Khoa học và tiến bộ xã hội

2. Khoa học và tiến bộ xã hội

Thừa nhận rằng, sự phát triển của hiểu biết trực tiếp mà con người có được trong các hoạt động mang mối hứng thú xã hội đã được phát triển tiếp để trở thành một hình thức hoàn thành hợp logic, thì sẽ nảy sinh câu hỏi về vị trí của hình thức này trong kinh nghiệm. Câu trả lời nói chung là, khoa học đánh dấu sự giải phóng trí óc ra khỏi sự tôn sùng những mục đích mang tính tập tục và coi việc theo đuổi tri thức một cách có hệ thống là những mục đích mới. Khoa học là phương tiện của sự tiến bộ đang diễn tiến. Đôi khi, tiến bộ được coi là cốt ở việc tiến gần hơn nữa tới các mục đích được theo đuổi. Nhưng đó chỉ là hình thức thứ yếu của tiến bộ, bởi sự tiến bộ đó chỉ đòi hỏi sự cải tiến về phương tiện của hành động hoặc sự tiến bộ về kỹ thuật, về cơ bản, những phương thức quan trọng hơn của tiến bộ cốt ở việc làm phong phú các mục đích trước đó và hình thành những mục đích mới mẻ. Khao khát không phải là một đại lượng cố định cũng như tiến bộ không chỉ nghĩa là sự tăng lên về mức độ thỏa mãn. Cùng với trình độ văn minh ngày càng tăng và sự làm chủ Tự nhiên theo cách mới, con người có thêm những khao khát mới, có thêm những đòi hỏi mới về các đặc tính của thỏa mãn, bởi trí thông minh nhận ra những khả năng hành động mới mẻ. Việc dự phóng những khả năng mới mẻ dẫn đến việc tìm kiếm các phương tiện thực hiện mới, và tiến bộ xảy ra; trong khi đó, việc khám phá ra những vật thể còn chưa được sử dụng tới, dẫn đến sự gợi ý những mục đích mới.

Thành quả vĩ đại của những phát minh xuất phát từ việc sử dụng trí tuệ vào việc làm chủ những bí ẩn của Tự nhiên là bằng chứng cho thấy khoa học là phương tiện quan trọng bậc nhất của việc hoàn thiện sự kiểm soát phương tiện hành động. Sự đổi thay kỳ diệu của sản xuất và phân phối được gọi bằng cái tên “cách mạng công nghiệp” là kết quả của khoa học thực nghiệm. Đường sắt, tàu thủy chạy bằng hơi nước, động cơ điện, điện thoại và điện tín, xe hơi, máy bay và khinh khí cầu là những bằng chứng rõ ràng của việc áp dụng khoa học trong đời sống. Song, nếu không có hàng ngàn phát minh ít gây chú ý hơn mà nhờ đó khoa học tự nhiên đã được biến thành phương tiện phục vụ cho đời sống hằng ngày của chúng ta, thì chẳng có phát minh nào nói trên lại có được ý nghĩa quan trọng đến thế.

Cần thừa nhận rằng, ở mức độ đáng kể nào đó, sự tiến bộ có được theo cách như trên chỉ là tiến bộ về kỹ thuật: nó đem lại phương tiện hiệu quả hơn để thỏa mãn những khao khát tồn tại trước đó, hơn là làm biến đổi về đặc tính các mục đích của con người. Chẳng hạn, không có nền văn minh cận đại nào có thể sánh bằng nền văn minh Hy Lạp trên mọi phương diện. Khoa học vẫn còn là điều mới xuất hiện cách đây không lâu, cho nên nó vẫn chưa được hấp thu vào trong xu hướng tình cảm và trí tưởng tượng. Con người vận động nhanh hơn và chắc chắn hơn tới chỗ thực hiện được các mục đích của mình, song các mục đích ấy vẫn chủ yếu giữ nguyên tính chất như trước khi có sự soi sáng của khoa học. Sự kiện này đặt ra cho giáo dục trách nhiệm phải sử dụng khoa học theo cách làm thay đổi thái độ tưởng tượng và cảm xúc quen thuộc, chứ không chỉ bỏ mặc khoa học như là sự kéo dài đôi tay và đôi chân vật chất của chúng ta.

