Lần đầu đi Mỹ

6. Lần đầu đi Mỹ

Tàu Kanrin-maru

Một năm sau khi tôi lên Edo, tức mùa đông năm Ansei thứ 6 (1859-ND), Mạc phủ Tokugawa đã có một quyết định hiếm hoi kể từ khi khai sinh ra nước Nhật đến nay là cho một quân hạm sang Mỹ! Chiếc quân hạm đó cũng chỉ là một con tàu rất nhỏ, chỉ có 100 mã lực. Bộ phận bổ trợ của tàu chỉ được dùng để đốt khí hơi mỗi khi ra vào cảng, còn khi chạy trên biển phải vận chuyển nhờ vào sức gió.

Khoảng hai, ba năm trước đây, con tàu đó đã được mua của Hà Lan, giá 25.000 Ryō và đặt tên là Kanrin-maru (Hàm-Lâm-Hoàn). Trước đó, từ khoảng năm Ansei thứ hai (1855-ND), người của Mạc phủ đã xuống Nagasaki học về kỹ thuật hàng hải từ người Hà Lan. Kỹ thuật đó đã nhanh chóng tiến bộ, nên nhân tiện đoàn sứ tiết đi Washington, quân hạm của Nhật cũng sẽ đi cùng đến San Francisco.

Với lý do đó, Mạc phủ họp bàn và thống nhất cử ông Kimura Setsutsu-no Kami (Mộc-Thôn Nhiếp-Tân-Thủ), người điều hành toàn bộ các quân hạm của Nhật lúc này làm thuyền trưởng. Chỉ huy đám tùy tùng là Katsu Rintarō (Thắng Lân-Thái-Lang), những lái tàu là Sasakura Tōtarō (Tá-Tá-Thương Đồng-Thái -Lang), Hamaguchi Okiemon (Banh-Khẩu Hưng-Hữu-Vệ-Môn), Suzufuji Yūjirō (Linh-Đằng Dũng-Thứ-Lang), chịu trách nhiệm về trắc lượng là Ono Tomogorō (Tiểu-Dã Hữu-Ngũ-Lang), Ban Tetsutarō (Ban Thiết-Thái-Lang), Matsuoka Bankichi (Tùng-Cương Bàn-Cát), chịu trách nhiệm về hơi nước là Hida Hamagorō (Phì-Điền Banh-Ngũ-Lang), Yamamoto Kinjirō (Sơn-Bản Kim-Thứ-Lang), về công vụ giấy tờ là Yoshioka Yūhei (Cát-Cương Dũng-Bình), Konaga'i Gohachirō (Tiểu-Vĩnh-Tỉnh Ngũ-Bát-Lang), phiên dịch là Nakahama Manjirō (Trung-Banh Vạn-Thứ-Lang), các sĩ quan gồm Nezu Kinjirō (Căn-Tân Khâm-Thứ-Lang), Akamatsu Daisaburō (Xích-Tùng Đại-Tam-Lang), Okada Seizō (Cương-Điền Tỉnh-Táng), Kosugi Masanoshin (Tiểu-Sam Nhã-Chi-Tiến) cùng hai bác sĩ và 65 thủy thủ khác nữa. Tính cả những người tùy tùng của thuyền trưởng, tổng cộng là 96 người.

Xung quanh chiếc tàu nhỏ với một đoàn quá đông người này có rất nhiều chuyện.

Đi cùng thuyền trưởng người Mỹ

Việc cho chạy con tàu Kanrin-maru là một việc làm vĩ đại kể từ khi mở nước đến nay, nên từng sĩ quan cũng như những người khác trong đoàn đều là người Nhật và phải chuẩn bị tinh thần trước là bị phân việc.

Dịp đó, có một vị thuyền trưởng người Mỹ tên là Brooke đang đi trên con thuyền buồm nhỏ mang tên Fenimore Cooper để đo đạc đáy biển Thái Bình Dương. Thuyền gặp nạn ở ngoài khơi Ōshima (Đại-Đảo), lãnh địa Satsuma và may mắn được cứu thoát. Ông lên Yokohama, nhận sự bảo trợ của Mạc phủ. Dưới ông có một sĩ quan, một bác sĩ cùng bốn, năm thủy thủ. Họ trú lại đã khá lâu. Khi nghe tàu hải quân của Nhật sẽ đi San Francisco, đúng là một dịp thuận tiện nên họ tỏ ý muốn theo tàu về nước.

Khi chuyện còn đang rục rịch để chờ quyết định thì đoàn người Nhật lại không mấy thích thú đi cùng người Mỹ. Bởi vì, họ nghĩ, nếu đưa những người Mỹ về như thế sẽ bị mang tiếng rằng người Nhật phải nhờ đến người Mỹ dẫn đường và sẽ tổn hại đến danh dự nước Nhật, nên họ khăng khăng không cho người Mỹ lên tàu đi cùng. Sự tình đã đến mức ấy, Mạc phủ cũng lâm vào thế bí, nhưng cuối cùng vẫn ra lệnh bắt buộc phải cho họ đi cùng. Thực ra, các bô lão của Mạc phủ lo ngại về trình độ kỹ thuật của các sĩ quan Nhật và nghĩ lẩm cẩm như một “bà già” rằng khi có sự cố chỉ cần một chuyên gia về hàng hải của Mỹ thôi cũng sẽ tốt hơn.

Ông Kimura Setsutsu-no Kami

Ông Kimura Setsutsu-no Kami vốn làm trong bộ phận quản lý hải quân và là người đứng đầu ở đó. Với chức vụ của ông, chắc chắn sẽ được dẫn theo người tùy tùng. Tôi cũng muốn lên tàu sang Mỹ thử xem, nhưng không hề quen biết gì với ông. Năm ngoái, tôi mới chân ướt chân ráo từ Ōsaka lên làm sao có cơ duyên với những người làm tận trên Mạc phủ?

Thế nhưng rất may là có bác sĩ theo phái Hà Lan học của Mạc phủ tên là Katsuragawa (Quế-Xuyên). Gia đình anh là một danh y, đến mức có thể gắn cho danh hiệu Trung tâm y học theo trường phái Hà Lan của toàn nước Nhật. Ở Edo khỏi phải nói, người trong ngành y học Hà Lan không ai là không biết đến tên tuổi của gia đình Katsuragawa. Hơn nữa, chúng tôi mà lên đến Edo thì có thể gác lại chuyện khác để đến thăm gia đình Katsuragawa trước tiên và sau đó, thỉnh thoảng cũng hay lui tới. Giữa gia đình Katsuragawa và gia đình Kimura là họ hàng, lại là họ hàng rất gần, nên tôi bảo anh Katsuragawa rằng, rất muốn đi cùng ông Kimura sang Mỹ và khẩn khoản nhờ anh giới thiệu giúp.

