Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

III. LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM

1. Hoàn cảnh ra đời của tư tưởng triết học Việt Nam

a. Về chính trị - xã hội

  • Tộc Việt vào thời kỳ đầu của lịch sử gọi là Lạc Việt và ngày nay gọi là Việt Nam. Cách đây khoảng 4000 năm, cộng đồng người Việt đã bước vào thời đại đồng thau và từ khi có nhà nước đến nay đã trải qua 5 thời kỳ lớn của sự phát triển. Thời đại Đông Sơn là thời đại mở đầu của lịch sử Lạc Việt, tiếp theo là thời đấu tranh giành độc lập dân tộc (Bắc thuộc), thời độc lập tự chủ dưới chế độ phong kiến, thời đấu tranh chống thực dân Pháp giành chủ quyền đất nước (Cận đại) và thời hiện đại bắt đầu từ Cách mạng thángTám 1945 cho đến nay.
  • Thời Đông Sơn xuất hiện nhà nước Văn Lang, với chế độ lạc hầu, lạc tướng của Hùng Vương có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ VII - II trước CN. Lúc này kỹ thuật chế tạo các công cụ sản xuất và sinh hoạt bằng đồng thau của người Việt đã đạt đến đỉnh cao. Sản phẩm tiêu biểu lúc này là trống đồng Đông Sơn. Bên cạnh công cụ đồng là chủ yếu, đã bước đầu xuất hiện các công cụ bằng sắt. Nghề trồng lúa đã khá phát triển.
  • Thời đấu tranh lâu dài chống sự thống trị của phong kiến phương Bắc để giành độc lập dân tộc khởi đầu từ giữa thế kỷ thứ II trước công nguyên đến đầu thế kỷ thứ X. Thời kỳ này diễn ra hai quá trình: Hán hoá của người Hán và chống Hán hoá của người Việt. Chiều hướng chống Hán hoá ngày càng mạnh, tạo cơ sở cho việc giành lại độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ thứ X.
  • Thời độc lập tự chủ dưới chế độ phong kiến diễn ra từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau phát triển đất nước về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng. Về phương diện chính trị và quân sự, đã từng có những chiến thắng ngoại xâm vẻ vang. Về phương diện văn hoá, tư tưởng đã làm cho đất nước trở thành một nước văn hiến trong khu vực.
  • Thời đấu tranh chống thực dân Pháp giành chủ quyền đất nước diễn ra từ cuối thế kỷ thứ XIX đến năm 1945 (thời Cận đại). Đây là thời kỳ đụng độ giữa hai ý chí: xâm lược và chống xâm lược, giữa hai chế độ chính trị: tư bản chủ nghĩa và phong kién cổ truyền; giữa hai nền văn hoá, tư tưởng: tư tưởng và văn hoá thực dân tư bản chủ nghĩa với tư tưởng truyền thống dân tộc. Cuối cùng sức mạnh của dân tộc đã thắng, đưa tới tháng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.
  • Thời hiện đại bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay. Đây là thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước cả nước cùng chung một nhiệm vụ làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh và tiến lên chủ nghĩa xã hội).

b. Về văn hoá

  • Suốt mấy nghìn năm, người Việt Nam là chủ nhân của mảnh đất này. Trong suốt quá trình giữ nước, giành độc lập dân tộc cho đất nước và dựng nước, họ dần dần hình thành một tư duy khái quát về tự nhiên, xã hội và con người, về con đường và biện pháp để nhận thức và cải tạo thế giới khách quan sao cho có lợi cho mình. Tư duy này là cơ sở để tiến tới tư duy triết học.
  • Việt Nam nằm giữa hai trung tâm triết học lớn của nhân loại là Trung Hoa và Ấn Độ. Hệ thống triết học phương Đông mà hai nước trên là tiêu biểu có điều kiện truyền bá vào nước ta từ rất sớm, ở đầu thời kỳ Bắc thuộc. Ở thời cận đại, do sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, nhiều trào lưu triết học phương Tây cũng xâm nhập vào Việt Nam. Ở thời hiện đại, do yêu cầu của giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp công nhân, nông dân, trào lưu triết học Mác- Lênin được truyền bá mạnh mẽ vào nước ta. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tư duy triết học Việt Nam.
  • Tư duy khái quát vốn có của dân tộc cộng với các học thuyết triết học vốn có từ bên ngoài truyền vào đã khiến người Việt Nam từ lâu trong lịch sử đã hình thành một tư tưởng triết học. Tư tưởng này do hạn chế khách quan và chủ quan chưa trở thành hệ thống, chưa xuất hiện các trường phái triết học, các nhà triết học thực thụ, nhưng đã có các trường phái tư tưởng, các nhà tư tưởng mang sắc thái triết học.
  • Chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc và triết học Ấn Độ,tư tưởng triết học Việt Nam mang những nét chung của triết học phương Đông. Đó là hệ thống khái niệm, phạm trù của triết học phương Đông, là sự chú trọng vào các vấn đề xã hội và con người, là sự gắn bó giữa triết học với chính trị và đạo đức, hoặc giữa triết học với tôn giáo… Nhưng tư tưởng triết học Việt Nam không phải là hình ảnh thu nhỏ của triết học Trung Quốc hay triết học Ấn Độ, cũng không phải là bản sao rời rạc của hai nền triết học trên như một số học giả phương Tây trước đây quan niệm. Ngoài những nét chung với triết học Trung Quốc và triết học Ấn Độ, tư tưởng triết học Việt Nam có những đặc trưng mà cả hai nền triết học trên không có, hoặc không rõ nét. Sau này, khi tiếp thu Triết học Mác-Lênin, tư tưởng Triết học Việt Nam có cả những yếu tố Đông và Tây.

