Lịch sử và đời sống xã hội hiện tại

3. Lịch sử và đời sống xã hội hiện tại

Sự phân lìa giết chết sức sống của môn lịch sử là ở chỗ này: tách rời lịch sử ra khỏi những phương thức và mối quan tâm hiện tại của đời sống xã hội. Quá khứ xét như chỉ là quá khứ thì không còn là công việc của chúng ta nữa. Giả sử như nó đã hoàn toàn trôi qua và đã kết thúc hẳn, thì khi ấy sẽ chỉ tồn tại một thái độ hợp lý duy nhất trước quá khứ. [Thái độ đó là] hãy để cho dĩ vãng chôn vùi dĩ vãng. Nhưng hiểu biết về quá khứ lại là chìa khóa để hiểu hiện tại. Môn lịch sử đề cập quá khứ, song quá khứ lại là lịch sử của hiện tại. Một cách học thông minh về sự phát hiện, những cuộc thám hiểm, cuộc thực dân hóa nước Mỹ, quá trình mở mang lãnh thổ nước Mỹ về miền Tây, sự di cư v.v... nên là một cách học về nước Mỹ xét như nó đang tồn tại ngày hôm nay: tức học về đất nước mà chúng ta đang sống tại đó lúc này. Học về nước Mỹ trong quá trình nó hình thành sẽ giúp cho hầu hết những gì quá phức tạp có thể trở nên hiểu được trực tiếp. Phương pháp di truyền học có lẽ là thành tựu khoa học quan trọng nhất của nửa sau thế kỷ XIX. Nguyên tắc của di truyền học là, con đường để hiểu thấu được mọi sản phẩm phức tạp là lần theo quá trình phát triển của nó - tức là hiểu được nó qua suốt các giai đoạn kế tiếp nhau của sự phát triển. Vận dụng phương pháp này vào môn lịch sử như thể việc cho rằng hiện trạng xã hội không thể nào tách rời khỏi quá khứ của nó chỉ là điều hiển nhiên, là phiến diện. Việc áp dụng đó còn có nghĩa là, các sự kiện quá khứ không thể bị tách rời khỏi cái hiện tại sống động và chúng vẫn tiếp tục có ý nghĩa. Xuất phát điểm thực sự của lịch sử bao giờ cũng là tình huống hiện tại nào đó đi kèm các vấn đề.

Có thể vận dụng ngắn gọn nguyên tắc phổ biến nói trên vào việc xem xét mối quan hệ giữa nó với một số vấn đề. Phương pháp tiểu sử thường được đề nghị như là phương thức đương nhiên để tiếp cận môn lịch sử. Cuộc đời của những con người vĩ đại, những vị anh hùng và lãnh tụ là những tình tiết lịch sử cụ thể và sống động mà thiếu chúng môn lịch sử sẽ trở nên trừu tượng và khó hiểu. Chúng là các bức tranh sống động súc tích được hình thành từ những chuỗi sự kiện phức tạp và rắc rối trải dài qua quá nhiều không gian và thời gian, đến nỗi chỉ có khối óc được đào tạo ở trình độ cao mới có thể theo dõi và lần ra các manh mối. Không thể nghi ngờ tính đúng đắn về mặt tâm lý học của nguyên tắc nói trên. Song, nó bị lạm dụng khi người ta dùng nó để đề cao thái quá của một vài cá nhân mà không hề ám chỉ tới những tình huống xã hội tương ứng của những việc làm ấy. Khi tiểu sử được kể lại chỉ như là câu chuyện về những việc làm của một con người tách rời khỏi những điều kiện kích thích anh ta và hoạt động của anh ta là sự phản ứng lại những điều kiện ấy, khi ấy chúng ta không có một môn học về lịch sử bởi chúng ta không có một sự nghiên cứu về đời sống xã hội, thế mà đó lại là vấn đề của các cá nhân đang sống trong xã hội. Chúng ta chỉ nhận được một lớp đường bọc ngoài để giúp dễ dàng nuốt trôi những mảnh vụn kiến thức nhất định nào đó.