Sau khi nhận lá thư từ anh Katsuragawa, tôi liền đi gặp ông Kimura và trình bày ý nguyện của mình. Nghe xong, ông Kimura cho phép tôi đi cùng ngay. Ông bảo: “Được, ta sẽ dẫn nhà ngươi đi cùng!". Bởi vì, nghĩ ra thì nhân tình thế thái lúc đó nói đến việc đi tàu sang tận nước ngoài sẽ bị coi là chuyện hiếm có từ khi mở nước đến nay, là chuyện đáng sợ, có thể phải đánh đổi cả tính mạng. Ông Kimura là người của Cơ quan quản lý hải quân, tất nhiên sẽ có kẻ hầu người hạ dưới trướng. Có thì có, nhưng họ không muốn đi. Trong tình thế như vậy, lại có người đích thân đến xin đi thì thực ra mà nói cũng là chuyện lạ đời. Thế nào ông cũng nghĩ đó là điều may mắn cho mình. Kẻ được đồng ý ngay là tôi đã được quyết định sẽ đi tháp tùng ông.

Lên Uraga uống rượu

Tàu Kanrin-maru giương buồm ra khơi vào Tết năm Man'en thứ nhất (1860-ND), ra ngoài khơi Shinagawa và đi Uraga (Phổ-Hạ). Lúc đó, đoàn sứ giả từ Nhật đi Mỹ, nên chiếc tàu sang đón đoàn của chính phủ Mỹ đã đến. Chúng tôi dự định sẽ lên chiếc quân hạm mang tên Powhatan để đi, nhưng chiếc tàu đó lại đến sau, nên Kanrin-maru giương buồm trước và dừng lại ở Uraga.

Lúc ở Uraga có một chuyện rất thú vị. Cả đoàn đều trẻ và có người khởi xướng rằng phải làm lễ tạm chia tay với Nhật Bản bằng cách cùng lên bờ uống rượu! Mọi người đều đồng tình. Chúng tôi lên bờ, vào một quán ăn, uống no say. Khi định về tàu tôi vẫn lại có thói quen tắt mắt. Ở trên giá ngoài hàng hiên của quán hàng có một chiếc bát dùng để súc miệng. Tôi thấy đó là thứ có vẻ hữu ích khi đi trên tàu và đã ăn trộm chiếc bát đó.

Khi ấy là mùa đông, đúng khi tàu giương buồm thì bão lớn nổi lên. Ngày nào cũng có bão. Việc cầm bát cơm ăn đàng hoàng là điều không phải dễ. Lúc ấy, chiếc bát sâu lòng mà tôi lấy trộm được dịp phát huy tác dụng. Tôi cho đầy cơm, chan canh, trộn tất cả lên và đứng ăn rất tiện. Tôi đã dùng nó khi đi sang Mỹ và cả trên đường về. Cuối cùng còn mang về Nhật, để ở nhà suốt một thời gian dài.

Sau này, tôi có nghe nói nơi mà chúng tôi lên ăn uống ở Uraga chính là một nhà chứa. Khi đó, tôi không hề biết. Nếu đúng như thế thì chiếc bát lớn đó có lẽ là chiếc bát mà các cô gái bán hoa vẫn dùng để súc miệng. Nghĩ ra thấy có vẻ bẩn, nhưng buồn cười là lúc ở trên tàu thì thực sự rất tiện lợi và đó đã là vật báu duy nhất của tôi.

Tiền bay lả tả

Sau đó, tàu lại khởi hành và hướng lên phía bắc mà đi. Tàu Kanrin-maru có trọng tải 100 mã lực, nên không thể đốt than trong suốt cuộc hành trình được. Chỉ khi rời cảng mới đốt, còn khi đã ra đến ngoài khơi thì đó hoàn toàn chỉ là chiếc thuyền buồm. Đơn giản là vì tàu không thể chứa đủ than, mà không có than thì phải chạy bằng buồm. Chúng tôi đi bằng tàu đó để vượt biển Thái Bình Dương. Ngày nào cũng có cuồng phong, nên có bốn chiếc thuyền nan để bên hông tàu, sóng mạnh quá lôi đi mất hai chiếc.

Lúc đó, tôi là hầu cận của thuyền trưởng, nên phải làm mọi việc cho ông. Thuyền trưởng ở trong căn phòng phía đuôi thuyền. Một hôm tôi dậy định làm việc của mình và đi về phía căn phòng ở cuối tàu thì thấy phải đến mấy trăm, mấy nghìn tờ tiền đô-la bay lung tung trong đó. Chắc vì đêm hôm trước gió to làm tiền ở trong bao tung ra và đẩy bật khóa của hộc đựng chứ không sai. Tôi nghĩ, thế này thì nguy, liền báo ngay sự tình với người chịu trách nhiệm về công vụ đang ở phía đầu tàu tên là Yoshioka Yūhei (Cát-Cương Dũng-Bình). Anh ta cũng hết sức ngạc nhiên và chạy ngay đến đó. Tôi giúp nhặt tiền lại, cho vào bao và cất chỗ cũ.

Sở dĩ có chuyện này xảy ra trên tàu là vì hồi đó người ta chưa nghĩ đến việc thanh toán ngoại tệ bằng séc hay chứng từ, mà chỉ nghĩ đơn giản là khi đi xa sẽ cần tiền bản địa, mà cần tiền thì phải mang theo. Vì thế đã sinh ra chuyện kỳ quặc là nhét mấy vạn đô-la vào bao, để trong phòng thuyền trưởng và tiền đó bay ra ngoài vì gió bão mạnh. Tôi kể chuyện này chắc qua đó các bạn có thể hiểu được về tình hình chung của bốn mươi năm trước. Nếu là bây giờ thì không thể có chuyện đó. Thanh toán bằng tỷ giá được thì đâu có cần chất tiền của bản xứ mà mang đi như thế? Thế nhưng, võ sĩ không có đầu óc kinh doanh thời xưa, đại khái đều làm như vậy. Mà đường đi hôm nào cũng có gió to, sóng đánh lên tàu rất mạnh.