2. Những tư tưởng triết học cơ bản

a. Về thế giới quan

  • Thể hiện lên mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, người Việt Nam thường nêu lên các phạm trù: tâm và vật, tâm và cảnh (Phật giáo), hình và thần, khí và lý, trời và người (Nho giáo). Nói chung quan niệm của họ là duy tâm, vì họ cho rằng tâm là nguồn gốc của vật, tâm quyết định cảnh, thần quyết định hình, lý quyết định khí, trời quyết định người. Điều này có nguyên nhân ở tình trạng tri thức xã hội đương thời. Lúc bấy giờ khoa học tự nhiên chưa xuất hiện, con người chưa có điều kiện để hiểu được bản chất của thế giới vật chất. Tri thức lúc đó chủ yếu là tri thức kinh nghiệm, mà tri thức kinh nghiệm thì không thể giải thích được bản chất của thế giới tinh thần. Tuy vậy, bằng hoạt động thực tiễn để cải tạo hoàn cảnh và cải thiện nhân sinh, cũng có người phần nào vượt ra khỏi quan điểm chính thống đó. Như cho cảnh và tâm găn bó chặt chẽ với nhau, như xem mệnh trời gần như là quy luật khách quan và với con người cần phải tuân theo, như cho lòng dân là ý trời “nhân nguyên thiên tòng”, mong muốn của con người thì trời nghe theo (Phan Bội Châu), như cho con người có thể thắng được trời “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” (Nguyễn Du). Ngày nay, quan niệm này chịu ảnh hưởng nhiều bởi thế giới quan của triết học Mác - Lênin.

b. Nhân sinh quan

  • Tư tưởng yêu nước.
    • Tư tưởng về độc lập dân tộc và quốc gia có chủ quyền: Nét nổi bật trong tư tưởng triết học của Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước này không còn dừng lại ở tâm lý, tâm trạng và tình cảm, mà đã trở thành một lý luận, một quan niệm. Đó là quan niệm về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền. Quan niệm đó đã có sự phát triển, từ những nhận thức về vùng trời, lãnh thổ riêng biệt… đến một quan niệm toàn diện về thực thể đất nước, mà ở đây, quan niệm của Nguyễn Trãi là tiêu biểu nhất. (“Xét như nước Đại Việt ta;Thật là một nước văn hiến;Bờ cõi sông núi đã riêng; Phong tục Bắc Nam cũng khác; Trải Triệu, Đinh, Lý Trần nối đời dựng nước; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi đàng là đế một phương; Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau; Mà hào kiệt không bao giờ thiếu”.). Ông đã đề cập đến các yếu tố làm nên dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền, đó là văn hoá (văn hiến), lãnh thổ (bờ cõi sông nui), phong tục lịch sử con người (người hào kiệt). Trong điều kiện lúc đó một quan niệm như thế đã khá đầy đủ và sâu sắc.
  • Tư tưởng về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh giữ nước và cứu nước.
    • Đấu tranh để giữ gìn độc lập dân tộc và bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ thường xuyên của lịch sử. Để thực hiện nhiệm vụ đó, người Việt Nam phải có lực lượng và cơ sở để tạo ra lực lượng. Vấn đề là tìm ra được nguồn gốc và động lực của công cuộc giữ nước và dựng nước. Các nhà tư tưởng trong các thời kỳ, tuy ở những hoàn cảnh khác nhau, và với những thực lực dân tộc khác nhau, nhưng đều đi đến nhất trí ở một điểm, đó là xem sự đồng lòng là sức mạnh. (Trần Quốc Tuấn cho rằng có tạo được cục diện “lòng dân không chia”, “cả nước góp sức” thì mới thắng được giặc. Nguyễn Trãi thì kiêu hãnh nói với kẻ địch “Quân ta muôn người như một” Phan Bội Châu thì khái quát “Có đồng lòng mới hoàn thành công nghiệp”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh thì lại nêu thành nguyên lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - thành công, thành công, đại thành công”). Tư tưởng xem sự đồng lòng tạo ra được sức mạnh là một tư tưởng lớn của truyền thống.
    • Làm thế nào để thực hiện được sự đồng lòng? Đây không thể chỉ là lời kêu gọi, mà còn là thái độ và chính sách của bề trên. Đó là thái độ xem việc nước như việc nhà, xem mọi người như cha con, anh em. (Trần Quốc Tuấn nói: “Có thu quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được”. Nguyễn Trãi cũng nói: “Dưới trên một dạ cha con”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh thì gọi người trong nước là “Đồng bào”. Câu chuyện có tính chất thần thoại về bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở trăm người con được các thời nâng niu truyền tụng cũng là vì lẽ đó). Vì nếu đã xem mọi người có cùng một huyết thống, nếu xem người trên người dưới đều là cha con, anh em thì phải nương tựa vào nhau, và phải có trách nhiệm với nhau.
    • Để tạo ra được sức mạnh dân tộc, sức mạnh xã hội, người có trách nhiệm với lịch sử ngoài việc phải đồng cam cộng khổ với dân, còn phải nhận thức được vai trò quan trọng của dân: Dân là gốc của nước, được dân thì được nước, triều đình là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền nhưng cũng lật thuyền… Từ đó phải có một chính sách sao cho quy tụ được lòng dân. (Lý Thường Kiệt yêu cầu phải “nuôi dân”; Trần Quốc Tuấn chỉ rõ có “nới lỏng sự đóng góp của dân” thì mới là kế “sâu gốc, bền rễ”). Tư tưởng dân bản đã mang nhiều yếu tố dân chủ này là một truyền thống tư tưởng tích cực của dân tộc.