Gần đây người ta chú ý nhiều tới đời sống nguyên thủy xét như là một sự mở đầu cho việc học môn lịch sử. Cả ở đây nữa lại có một cách hiểu vừa đúng vừa sai về giá trị của đời sống nguyên thủy. Tính chất tưởng chừng như có sẵn và tính chất phức tạp của các điều kiện hiện tại, tính chất tưởng chừng như là bất di bất dịch của chúng, là một trở ngại hầu như không thể vượt qua để thấu hiểu bản chất của chúng. Việc cầu viện đến cái nguyên thủy có thể cung cấp những yếu tố căn bản dưới dạng vô cùng dễ hiểu của tình huống hiện tại. Việc làm này giống như thể gỡ sợi của một tấm vải được dệt quá rắc rối và quá dày đến nỗi mắt thường không thể nhìn thấy các đường dệt của nó, cho đến khi những đường hoa văn thô hơn hiện ra. Chúng ta đơn giản hóa các tình huống hiện tại dựa vào thực nghiệm có chủ tâm, nhưng việc cầu viện đến đời sống nguyên thủy có thể trưng ra cho chúng ta loại kết quả mà chúng ta muốn có được bằng thực nghiệm. Các mối quan hệ xã hội và các phương thức của hành động có tổ chức được biến đổi thành dạng thấp kém nhất. Tuy nhiên, khi mục tiêu xã hội này bị coi nhẹ, việc học về đời sống nguyên thủy sẽ trở thành đơn thuần một sự nhắc lại những nét đặc điểm gây xúc động và gây kích động của tình trạng dã man.

Lịch sử nguyên thủy gợi ý lịch sử công nghiệp. Bởi một trong những lý do chủ yếu của tìm hiểu những điều kiện nguyên thủy để nhằm phân tích hiện tại thành các yếu tố có thể quan sát dễ dàng hơn là như sau: chúng ta có thể hiểu được con người đã từng gặp phải những vấn đề căn bản nào trong quá trình tìm kiếm sự sinh tồn, sự che chở và an toàn; và dựa vào việc quan sát những vấn đề đó đã được giải quyết như thế nào vào những thời kỳ xa xưa của nhân loại, chúng ta hình thành ý niệm nào đó về con đường dài dằng dặc mà nhân loại đã phải trải qua, và những phát minh liên tục mà nhờ đó chủng tộc đã tiến lên về trình độ văn minh. Chúng ta không cần thiết phải đi sâu vào những tranh luận về cách giải thích lịch sử từ góc độ kinh tế thì mới có thể hiểu được rằng lịch sử nền công nghiệp của nhân loại cung cấp sự hiểu biết sâu sắc về hai giai đoạn quan trọng của đời sống xã hội theo cách mà không một giai đoạn nào khác của đời sống xã hội có thể làm được. Lịch sử công nghiệp cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết về những phát minh kế tục nhau nhờ đó kiến thức lý thuyết đã được áp dụng vào việc kiểm soát tự nhiên vì lợi ích an ninh và phồn vinh của đời sống xã hội. Như vậy, lịch sử công nghiệp tiết lộ những nguyên nhân kế tục nhau của tiến bộ xã hội. Lịch sử nền công nghiệp còn giúp chúng ta nhận ra những điều liên quan căn bản chung tới con người; các nghề nghiệp và những giá trị gắn với việc kiếm sống. Khác với bất kỳ ngành nào khác của lịch sử, lịch sử kinh tế đề cập các hoạt động, sự nghiệp, và số phận của con người bình thường. Cá nhân nào cũng vậy, điều duy nhất không thể tránh khỏi là sống; điều duy nhất mà mọi xã hội đều không thể tránh khỏi là đảm bảo sao cho mọi cá nhân có sự đóng góp bình đẳng vào hạnh phúc chung và đảm bảo rằng anh ta nhận được một sự đền đáp xứng đáng.

So với lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế gần gũi với con người hơn, mang tính dân chủ hơn, và do đó nó mang nhiều tính nhân văn hơn. Nó không đề cập sự thăng trầm của các công quốc và các chính quyền, mà nó đề cập sự trưởng thành của những quyền tự do thực sự, nhờ việc làm chủ Tự nhiên, của những con người bình thường mà nhờ họ, các chính quyền và công quốc mới tồn tại.

So với lịch sử chính trị, lịch sử công nghiệp còn cung cấp con đường trực tiếp hơn để tiếp cận mối liên hệ mật thiết giữa những tranh đấu, thành công và thất bại của con người với Tự nhiên - ấy là chưa nói tới lịch sử quân sự, một ngành lịch sử rất dễ bị biến thành lịch sử chính trị khi lịch sử chính trị được biến đổi cho phù hợp với khả năng lĩnh hội của trẻ em. Bởi lịch sử công nghiệp về bản chất là sự một sự ghi lại tình trạng hiểu biết của con người nhằm sử dụng năng lượng của Tự nhiên kể từ khi con người hầu như chỉ lợi dụng sức mạnh cơ bắp của đồng loại cho tới thời kỳ mà, trong hy vọng nếu không muốn nói là trên thực tế, các nguồn lực của Tự nhiên đã được kiểm soát tới mức có thể giúp con người vươn tới một sự chi phối chung đối với Tự nhiên. Khi lịch sử của lao động, khi những điều kiện của sử dụng đất, rừng, mỏ, thuần hóa súc vật và trồng trọt ngũ cốc, sản xuất và phân phối, không được tính đến, khi ấy lịch sử có khuynh hướng trở thành mang tính văn chương đơn thuần: một câu chuyện hư cấu có hệ thống về một nhân loại huyền thoại sống dựa vào chính nó thay vì sống dựa vào Trái đất này.