Tôi vẫn nhớ rõ, hầm tàu có cửa sổ vuông ở phía trên, khi tàu nghiêng có thể nhìn thấy rõ sóng dựng từ cửa sổ đó. Sóng rất to, lần nào cũng làm tàu nghiêng đến 37 hoặc 38 độ. Nếu tàu nghiêng đến 45 độ thì người ta gọi là trạng thái chìm. Nhưng may thay, không có tai họa gì lớn xảy ra, tàu vẫn theo đường đó mà đi, trong khi không nhìn thấy gì. Nhưng đã có lần chúng tôi gặp một chiếc tàu buồm khác. Đó là tàu của Mỹ và chỉ thấy là đang chở người Trung Quốc đi, chứ không thấy gì hơn.

Như động đất trong nhà lao

Đi như thế mất 37 ngày mới đến được San Francisco. Trên đường đi tôi khá khỏe mạnh, không một lần thấy sợ hãi. Tôi còn trêu một người trong đoàn rằng: “Thế này thì có thấm vào đâu! Từ khi cha sinh mẹ đẻ tôi chưa đi lần nào, nhưng cứ nghĩ là mình vào nhà lao và mỗi ngày, mỗi đêm đều có động đất lớn là được thôi!”. Tôi cười lạc quan đến như vậy và chưa từng mảy may nghĩ đến chuyện tàu chìm. Bởi vì tôi tin kỹ thuật của người phương Tây đến mức như khắc vào xương và không hề lo sợ chút nào.

Tiết kiệm nước uống và sự cương quyết của thuyền trưởng Brooker

Giữa đường đi, nước trở nên thiếu thốn và mọi người đã tranh luận xem có nên ghé vào Hawaii hay không. Nếu chịu đựng mà đi có thể không phải ghé vào Hawaii cũng kịp, nhưng nếu cẩn thận thì nên ghé vào lấy nước mới đi tiếp. Không biết nên thế nào? Cuối cùng quyết định là không ghé vào Hawaii nữa mà đi thẳng lên San Francisco, nhưng phải thật tiết kiệm nước, không được sử dụng vào việc gì khác ngoài việc để uống.

Khi đó đã xảy ra một chuyện làm tất cả mọi người đều cảm kích. Chả là trên tàu có bốn, năm thủy thủ người Mỹ cứ hơi một chút là lấy nước dùng. Chúng tôi nói với thuyền trưởng Brooker rằng, không biết phải xử lý thế nào với việc dùng nước của các thủy thủ này, thì ông nói ngay: “Nếu họ dùng nước như thế xin các ông cứ bắn bỏ giúp tôi! Đây là kẻ thù của cộng đồng, không phải giảng giải, không phải tra hỏi gì cả, cứ bắn ngay cho tôi!”. Về lý thì đúng là như thế. Và sau đó, chúng tôi cho gọi các thủy thủ đến dặn nếu dùng nước hoang phí sẽ bị bắn bỏ. Vì thế mà đã tiết kiệm, không bị hết nước, cả đoàn 96 người đến Mỹ bình an vô sự.

Còn sự bề bộn trên tàu thì không dễ gì dọn lại được. Thủy thủ mặc kimono có ống tay và đi giày tết bằng rơm. Giày rơm tích lũy những mấy trăm, mấy ngàn đôi. Tàu lại nhớp nháp vì trong suốt 37 ngày chỉ có bốn, năm ngày là tạnh ráo. Trong tàu quả thực là rất bề bộn. (Sau khi đến San Francisco thuyền trưởng quyết định mua cho mỗi thủy thủ một đôi giày cao, nên trông bề ngoài có khá hơn).

Sự siêu việt của người Nhật

Trên chuyến đi ấy có chuyện để tôi có thể tự hào về nước Nhật. Người Nhật được nhìn thấy tàu hơi nước đầu tiên là vào năm Ka'ei thứ sáu (1853-ND), bắt đầu học về hàng hải năm Ansei thứ hai (1855-ND) từ người Hà Lan ở Nagasaki, thành nghề và quyết định lên tàu ra nước ngoài là vào mùa đông năm Ansei thứ sáu (1859-ND).

Như thế có nghĩa là chỉ năm thứ bảy sau khi nhìn thấy tàu hơi nước và năm thứ năm kể từ khi bắt tay vào học kỹ thuật hàng hải mà khi quyết định giương buồm ra khơi vào Tết năm Man'en thứ nhất (1860), người Nhật đã dám táo bạo quyết định đi mà không cần một sự trợ giúp nào của người nước ngoài. Lòng dũng cảm đó, bản lĩnh nghề nghiệp đó, chỉ cần điều đó thôi, theo tôi, đã làm nên danh dự cho nước Nhật, đã là một sự thực đủ để tự hào với thế giới.

Như tôi đã nói, trên đường đi chúng tôi không hề phải nhờ vào sự trợ giúp của thuyền trưởng Brooker. Cả việc đo đạc cũng tự người Nhật làm lấy. Người Mỹ cũng tiến hành đo đạc, sau đó cùng đọ kết quả của nhau. Chỉ có thế, chứ tuyệt nhiên chúng tôi không hề có ý nhờ người Mỹ giúp đỡ.

Tôi nghĩ, chỉ điều đó cũng có thể lấy làm tự hào. Cứ thử nhìn qua người Triều Tiên, Trung Quốc hay toàn thể các nước phương Đông hiện nay mà xem, chắc chắn họ không có lòng dũng cảm đó, không có chuyện chỉ học kỹ thuật hàng hải có 5 năm mà dám vượt Thái Bình Dương. Ngày xưa, Đại đế Piot của Nga đã đi Hà Lan học về kỹ thuật hàng hải, nhưng hỏi rằng, Đại đế Piot đã làm được một việc vĩ đại như vậy chưa? Giả thử Piot đại đế là một con người kiệt xuất đi chăng nữa, liệu rằng, ở nước Nga lúc ấy dễ mà có được những người dân với học vấn tinh thông ngọn nguồn, có thể làm những việc siêu việt như người Nhật hay không?