c. Tư tưởng yêu nước trong giai đoạn hiện đại

Yêu nước kết hợp với yêu chủ nghĩa xã hội

1. Tư tưởng về đạo làm người

  • Nhân sinh quan Nho- Phật -Lão: Đạo người là một phương diện được các nhà tư tưởng Việt Nam rất chú ý. Họ dựa vào Nho giáo, Phật Giáo và Lão- Trang để vạch cho con người một đạo đối xử và ăn ở. Sự giao thoa này được thể hiện ở cả hai xu hướng tư tưởng nhập thế và xuất thế.
  • Tư tưởng nhập thế: Những tư tưởng nhập thế như “tam cương”, “ngũ thường”của Nho giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà Nho Việt Nam nhưng có sự lựa chọn và giải thích khác nhau. Môt số chú trọng tư tưởng tôn ti trật tự và đẳng cấp khắc nghiệt của Nho giáo. Riêng đối với những nhà tư tưởng có trách nhiệm với thời cuộc thì những khái niệm trung hiếu, nhân nghĩa, cương thường… của Nho, thiện ác, phúc họa… của Phật được vận dụng và phát huy theo chiều hướng tích cực, thể hiện một quan niệm và một thái độ yêu nước, kính trên nhường dưới, có hiếu với cha mẹ, có nghĩa với mọi người, có kỷ cương trật tự trong xã hội.
  • Tư tưởng xuất thế:
    • Khi bước ra khỏi lĩnh vực chính trị, khi phải đối mặt với những vấn đề về sống, chết, rủi, may, phúc hoạ, …thì Nho giáo không lý giải được, ngược lại Phật giáo có sức hấp dẫn hơn, cho nên người Việt Nam cũng lấy tư tưởng Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần, đi tìm sự bình yên với những tư tưởng tu niệm hướng tới “niết bàn”
    • Khi “lực đã bất tòng tâm” hoặc khi đã thất bại trên đường danh lợi, con người lại có xu hướng sống theo “vô vi” của tư tưởng Lão - Trang

2. Đạo làm người trong giai đoạn tiếp cận triết học Mác-Lênin

Ngày nay, chúng ta được trang bị triết học Mác-Lênin - một triết học khoa học và cách mạng của loài người. Tư tưởng triết học của Việt Nam bước sang bước ngoặc mới.

  • Tư tưởng biện chứng: Ngoài những tư tưởng trên, quá trình dựng nước và giữ nước cũng đã dần dần hình thành cho dân tộc một trình độ tư duy khái quát có tính phương pháp luận. Tuy phương pháp là khái niệm của thời cận, hiện đại, chưa từng xuất hiện trong thời cổ đại, nhưng lúc bấy giờ đã có các khái niệm tương đương với phương pháp như “kế”, “phương”, “sách”, “thuật”…Với các quan niệm trên, các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đã trình bày một phương pháp luận mang nội dung gồm nhiều phương diện:
    • Việc làm của con người không thể câu nệ vào quá khứ, mà nghiêng nhiều về hiện tại, hễ “thấy tiện” thì làm.
    • Phương pháp xử lý đối với các sự kiện khác nhau, đối lập nhau, như giữa việc nhỏ với việc lớn, việc gần với việc xa, thì phải giải quyết sao cho lợi ích toàn cục và lâu dài được bảo đảm
    • Nhìn sự vật trong mối liên hệ nhân quả, sao cho thấy kết quả mà không bỡ ngỡ, thấy hiện tại mà đoán được tương lai
    • Giải quyết sự việc theo phương châm kết hợp bất biến với khả biến, kết hợp “thời” với “thế”; là phương pháp đánh giặc sao cho ít có thể địch được nhiều, yếu có thể thắng được mạnh.

Tư tưởng biện chứng trên là những nét độc đáo của tư duy con người Việt Nam. Ngày nay, nhiều vấn đề của thực tiễn được nhận thức ở trình độ lí luận nhờ tiếp thu phương pháp luận của triết học Mác-Lênin.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang