán ở chỗ lông mày gồ ra một chút (những tướng đó là tướng biết nhận xét) cằm không lẹm, mũi cao (tướng quả quyết). Người đó phải thuộc vào hạng điều hoà, nghĩa là có trán rộng, nét mặt đều đặn, không xương quá, nhưng cũng không thịt quá.

Tôi chỉ nêu vấn đề đó ra đây thôi để các bạn thấy rằng những khoa học như coi tướng, coi chữ viết không phải là hoàn toàn vô căn cứ không giúp ta được việc gì trong sự xét người.

Bạn nào muốn nghiên cứu thêm xin xem những sách coi tướng và chữ viết.

Chú thích

  1. Trong đoạn trên, hoặc “307” bị in lầm thành “637” hoặc ngược lại. (Goldfish).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tổ chức công việc theo khoa học
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish (12/05/2012, e-thuvien.com)