Người Mỹ nổ súng đón chào

Lênh đênh trên biển mãi cũng có ngày cập bến San Francisco. Vừa đến nơi thì những nhân vật quan trọng của địa phương đã ra mãi tận tàu và bày tỏ sự hân hoan chào đón chúng tôi. Đó mới chỉ là bước đầu của sự nghênh đón. Người xem trên bờ đông nghịt. Từ đó phát ra tiếng súng đón chào đoàn chúng tôi. Mà họ bắn thì chúng tôi cũng phải bắn lại để đáp lễ, nhưng xung quanh điều này cũng có một chuyện buồn cười.

Anh Katsu Rintarō có quyền chỉ huy sau ngài thuyền trưởng Kimura, nhưng vốn là người không quen tàu bè, sóng gió, nên trong suốt chuyến đi lúc nào anh cũng khật khừ như người ốm, không thể ra khỏi phòng riêng của mình. Nhưng khi tàu cập bến, anh khỏe lại và điều hành mọi việc ra dáng một người chỉ huy. Khi đó đã xảy ra sự tranh cãi về chuyện nổ súng đón chào. Theo ý của anh Katsu, chúng tôi không thể nổ súng đáp lễ được. Không bắn lên còn hơn là đáp lại một cách vụng về. Lập tức, anh Sasakura Tōtarō, người chịu trách nhiệm về kỹ thuật lái tàu khăng khăng:

- Làm gì có chuyện không dùng được! Để tôi bắn cho mà xem!

- Vớ vẩn! Các cậu bắn được thì tớ xin nộp đầu cho các cậu!

Bị đùa lại như thế, nhưng anh Sasakura không chịu và nhất quyết, dù thế nào cũng sẽ bắn để đáp lễ, nên ra lệnh cho thủy thủ lau chùi lại đại bác, chuẩn bị sẵn sàng thuốc nổ, cầm đồng hồ cát tính giờ. Kết quả là đã nổ súng đáp lễ giòn giã. Thế là anh Sasakura tỏ vẻ huênh hoang: “Tôi đã làm mọi việc đầu xuôi đuôi lọt rồi. Vậy thì cái đầu của anh Katsu sẽ là của tôi! Nhưng vẫn đang trong chuyến đi, còn nhiều việc phải làm, thôi thì tạm thời cứ cho tôi gửi tạm trên người anh Katsu đã nhé!”. Anh nói thế làm cả tàu cùng cười vang. Nhưng nói gì thì nói, chuyện nổ súng đón chào quả thực là rất tuyệt vời!

Sự đón tiếp tận tình

Sau khi đến Mỹ bình yên vô sự, chúng tôi được người Mỹ tiếp đón một cách chu đáo và hết lòng đến mức tôi nghĩ không thể có cách đối đãi nào hơn thế nữa. Thử đặt vào địa vị của người Mỹ, có lẽ họ nghĩ thế này: Người Mỹ đến Nhật và lần đầu tiên người Nhật đã buộc phải mở cửa. Từ chuyến đi đến Nhật của ông Perry, thì năm thứ tám sau đó chính những người Nhật này đã đi tàu đến được đất nước của mình, nên họ cho đó như việc những học trò tốt nghiệp từ trường của mình ra đã đuổi kịp được mình. Chỉ còn nước chưa nói ra rằng, chính mình là người đã mở màn mà thôi. Thế nên họ nâng niu người Nhật lên lòng bàn tay, cẩn thận, làm sao không để phải gặp bất kỳ khó khăn gì.

Chúng tôi vừa đến San Francisco đã có người mang xe ngựa đến đón và tạm thời cho nghỉ ở một khách sạn trong thành phố. Ở khách sạn đó không hiểu là người của tòa thị chính hay ở đâu mà thấy những quan chức đứng đón chào đông kín. Rất nhiều kiểu, hết sự tiếp đón này đến sự tiếp đón khác. Ngay vùng phụ cận của San Francisco là Mare Ireland có một cảng dành riêng cho hải quân và họ cho chúng tôi mượn chỗ ở đó cho tàu Kanrin-maru đỗ. Họ bảo tàu của chúng tôi bị hỏng hóc trên đường đi, nên sẽ đem về xưởng để sửa giúp.

Trong thời gian ở Mỹ, chuyện ăn ở thì khỏi phải nói, ngoài ra việc gì họ cũng lặng lẽ lo cho. Những người Nhật mà trước hết là thủy thủ, không quen ăn đồ Âu, vì quả thực không phải là đồ ăn Nhật, thì không ăn được, nên định sẽ tự mình lo chuyện ăn uống. Nhưng họ biết rất rõ rằng người Nhật thích ăn cá và ngày nào cũng mang đến. Hoặc như người Nhật thích tắm bồn nước nóng thì ngày nào họ cũng chuẩn bị bồn tắm cho. Đại thể là như thế. Mare Ireland vốn không phải là thành phố, nên thỉnh thoảng họ lại rủ chúng tôi đi San Francisco chơi. Chúng tôi mà lên tàu đi thì lần nào họ cũng hướng dẫn đến tận khách sạn và ở đó lại được đón tiếp rất long trọng.

Ngạc nhiên vì thảm trải

Tất thảy mọi thứ ở Mỹ đều lạ đối với chúng tôi. Chẳng hạn, nhìn thấy xe ngựa thực ra cũng ngạc nhiên, vì đó là lần đầu tiên trong đời. Người ta buộc ngựa vào xe và làm thành một phương tiện đi lại, điều đó cũng có thể hiểu được, nhưng lúc đầu chỉ nhìn qua thì không thể đoán ngay ra như thế. Cứ thấy cửa mở ra và người bước vào là ngựa chạy, nên chúng tôi mới vỡ lẽ ra đấy đúng là xe do ngựa kéo thật. Vỡ lẽ ra được điều ấy mà vui mừng như thể phát hiện được một điều mới lạ vậy.

Người Nhật thường đeo hai thanh kiếm lớn, nhỏ, đi dép lót vải gai. Đến khi được người Mỹ hướng dẫn vào khách sạn thì ôi thôi thảm trải khắp từ trong đến ngoài! Thảm đó ở Nhật nhà nào sang lắm cũng chỉ dám bỏ tiền ra mua một tấm hình vuông cỡ 1 Shun để làm những thứ như ví đựng tiền hay bao đựng thuốc lá mà thôi, chứ đâu có dám dùng thứ hiếm như vậy mà trải ra sàn rộng đến những 8 Jō (Điệp) hay 10 Jō. Hơn thế, còn giẫm giày lên đó mà đi thì quả thực là ngạc nhiên không để đâu cho hết.