Tiến bộ khoa học đã làm thay đổi suy nghĩ của con người về các mục đích và lợi ích của đời sống, tới một mức độ đủ để đưa ra ý niệm nào đó về bản chất của trách nhiệm nói trên và các phương pháp đáp ứng trách nhiệm đó. Khi khoa học có tác dụng trong hoạt động của con người, nó đập vỡ những rào cản tự nhiên đã từng ngăn cách con người; nó mở rộng rất nhiều phạm vi của giao tiếp. Nó làm xuất hiện sự phụ thuộc lẫn nhau về các mối hứng thú trên quy mô vô cùng rộng lớn. Nó tạo ra niềm tin vững chãi vào khả năng kiểm soát tự nhiên vì những lợi ích của nhân loại và bằng cách ấy nó hướng dẫn con người nhìn tới tương lai thay vì nhìn về quá khứ. Sự xảy ra đồng thời giữa lý tưởng của tiến bộ và tiến bộ của khoa học không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên đơn thuần. Trước khi có tiến bộ khoa học, con người coi thời cổ đại xa xưa là thời đại hoàng kim. Giờ đây con người đối mặt với tương lai bằng một niềm tin chắc chắn rằng trí tuệ được sử dụng thích đáng có thể loại bỏ được những tai họa từng được coi là không tránh khỏi. Chinh phục căn bệnh đang hoành hành không còn là một ước mơ nữa; thủ tiêu cái nghèo không phải là hi vọng không tưởng. Khoa học đã giúp con người làm quen với khái niệm phát triển, trên thực tế sự làm quen này xảy ra trong quá trình con người kiên trì từng bước cải thiện di sản của nhân loại chung.

Như vậy, vấn đề của việc sử dụng khoa học trong giáo dục là, tạo ra một trí thông minh chứa đầy niềm tin vào khả năng tự nó điều khiển những vấn đề của con người. Dựa vào giáo dục để làm cho phương pháp của khoa học thấm sâu vào thói quen có nghĩa là sự giải phóng khỏi phương pháp của kinh nghiệm và giải phóng khỏi sự khuôn sáo sinh ra bởi phương pháp dựa vào kinh nghiệm. Trong cách dùng thông thường của từ “duy nghiệm”, nó không có nghĩa “có mối liên hệ với kinh nghiệm”, đúng hơn nó nghĩa là “thô thiển” và “không dựa vào lý trí”. Trong hoàn cảnh thiếu vắng khoa học mang tính thực nghiệm, tất cả các hệ thống triết học thống trị trong quá khứ đều đã coi kinh nghiệm là đối lập lại với lý tính và cái thực sự duy lý tính. Hiểu biết kinh nghiệm nghĩa là hiểu biết được tích lũy qua vô số các trường hợp của quá khứ mà không có sự nhận thức dựa vào trí thông minh về nguyên lý của bất kỳ trường hợp nào. Bảo rằng y học là mang tính duy nghiệm có nghĩa là y học không phải là khoa học, mà nó là một phương thức thực hành dựa trên những quan sát được tích lũy về các căn bệnh và các phương pháp chữa trị được sử dụng hầu như tùy tiện. Một phương thức thực hành như vậy tất yếu là được chăng hay chớ; sự thành công phụ thuộc vào may rủi. Phương thức đó thích hợp với lừa dối và bịp bợm. Nghề nghiệp nào bị kiểm soát “bằng kinh nghiệm” thì ngăn cản những áp dụng trí thông minh một cách kiến tạo; nó lệ thuộc vào việc tuân thủ mù quáng những mô hình đã hình thành vững chắc trong quá khứ. Khoa học mang tính thực nghiệm nghĩa là khả năng sử dụng các kinh nghiệm quá khứ như là tay sai chứ không phải ông chủ của trí óc. Nó có nghĩa là, lý trí vận hành ở bên trong kinh nghiệm, chứ không phải vượt ra ngoài kinh nghiệm, để đem lại cho kinh nghiệm một đặc tính sau đây: thông minh hoặc duy lý tính. Khoa học tức là kinh nghiệm trở thành duy lý tính. Như vậy, tác động của khoa học là làm thay đổi ý niệm của con người về Tự nhiên và những khả năng cố hữu của kinh nghiệm. Vì lẽ ấy, khoa học làm thay đổi cả ý niệm và sự hoạt động của lý tính. Thay vì khoa học là cái vượt ra ngoài kinh nghiệm, tồn tại cách biệt, tách rời, liên quan đến một lĩnh vực siêu phàm chẳng có liên hệ gì với những sự kiện được trải nghiệm của đời sống, nó lại được nhận thấy là sinh ra trong kinh nghiệm: “nhờ yếu tố này mà kinh nghiệm quá khứ được gạn lọc và được biến thành công cụ của khám phá và tiến bộ.

Chữ “trừu tượng” mang tiếng khá xấu trong cách nói thông thường, bởi nó được dùng không phải chỉ để biểu thị cái gì đó sâu sắc và khó khăn mới hiểu được, mà còn biểu thị cái rất xa cách với đời sống. Nhưng trừu tượng là một đặc điểm không thể thiếu của quá trình điều khiển hoạt động một cách có suy nghĩ. Các tình huống quả thực không bao giờ tự lặp lại. [Nhưng] thói quen lại đối xử với những sự kiện mới xảy ra như thể chúng giống hệt với những sự kiện đã xảy ra; do đó, chỉ cần như vậy là đủ khi mà yếu tố khác biệt hoặc yếu tố mới lạ là không đáng kể để có thể ảnh hưởng tới mục đích hiện tại. Nhưng khi yếu tố mới lạ đòi hỏi người ta phải lưu ý đặc biệt, thì phản ứng tùy tiện là sự trông cậy duy nhất trừ phi người ta sử dụng đến sự trừu tượng hóa. Bởi trừu tượng hóa tức là chủ tâm lựa chọn trong nội dung của kinh nghiệm cũ điều gì được cho là hữu ích cho việc giải quyết nội dung mới. Nó nghĩa là chuyển giao hữu thức một ý nghĩa gắn trong kinh nghiệm quá khứ để sử dụng nó vào một kinh nghiệm mới. Trừu tượng hóa chính là huyết mạch của trí thông minh, của sự chủ tâm làm cho một kinh nghiệm có thể sử dụng được vào việc hướng dẫn một kinh nghiệm khác.

Khoa học duy trì quá trình biến đổi hoàn toàn nói trên của nội dung có trước ở trên một quy mô rộng. Mục đích của khoa học là giải phóng một kinh nghiệm ra khỏi tất cả những gì mang tính cá nhân thuần túy và mang tính hoàn toàn trực tiếp; mục đích của khoa học là tách ra bất cứ cái gì mà nó có chung với nội dung của các kinh nghiệm khác, và bởi vì đó là cái “thuộc về chung” cho nên nó có thể được giữ lại cho mục đích sử dụng mới. Như vậy, khoa học là một yếu tố không thể thiếu của tiến bộ xã hội. Mọi kinh nghiệm xét như nó đang xảy ra, cho dù kinh nghiệm ấy có thể mang ý nghĩa quý báu đối với cá nhân có dính líu tới, nó đều mang rất nhiều tính riêng biệt và tính không thể lặp lại. Xét từ quan điểm của khoa học, vật liệu đó là có tính ngẫu nhiên, trong khi đó những đặc tính được chia sẻ rộng rãi thì mang tính thực chất. Bất cứ cái gì mang tính chất duy nhất trong tình huống, bởi vì nó phụ thuộc vào những tính chất riêng biệt của cá nhân và tính trùng hợp ngẫu nhiên của hoàn cảnh, thì đều không có giá trị đối với người khác; vì thế, nếu như điều được chia sẻ không được trừu tượng hóa và không được ấn định bằng một biểu trưng phù hợp, thì hầu như mọi giá trị của kinh nghiệm đều biến mất một cách ngẫu nhiên. Nhưng nhờ sự trừu tượng hóa và việc sử dụng các thuật ngữ để ghi lại cái được trừu tượng, nhân loại có thể tùy ý sử dụng một cách lâu bền cái giá trị cuối cùng của kinh nghiệm cá nhân. Không một ai có thể biết trước đích xác khi nào và bằng cách nào cái giá trị ấy có thể có được mục đích sử dụng mới. Trong quá trình phát triển những sự trừu tượng hóa, nhà khoa học giống như thể một người sản xuất ra các công cụ và ông ta không biết được ai sẽ sử dụng cũng như khi nào sẽ sử dụng các công cụ ấy. Nhưng so với các công cụ cơ khí, công cụ trí tuệ linh hoạt hơn rất nhiều về phạm vi thích nghi.

Tổng quát hóa là cái tương ứng với trừu tượng hóa. Tổng quát hóa là sự hoạt động của một sự trừu tượng hóa trong khi nó được áp dụng vào một kinh nghiệm mới mẻ cụ thể - tức sự trừu tượng hóa ấy được mở rộng để làm sáng tỏ và điều khiển các tình huống mới. Mối quan hệ với những sự vận dụng nói trên là tất yếu để cho trừu tượng hóa đem lại kết quả thay vì nó là một chủ nghĩa hình thức vô dụng chỉ có giá trị cho chính nó. Về bản chất, tổng quát hóa là một công cụ xã hội. Khi con người chỉ đồng nhất các mối hứng thú của mình với mối hứng thú của một nhóm hẹp, khi ấy các sự tổng quát hóa của họ cũng bị giới hạn theo. Điểm nhìn ấy không cho phép một sự quan sát rộng rãi và tự do. Suy nghĩ của con người bị ràng buộc vào một không gian thu nhỏ và một thời gian ngắn ngủi - bị giới hạn vào các tập quán được thừa nhận của con người xét như một tiêu chuẩn để đánh giá mọi giá trị có thể xảy ra. Trừu tượng hóa và tổng quát hóa khoa học giống như việc lợi dụng được quan điểm của bất kỳ ai, bất kể người đó đang ở vị trí nào về thời gian và không gian. Mặc dù sự giải phóng nói trên ra khỏi những điều kiện và tình tiết của các kinh nghiệm cụ thể giải thích vì sao khoa học lại có tính xa cách, “trừu tượng”, thì nó cũng giải thích phạm vi rộng lớn và không hạn chế của những áp dụng hiệu quả mới mẻ.