Trong giáo dục phổ thông, có lẽ lịch sử tri thức là ngành lịch sử bị bỏ quên nhiều nhất. Chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu ra rằng các anh hùng vĩ đại đem lại sự tiến bộ cho số phận của nhân loại không phải là các chính trị gia, các vị tướng, các nhà ngoại giao, mà họ là các nhà phát minh và sáng chế khoa học, những người đã đặt vào tay con người những phương tiện của một kinh nghiệm đang phát triển và được kiểm soát, và các nghệ sĩ và thi nhân, những người đã ngợi ca những tranh đấu, chiến thắng, và thất bại của nhân loại bằng thứ ngôn ngữ nào đó, dù là ngôn ngữ hình ảnh, tạo hình hoặc chữ viết, khiến tất cả những người khác đều có thể cùng sử dụng được ý nghĩa của chúng. Một trong những lợi thế của lịch sử công nghiệp xét như là lịch sử của quá trình con người không ngừng làm cho sức mạnh của Tự nhiên thích nghi với các mục đích xã hội là, nó cung cấp cơ hội để nghiên cứu sự tiến bộ về các phương pháp và thành quả của nhận thức. Ngày nay con người đã quen với việc ca tụng trí thông minh và lý trí bằng những từ ngữ chung chung; vai trò quan trọng nền tảng của chúng được đề cao. Song, học sinh thường tách ra khỏi học môn lịch sử theo lối cổ truyền, và chúng nghĩ rằng hoặc trí năng của con người là một đại lượng bất biến mà việc phát minh ra các phương pháp tốt hơn không làm nó tiến bộ lên, hoặc trí thông minh, trừ phi xét như là sự phô trương tính sắc sảo cá nhân, là một nhân tố không đáng kể về mặt lịch sử. Chắc chắn khó lòng nghĩ ra được phương cách nào khác tốt hơn để truyền dần một sự hiểu biết thực sự về vai trò bắt buộc của trí tuệ trong đời sống bằng một môn lịch sử làm rõ điều sau đây: toàn bộ tiến bộ của nhân loại từ thời kỳ dã man cho tới thời kỳ văn minh đã phụ thuộc biết bao vào những khám phá và phát minh trí tuệ, và những điều thường xuất hiện chủ yếu trong những cuốn sách lịch sử lại là những vấn đề phụ biết chừng nào, hoặc thậm chí chúng còn là những trở ngại mà trí thông minh phải chiến thắng.

Trong giáo dục, nếu môn lịch sử được học theo cách nói trên, nó sẽ hầu như đương nhiên mang giá trị đạo đức. Nhận thức thông minh về những hình thái hiện tại của đời sống liên kết là điều tất yếu cho sự hình thành tính cách của một con người mà đạo đức của anh ta không chỉ đơn thuần là tính trong trắng vô vi. Hiểu biết lịch sử góp phần đem lại nhận thức như vậy. Nó là một phương tiện để phân tích thấu đáo cơ cấu xã hội hiện tại, một phương tiện để phát hiện những ảnh hưởng đã tạo nên hình mẫu xã hội ấy. Sử dụng môn lịch sử để vun bồi một trí thông minh phù hợp với xã hội, đó là ý nghĩa đạo đức của môn lịch sử. Có thể sử dụng lịch sử như một loại kho tàng tích lũy giai thoại để có thể lấy ra sử dụng vào việc khắc sâu bài học đạo đức cụ thể về đức hạnh này hoặc thói xấu kia. Nhưng cách dạy như vậy không phải là sử dụng lịch sử vào mục đích đạo đức nhiều lắm bởi đó là một nỗ lực nhằm tạo ra những ấn tượng đạo đức dựa vào vật liệu hầu như có tính uy tín. Nhiều nhất cách dạy ấy cũng chỉ tạo được một sự hăng hái mang tính cảm xúc nhất thời; tệ nhất nó tạo ra sự lãnh đạm chai lỳ trước sự lên lớp về đạo đức. Tác dụng của môn lịch sử trong việc hình thành một nhận thức thông minh và đầy cảm thông hơn về các tình huống xã hội của hiện tại mà ở đó cá nhân đang sống mới là giá trị đạo đức lâu bền và có tính kiến tạo.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org