Người Mỹ cứ để nguyên giày đi lại trên đó, nên chúng tôi cũng cứ nguyên dép như thế mà bước lên. Vừa bước vào thì họ dọn rượu ra. Khi mở rượu lại kèm theo một âm thanh khủng khiếp. Tôi thấy lạ nhất là khi mở Champagne. Trong cốc lại có cái gì đó nổi lên mà chúng tôi không tài nào hiểu nổi. Cũng không thể nghĩ được rằng, đó là vào dịp tháng 3, tháng 4, trời nóng, nên người ta phải cho đá vào để uống. Trước mặt mỗi người chúng tôi đều đặt cốc. Để tôi tả lại cảnh khi mọi người uống rượu đó. Người Nhật chúng tôi trước hết đều cho cái thứ nổi lềnh bềnh ấy vào miệng, người thì giật mình vội phun ra, người lại không nhổ ra mà nhai rau ráu trong miệng và cuối cùng cũng hiểu đó chính là đá!

Đến lượt tôi định hút một điếu thuốc, nhưng không có đĩa đựng thuốc cũng không có gạt tàn. Khi đó, tôi đã châm bằng lửa của lò sưởi. Thực ra trên bàn có lẽ có để diêm, nhưng tôi nào có biết diêm là gì, nên đã châm thuốc bằng lửa lò sưởi. Vì không thấy có gạt tàn thuốc, không có chỗ vứt mẩu thuốc hút thừa và tôi đã lôi giấy trong tay nải ra, nhả mẩu thuốc vào trong giấy đó, cẩn thận vo tròn, vặn chặt lại để lửa khỏi bén ra rồi cho vào dưới tay áo. Một lát sau, khi định hút sang điếu khác thì giật nảy mình vì thấy khói bốc lên từ trong tay áo! Không biết phải làm sao nữa, đã cố dập mà lửa từ mẩu thuốc vẫn bén ra đến giấy gói.

Học trò vô tư lự cũng giữ ý như nàng dâu

Trên đất Mỹ, điều gì đối với tôi cũng mới lạ, nên mặc dù từ khi cha sinh mẹ đẻ chưa biết thế nào là cảnh nàng dâu mới về nhà chồng, nhưng tôi cảm giác mình cũng lóng ngóng y như vậy. Giống như nàng dâu phải sống trong một căn nhà mà mình chưa biết trật tự ra sao, cứ bị sai thế này, bảo thế kia, xung quanh bị bao bọc bởi những người lạ, chưa từng gặp bao giờ. Trong đám hỗn loạn, người cười, người tán gẫu, còn nàng dâu chỉ biết ngồi yên một cách lễ phép để không bị người khác cười, nhưng chính mình tự cảm thấy xấu hổ đến đỏ cả mặt. Tôi có thể đoán được sự khổ sở của tôi bây giờ cũng giống như thế. Cho đến trước khi ra khỏi nước Nhật, cậu học trò vô tư, hiên ngang, không biết sợ ai là tôi đây mà lần đầu sang Mỹ lại trở nên nhút nhát, nhỏ bé như nàng dâu mới về nhà chồng! Tự tôi cũng cảm thấy buồn cười với chính mình.

Thế rồi, ngày nào các quý ông, quý bà bên đó cũng tập trung lại khiêu vũ cho chúng tôi xem, nhưng khi đi xem thử thì không hiểu gì cả. Nhìn điệu bộ họ nhảy tung tăng trên sàn, tôi chỉ thấy buồn cười không chịu nổi, nhưng nghĩ nếu cười thì vô duyên quá, nên đành cố nhịn. Cả việc đó cũng là lần đầu tiên trong đời, quả thực là một cực hình.

Ngạc nhiên với phong tục trọng nữ khinh nam

Chỉ một chi tiết nhỏ mà cuối cùng đã thành ra chuyện như tôi vừa kể trên. Tôi không có chút hiểu biết nào về phong tục, tập quán của xã hội Mỹ. Có lần, chúng tôi đến nhà một bác sĩ người Hà Lan ở Vallejo, gần Mare Ireland. Người Hà Lan vốn có duyên gần gũi với người Nhật, nên ông bác sĩ nói muốn mời thuyền trưởng Kimura đến dinh thự của ông.

Chúng tôi đến thì thấy đó là một ngôi nhà sang trọng kiểu quê mùa. Trong khi những đồ ăn đã thịnh soạn thì có một điều lạ là bà vợ ông từ trong bước ra, ngồi yên trên ghế và tiếp khách, còn ông chủ lại tất bật chạy đi chạy lại. Thật là buồn cười! Hoàn toàn đảo ngược với phong tục ở Nhật. Khi nhà có khách, ông chủ ngồi đàm đạo với khách, còn bà vợ chạy đi chạy lại để phục dịch cơm nước là chuyện đương nhiên. Thế nên tôi rất lấy làm lạ.

Bữa tiệc hôm đó, người ta đưa ra trước mặt chúng tôi nguyên một con lợn bao tử hầm. Cả điều này tôi cũng sửng sốt. Tôi giật mình như đang đi đến vùng Adachigahara (An-Đạt-Nguyên). Ăn uống hồi lâu xong, họ bảo chúng tôi có muốn về bằng ngựa không. Đó là ý kiến hay, nên tôi nói đã lâu không đi ngựa và muốn đi. Tôi mượn ngựa ở đó để về. Thuyền trưởng Kimura là Hatamoto ở Edo, nên đi ngựa rất giỏi. Khi còn ở Edo không có ngày nào là không leo lên mình ngựa. Thế là chúng tôi lên ngựa phóng đi, thì người Mỹ rất ngạc nhiên. Gương mặt họ tỏ vẻ rất lạ khi thấy người Nhật mà cũng biết đi ngựa. Cả hai bên đều không hiểu biết chút nào về tình hình của nhau như thế.

Ca thán về sự giải thích lệch pha

Người Mỹ còn hướng dẫn chúng tôi đi tham quan nhiều nhà máy của họ. Thời đó, ở San Francisco còn chưa có hệ thống đường sắt, nhưng về công nghiệp thì có rất nhiều nhà máy, phân xưởng, nên họ đã cho chúng tôi vào đó thăm. Và điều đáng ngạc nhiên, mặc dù không có đèn chạy bằng điện, nhưng lại có điện tín và phương pháp mạ kim loại của Luigi Galvani cũng được tiến hành trên thực tế. Trong suy nghĩ của người Mỹ, người Nhật có nằm mơ cũng không thể biết được những công nghệ đó, nên mới đem khoe như thế, nhưng thực ra chúng tôi đã biết quá rõ. Đây là Telegraph. Còn kia là đang tạo ra một thứ bằng lực Galvani.