Con người ghi lại, cố định và truyền đạt cái trừu tượng bằng các thuật ngữ và nhận định. Một nghĩa bị tách rời khỏi một kinh nghiệm cụ thể thì không thể tồn tại lơ lửng trong không khí. Nó cần phải có một chỗ trú ngụ tại một nơi nào đó. Tên gọi mang lại cho ý nghĩa trừu tượng một địa điểm trú ngụ và một hình hài cụ thể. Như vậy, sự phát biểu hệ thống hóa không phải là một cái đến sau sự suy tưởng hoặc một sản phẩm phụ; nó là không thể thiếu để hoàn thành công việc của suy tưởng. Con người biết rất nhiều điều mà họ không thể diễn đạt, nhưng sự hiểu biết như vậy vẫn chỉ mang tính thực dụng, trực tiếp và riêng tư. Một cá nhân có thể sử dụng sự hiểu biết đó cho bản thân mình; anh ta có thể dựa vào đó để hành động có hiệu quả. Nghệ sỹ và người chỉ huy thường có hiểu biết trong trạng thái này. Song, sự hiểu biết đó là có tính riêng tư, không thể chuyển giao, và mang tính bản năng, có thể nói như vậy. Để phát biểu có hệ thống một kinh nghiệm, một người phải tính đến một cách hữu thức các kinh nghiệm của người khác. Anh ta phải tìm ra một quan điểm bao gồm trong đó cả kinh nghiệm của người khác lẫn kinh nghiệm của chính mình. Nếu không thế, không ai hiểu nổi sự truyền đạt của anh ta. Anh ta nói một thứ ngôn ngữ mà không một ai hiểu nổi. Trong khi thành công quan trọng nhất của nghệ thuật văn chương là ở chỗ nó phát biểu những kinh nghiệm sao cho chúng có ý nghĩa vô cùng lớn đối với người khác, thì từ vựng của khoa học lại được dùng vào một mục đích theo cách khác: để diễn đạt bằng các biểu tượng ý nghĩa của các sự vật được trải nghiệm, để cho bất kỳ ai muốn hiểu chúng thì đều phải học môn khoa học đó. Phát biểu thẩm mỹ làm bộc lộ và làm nổi bật ý nghĩa của các kinh nghiệm mà ta đã trải qua; phát biểu khoa học thì cung cấp cho ta các công cụ để kiến tạo các kinh nghiệm mới mẻ mang các ý nghĩa đã được biến đổi.

Để kết luận: khoa học là bổn phận của trí thông minh trong dự phóng và kiểm soát các kinh nghiệm mới mẻ, trách nhiệm ấy được theo đuổi một cách có hệ thống, có chủ tâm và trên một quy mô nhờ vào sự giải phóng khỏi những giới hạn của thói quen. Khoa học là phương tiện duy nhất của tiến bộ có tính hữu thức, để phân biệt với tiến bộ ngẫu nhiên, và cho dù đặc tính tổng quát, đặc tính cách biệt với những điều kiện cá nhân đã tạo ra cho khoa học một đặc tính chuyên môn và tách rời nào đó, thì các đặc tính này vẫn rất khác biệt với những đặc tính chuyên môn và tách rời của quá trình lý thuyết hóa dựa vào tư biện thuần túy. Quá trình thứ hai bị di chuyển vĩnh viễn ra khỏi thực hành; quá trình thứ nhất chỉ tạm thời đứng tách ra độc lập vì lợi ích của việc áp dụng rộng rãi hơn và tự do hơn trong hành động cụ thể xảy ra sau này. Có một kiểu lý luận vẩn vơ, nó đối lập lại vói thực hành; song, lý luận khoa học đích thực thì bao giờ cũng phù hợp với thực hành xét như là phương thức của việc mở rộng lý luận đó và điều khiển lý luận đó tới những khả năng xảy ra mới mẻ.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org