Lại có một nhà máy sản xuất đường. Người ta đang tạo môi trường chân không trong chiếc nồi lớn để làm cho sôi thật nhanh. Họ thuyết minh rất tường tận, nhưng những điều đó chúng tôi biết thừa! Nếu tạo một môi trường chân không thì sẽ làm cho sôi nhanh hơn. Khi tinh lọc đường mà lọc bằng than sẽ sạch hơn là điều mà chúng tôi đã biết rõ. Dường như họ không thể nghĩ rằng chúng tôi cũng biết đến điều đó mà cứ tận tình giảng giải. Nhưng chúng tôi đã biết rõ những điều đó từ bao nhiêu năm trước, nên không có gì phải ngạc nhiên cả. Chúng tôi chỉ ngạc nhiên bởi một điều rằng đi bất cứ đâu, thùng rác hay bãi biển cũng đều thấy rất nhiều đồ kim loại. Chẳng hạn như những đồ như hộp xăng dầu, vỏ hộp đựng đồ dùng. Thật là chuyện lạ! Ở Edo mà có đám cháy thì người ta nhao nhao đi hôi của, nhưng khi đến Mỹ thì kim loại vứt như rác, nên tôi thấy rất lạ.

Ngạc nhiên vì giá cả đắt đỏ

Tiếp đến, tôi còn rất ngạc nhiên với sự đắt đỏ về giá cả. Mua một mớ hà biển đã mất nửa đô-la tiền Mỹ, mà cũng chỉ được có hai mươi hay ba mươi con. Như ở Nhật thì chỉ khoảng từ 24 Mon đến 32 Mon là cùng, trong khi nửa đô-la tiền Mỹ tính ra là vào khoảng 1 Bu 2 Shu! Thật là một nơi đắt khủng khiếp, một chuyện đáng giật mình. Nói như thế để biết rằng, tôi hoàn toàn không hiểu gì về xã hội, chính trị, cũng như kinh tế của Mỹ.

Hỏi han về hậu duệ của George Washington

Khi sang Mỹ, trong tôi nảy ra ý định hỏi về một người không phải ai khác mà chính là George Washington, xem hậu duệ của ông ta hiện giờ ra sao, thì được người ta trả lời rằng không biết con gái ông ta bây giờ thế nào, hình như đã làm vợ ai đó. Câu trả lời hết sức lãnh đạm, điều mà tôi không thể ngờ tới. Thật là kỳ lạ! Mặc dù, tất nhiên tôi có biết Mỹ là nước theo chế độ cộng hoà, tổng thống chỉ làm theo nhiệm kỳ 4 năm, nhưng khi nói đến hậu duệ của George Washington thì luôn nghĩ rằng, đấy là những người tai to mặt lớn. Là bởi vì trong thâm tâm tôi có ý nghĩ ông ta giống như Minamoto Yoritomo (Nguyên Lại-Triều) hay Tokugawa Ieyasu (Đức-Xuyên Gia-Khang) của Nhật, nên suy từ đó ra hỏi thì hết sức ngạc nhiên với câu trả lời mà tôi vừa kể. Cảm giác ngạc nhiên đó bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Khi đến Mỹ tôi không ngạc nhiên nhiều về khoa học, kỹ thuật, nhưng về xã hội thì hoàn toàn không thể kiểm chứng nổi.

Tặng hoa thay cho lời cảm ơn vì món quà tặng bằng tiền

Một lần, thuyền trưởng McDougal ở cảng hải quân Mare Ireland ngỏ ý muốn xem đồng tiền của Nhật. Thuyền trưởng của chúng tôi dường như trước đó đã chuẩn bị cho việc này. Ông có mang rất nhiều tiền kim cổ, nên sắp từ đồng xu thời Keichō (Khánh-Trường) đến tiền giấy thời Man'en (Vạn-Diên) để gửi tặng cho thuyền trưởng McDougal. Thế nhưng gương mặt thuyền trưởng McDougal không hề thấy vẻ hớn hở như khi người ta nhận được tiền. Ông điềm đạm nói cảm ơn về việc gửi quà cho ông ngày hôm trước và sáng hôm sau vợ ông mang hoa đến tặng thay cho lời cảm ơn.

Tôi chứng kiến tuần tự việc đó mà không khỏi thầm cảm động. Là một con người, tôi rất muốn được như vậy. Sao mà trái tim người ta lại cao thượng, có thể vượt qua những ham muốn về vật chất đến thế! Khấp khởi mừng khi nhận được tiền bạc là điều quá ư thấp hèn. Tôi rất muốn trở thành người cao thượng như thuyền trưởng McDougal và đã vô cùng cảm động khi chứng kiến sự việc đó.

Không yêu cầu trả tiền công sửa tàu

Như tôi đã nói, người Mỹ giúp đỡ chúng tôi nhiều. Họ rất mực tử tế, không chỉ đưa tàu của chúng tôi vào xưởng sửa chữa giúp mà còn gia công thêm cả hòm đựng cho cả đoàn nữa. Đã đến lúc tàu được chuẩn bị xong để lên đường về và chúng tôi ngỏ ý muốn trả tiền công sửa tàu cũng như chi phí khác thì họ cười. Họ bảo không có chuyện công xá gì. Cứ giằng co như thế, nhưng cuối cùng cũng không lay chuyển được họ. Nói thế nào họ cũng không có ý định để chúng tôi thanh toán.

Lần đầu tiên mua sách tiếng Anh mang về Nhật

Hồi đó, tôi với anh phiên dịch Nakahama Manjirō (Trung-Banh Vạn-Thứ-Lang) mỗi người mua một cuốn từ điển do Webster biên soạn. Đó là cuốn từ điển tiếng Anh có tên là Webster được nhập khẩu vào Nhật lần đầu tiên. Mua xong cuốn ấy, tôi coi như không còn gì vướng mắc nữa và tàu giương buồm ra khơi.

Lực lượng dân quân

Lần thứ hai đến Mỹ, tôi có dịp gặp lại thuyền trưởng Brooker và được nghe ông kể lại câu chuyện của bảy năm về trước. Hồi đó, khi lần đầu tiên tàu Kanrin-maru của Nhật đến Mỹ thì ở San Francisco đã có một cuộc tranh cãi gay gắt. Ông thuyền trưởng bảo lần này quân hạm của Nhật Bản đến, phải đón tiếp thật long trọng. Ở đó có một nơi là trụ sở của Lục quân, nên thuyền trưởng Brooker đã đến đó và trình bày ý kiến nên đón tiếp thật tưng bừng, thì được trả lời là phải đi hỏi chính phủ ở Washington. Nghe thấy thế, ông mới bảo: “Như thế sẽ không kịp. Xin các ông độc lập quyết định giúp cho!”. Ông nói đến thế mà công việc vẫn không được giải quyết, nên tuyên bố thẳng thừng: “Theo đường chính phủ mà không được thì ta đây sẽ có cách!”.

Từ đó, ông chuyển hướng sang nhờ dân quân của San Francisco: “Có chuyện thế này, các cậu xem có tiếp đón được không?”. Nghe thấy thế, lực lượng dân quân mừng rỡ, lập tức bắt tay vào chuẩn bị. Nhóm dân quân này thường không có quân dịch gì. Đại tướng chỉ huy là một vị bác sĩ, thiếu tướng là chủ một cửa hàng nhuộm. Đại khái cơ cấu tổ chức như vậy, nhưng họ có đầy đủ quân phục, súng ống và tập luyện vào những lúc rỗi hay ngày chủ nhật, thậm chí cả vào những buổi tối nếu có trăng sáng. Thời chiến họ tòng quân, mà khi hòa bình thì đó là một trong những thú vui của các cậu thanh niên. Họ đã mất công may quân phục mà ít có dịp được mặc. Đúng lúc đó, nghe được câu chuyện của thuyền trưởng Brooker thì với họ đó là cơ hội ngàn năm có một và diện ngay bộ quân phục lấp lánh ra đón quân hạm Kanrin-maru của Nhật. Thuyền trưởng Brooker đã kể lại như vậy.

Ghé qua Hawaii

Chúng tôi hân hoan giương buồm dời San Francisco trong tiếng súng lừng vang tiễn chào và quyết định sẽ ghé vào cảng Hawaii. Chúng tôi có dẫn theo hai, ba thủy thủ người Mỹ, chứ không có thuyền trưởng Brooker mà hoàn toàn chỉ có người Nhật đảm đương việc xử lý con tàu. Bằng cách này, hay cách khác, chúng tôi cũng tìm ra được cảng Hawaii và ghé vào đó chừng ba bốn ngày.

Trong thời gian lưu trú lại Hawaii, tôi thấy phong tục ở đó không có gì hay. Có lẽ Hawaii của ba mươi năm trước cũng không khác gì Hawaii bây giờ. Phong tục của thổ dân ở đó bẩn thỉu và không thể nói bằng từ gì khác ngoài dã man. Chúng tôi có gặp cả Quốc vương. Gọi là Quốc vương, là bệ hạ thì có vẻ to tát, chứ thử đi đến đó mà xem, không có gì đáng ngạc nhiên cả. Hai vợ chồng ông ta dẫn nhau ra. Quốc vương mặc áo dạ, còn nhà của họ thì chỉ như nhà kiểu Âu bậc trung ở Nhật. Họ mang bảo vật ra khoe với chúng tôi. Tưởng gì hóa ra thấy mang ra một tấm thảm trải làm từ lông chim. Thế mà theo họ đó đã là vật quý giá nhất. Họ chỉ cho chúng tôi cả Hoàng đệ, tức em của Quốc vương, nhưng nhìn ra thấy dáng một người đang cắp rổ như là đang đi chợ. Đại khái trông ông ta cũng chỉ như người thợ cả trong làng chài mà thôi.

Ảnh người thiếu nữ

Từ Hawaii, chúng tôi chất than lên tàu và lại giương buồm đi tiếp. Nhưng ở đó cũng có một chuyện khá thú vị. Như đã nói từ trước, tôi không có tính ăn sương nằm gió, không phạm phải nhân luân bao giờ. Không chỉ như thế mà ngoài miệng cũng không nói những chuyện nhăng cuội. Vì vậy, có lẽ những người đồng hành cho tôi là một người lạ lùng. Nhưng hôm tàu giương buồm dời Hawaii, tôi mới cho mọi người trên tàu xem một tấm ảnh. (Tấm ảnh đó hiện có ở đây. Nhìn tấm ảnh thầy Fukuzawa đưa ra thì thấy có một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi đang đứng cạnh thầy Fukuzawa vào khoảng 40 năm trước - Yano Yujirō chú thích). Tấm ảnh mà tôi nói đến là thế này đây. Tất nhiên, khi đó, không ai nghĩ xem cô gái đó là diễn viên, là cô gái bán hoa hay cô gái bình thường. Tôi trêu chọc mọi người rằng: “Các cậu mang tiếng ở San Francisco lâu thế mà có đứng chụp ảnh thân thiết với cô gái nào được đâu? Các cậu thấy sao? Từ sớm đến chiều toàn nói những chuyện nhảm nhí ngoài miệng, nhưng không thực hiện thì nói chuyện làm gì?”.

Đó là cô con gái người thợ ảnh, tuổi chừng mười lăm. Trước đây, tôi cũng có lần đến hiệu ảnh đó, nhưng hôm ấy trời mưa, tôi đến đó một mình, gặp cô con gái ở nhà, nên mới rủ cô bé vào chụp cùng. Vì cô bé là người Mỹ, nên không ngại ngùng gì cả. Rủ chụp cùng thì chụp ngay thôi. Khi tôi cho mọi người trên tàu xem ảnh thì các sĩ quan trẻ rất ngạc nhiên. Nhưng có tiếc cũng không thể chụp được nữa. Chuyện là, nếu khi còn ở San Francisco mà tôi nói ra thì lập tức sẽ có người bắt chước, nên tôi im lặng và giấu đi. Khi tàu đã xa Hawaii và không có cơ quay trở lại Mỹ, tôi mới đem ra khoe để trêu mọi người thay cho một trò đùa vui.

Sự biến Sakurada trong thời gian vắng mặt

Khi quay về, chúng tôi nhằm thẳng hướng Nam mà đi. Khác với lúc đi, khi về thuận buồm xuôi gió hơn. Năm ấy là năm nhuận. Tính cả tháng nhuận thì sáng ngày 5 tháng 5 chúng tôi về đến Uraga. Có quy tắc là đến Uraga nhất định phải thả neo. Trong mấy mươi ngày trên tàu, tất nhiên là chúng tôi không thể tắm được. Đến như nước súc miệng còn khó, nên người bẩn, tóc bù xù, dính bết vào nhau.

Vừa đến Uraga, tôi định sẽ tạm gác lại mọi chuyện, trước hết là đi cắt tóc, sau đó sẽ đi tắm và lên chiếc mủng nhỏ vào bờ, thì đoàn đi đón ông Kimura đã tập trung ở Uraga từ mấy ngày trước. Trong số những người hầu cận của ông Kimura có một người tên là Shima Yasutarō (Đảo An-Thái-Lang) ra tận bờ biển đón. Tôi lên bờ trước tiên và đã gặp anh Shima đó. Chúng tôi rời nước Mỹ vào dịp Tết. Cho đến khi cập cảng Uraga không có lấy một chút tin tức phong thanh, cũng không có thư từ bưu điện và cũng không gặp tàu nào khác. Khoảng thời gian đó kéo dài trong sáu tháng, nhưng không được nghe tin tức gì từ quê hương, nên có cảm giác đã không gặp lại những sáu năm đằng đẵng.

Gặp anh Shima ở trên bờ biển Uraga, tôi bảo lâu mới được gặp và hỏi xem trong khoảng thời gian đó ở Nhật có gì thay đổi không, thì sắc mặt anh Shima Yasutarō thay đổi hẳn. Anh ta bảo: “Có, có, có chuyện tày đình đấy!”. Khi đó, tôi mới nói: “Anh Shima, đợi tôi chút xem nào! Không được nói, để tôi đoán thử cho mà nghe! Chuyện tày đình thì chỉ có Samurai thất nghiệp ở Mito vào đốt phá tư dinh của Kamon-sama (Tảo-bộ-dạng) phải không?”. Tôi nói thế làm anh Shima càng thêm kinh ngạc: “Sao cậu lại biết chuyện ấy? Cậu nghe ở đâu? Ai kể?”. “Anh thừa biết là tôi đã hỏi hay không rồi còn gì! Tôi nhìn vân khí mà đoán ra thế thôi!”. “Chuyện này làm tôi ngạc nhiên đấy. Không phải là phá nhà mà là thế này”. Và anh kể cho tôi nghe toàn bộ sự biến Sakurada. Vào ngày mùng 3 tháng 3 năm đó, đã có một cuộc bạo động lớn ở Sakurada. Chỉ cần nói chuyện đó là đại khái có thể phần nào hiểu được về tình hình trong nước. Trước khi đi tôi cũng có nghĩ về thế sự, đoán thế nào cũng có bạo động xảy ra và ngẫu nhiên đã trúng. Thật là kỳ lạ.

Mua ô hình cánh dơi về làm kỷ niệm

Trước đó mấy năm, thiên hạ đã rục rịch tiến hành bài trừ người nước ngoài. Trong thời gian lưu trú ở Mỹ, thuyền trưởng có mua một chiếc ô hình cánh dơi. Mọi người thấy lạ, liền xúm lại xem. Ông bảo: “Không biết thế nào, mang ô này về Nhật che có được không?”. “Không được. Ông rõ quá rồi còn gì! Ông đi từ tư dinh ở Shinsenza đến Nihom-bashi thì các võ sĩ thất nghiệp sẽ xé tan ra chứ không sai. Thế nên, ông chỉ có thể thỉnh thoảng đem ra mà mở ở trong khuôn viên nhà thôi, chứ không mong dùng vào việc gì khác nữa đâu!”. Tình hình lúc đó là như thế. Sau khi tôi về nước thì phong trào bài người nước ngoài càng rầm rộ.

Được Mạc phủ thuê vào làm việc

Từ khi tôi đi Mỹ về, học sinh trong trường càng đông lên. Trong khi tôi vẫn duy trì việc dạy học, cũng may vì đã có dịp sang Mỹ, trực tiếp nghe tiếng của người Mỹ và học hỏi được thêm nhiều về tiếng Anh. Sau khi trở về Nhật, tôi vẫn cố gắng đọc sách vở tiếng Anh. Ngay cả khi dạy học trò, tôi cũng không dạy đọc sách tiếng Hà Lan nữa, mà chuyển hẳn sang tiếng Anh. Tuy nhiên, thứ tiếng đó với tôi vẫn còn rất khó, chưa thể tự mình đọc một cách thoải mái được. Không đọc được nên chỗ dựa của tôi là từ điển song ngữ Anh - Hà Lan. Vì vậy, gọi là dạy, nhưng thực ra là vừa như dạy vừa như học.

Trong thời gian cùng học với học trò như vậy, tôi được Bộ phận chuyên trách về ngoại giao (tương đương với Bộ Ngoại giao bây giờ) của Mạc phủ thuê vào để dịch các văn bản mà công sứ, lãnh sự các nước gửi Mạc phủ và Bộ phận chuyên trách về ngoại giao. Thời bấy giờ, ở Nhật không có người nào đọc được, cũng như không có người nào viết được tiếng Anh và tiếng Pháp, nên có lệ là công văn gửi đến từ công sứ, lãnh sự các nước nhất định phải kèm theo một bản tiếng Hà Lan. Nhưng trong Mạc phủ vì không có một ai đọc chữ viết ngang, đành phải thuê những bồi thần như chúng tôi vào đọc tiếng Hà Lan và làm việc giúp.

Chuyện được thuê vào làm rất lợi cho bản thân tôi là ở chỗ, những văn bản được gửi từ công sứ Anh hay công sứ Mỹ được viết bằng tiếng Anh và có kèm theo bản dịch tiếng Hà Lan. Tôi không xem bản dịch tiếng Hà Lan ngay mà muốn thử dịch trực tiếp từ văn bản tiếng Anh. Trong khi dịch thử có chỗ không hiểu sẽ xem bản dịch bằng tiếng Hà Lan. Xem xong thì hiểu được, nên rất có ích cho việc học tiếng Anh. Còn một điều nữa là ở Bộ phận chuyên trách về Ngoại giao của Mạc phủ có rất nhiều loại sách tiếng Anh khác nhau. Đến đó đọc thì tất nhiên, mà mượn về cũng được, nên việc được Mạc phủ thuê vào làm là một sự tiện lợi lớn đối với bản thân tôi.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha