Không gian, thời gian

Từ quan điểm nhận thức luận tiến hóa, bài học có tính nguyên lý của cả thuyết tương đối rộng lẫn tương đối hẹp là: con người là sinh vật bằng các thao tác cụ thể có khả năng thao túng những biểu hiện bên trong về thế giới ở bên trong họ, và có thể vượt qua được những giới hạn của nhận thức mà họ đã được quá trình sinh học phú cho. Họ có thể giải phóng bản thân mình và xây dựng nên một cách nhìn thực tại, tuy xung khắc tới trực giác, nhưng lại đem đến một tầm nhìn chân thực hơn, bao quát hơn.

Max Delbruck, giải thưởng Nobel

Thời gian và Không gian là hai Tồn tại Thực, một Giống Đực và một Giống Cái. Thời gian là Đàn ông và Không gian là Đàn bà.

William Blake

Chương 27: KHÔNG GIAN / THỜI GIAN

Phát xuất từ hai bán cầu khác nhau của bộ não con người, các tọa độ thời gian và không gian đã bị trói chặt trong sự chia tách giữa nghệ thuật và vật lí. Người ta có thể diễn tả toàn bộ lịch sử của sự sống trên hành tinh này bằng một quá trình nhận thức đều đặn ngày càng tăng về ba vectơ của không gian Euclid và ba trạng thái kéo dài của thời gian. Homo sapien, sinh vật xuất hiện sau cùng, chính là loài có năng lực khái niệm hóa được tất cả sáu chiều con của hai tọa độ này một cách đầy đủ, bởi vì chỉ duy nhất chúng ta mới có thể nhận thức được về tương lai. Giờ đây, chỉ sau khi có Einstein, chúng ta lại mới biết đến sự tồn tại của chiều kích thứ bảy: continuum không-thời gian. Việc xem lại toàn bộ quá trình leo ngược từ không chiều nào lên đến sáu chiều sẽ giúp ta có thể hiểu được đầy đủ hơn tầm tư tưởng lớn lao của ông và thấm thía sâu sắc hơn cuộc cách mạng đi kèm theo nó trong nghệ thuật. Và rồi chúng ta sẽ thấy sự phân chia rõ rệt giữa không gian và thời gian, kết quả của quá trình tiến hóa này, đã phù hợp đến thế nào với sự lưỡng phân giữa hai bán cầu não trái và não phải.

Nhà tiểu luận đương đại Lewis Thomas đã chỉ rõ rằng tại điểm khởi thủy của vũ trụ, đã không hề có cả không gian lẫn thời gian, và bởi vậy, sự kiện mở màn lặng lẽ ban đầu thay vì gọi là “vụ nổ lớn” big bang, thì đúng hơn nên gọi là “chớp sáng lớn” big light. Từ vụ nổ ấy của năng lượng thuần túy, không gian và thời gian mới ra đời. Một phần tỉ giây sau chớp sáng ấy, các hạt cơ bản lấp lánh của vật chất đã lao ra từ ánh sáng chói lòa đó, tạo thành một món súp nguyên thủy nóng rẫy sôi sục. Trong vòng ba trăm ngàn năm tiếp theo, những hạt bụi li ti ấy dần dần kết tụ lại thành các nguyên tử đơn giản, mà chúng ta có thể xem giống như các quân xếp hình Lego vi thể. Cũng từ đó trở đi, nguyên tử, đơn vị chức năng nhỏ nhất trong vũ trụ, đã bắt đầu chậm chạp kết tụ dần thành các vật thể có kích thước và sức mạnh khổng lồ. Nguyên tử tạo nên các ngôi sao và cung cấp nguồn năng lượng phi thường cho chúng. Các ngôi sao nhóm lại thành các thiên hà, và các thiên hà gộp lại thành các đám thiên hà.

Khoảng mười bốn tỉ năm sau đó, trên hành tinh thứ tư quay quanh một ngôi sao bình thường ở gần rìa thiên hà của chúng ta, các phân tử có gốc cacbon bắt đầu kết tập lại thành những dạng sống, để cuối cùng ngoằn ngoèo hình thành nên tất cả mọi nhánh cành của cái cây sự sống.

Thêm ba tỉ năm nữa, thứ vốn là sự sống nguyên thủy của trái đất đã bắt đầu le lói khả năng cảm giác. Đầu tiên, đó mới chỉ là một cảm nhận ù lì về môi trường xung quanh của các tổ chức sống đơn giản. Dần dần, với tính phức tạp ngày càng tăng trong hệ thần kinh qua các ngành, hệ động vật ngày càng tinh xảo hơn, ý thức đã thay thế cảm giác. Và ở đâu đó trong ba triệu năm cuối cùng của diễn tiến dài dằng dặc này, trí tuệ có ý thức, biết tự suy ngẫm đã xuất hiện và phát triển đầy đủ nhất chỉ ở loài người.

Nếu một người quan sát hiện diện ở bất kì giai đoạn đầu nào của quá trình tiến hóa này, thì anh ta chắc chắn sẽ thấy không thể dự đoán hay phỏng đoán được các bước tiếp theo sẽ ra sao. Cái gì là bước nhảy vọt đáng kinh ngạc hơn: sự xuất hiện từ hư vô các hạt cơ bản vọt ra từ cái chớp sáng kì quặc của năng lượng, hay các nguyên tử nhỏ bé nhất vươn lên nhận vào mình sức mạnh của các vì sao? Nhưng cả hai sự kiện ấy đều không thể kì lạ bằng sự phát triển của các phân tử biết tự nhân lên, hay cái thời khắc huy hoàng đến choáng váng khi trí tuệ đột sinh từ vũng lầy nguyên thủy. Mỗi một bước ấy trên con đường tiến hóa đều đã được thực hiện mà cơ bản không có sự quá độ; mỗi một chúng đều dường như là một bước nhảy vọt lượng tử, không hề có tiền lệ. Dạng sống mới ở mọi tầng tiến hóa đều như một chú bướm, thoát thai từ đời nhộng của mình, biến hẳn hình dạng từ một cái gì trước đó hoàn toàn khác.

Dường như sự tiến hóa của các dạng sống trên trái đất đã đi theo hướng các sinh vật ngày càng nhận biết được các chiều nhỏ hơn của không gian và thời gian. Một chuyến du ngoạn lướt qua các ngành, hệ sinh vật sẽ xác lập được tôn ti, thứ bậc của cái mệnh lệnh này. Cây cỏ, cuộc phiêu lưu sinh học sớm nhất của hành tinh, không thể nhận biết được các chiều bởi vì chúng không có hệ thần kinh. Phải thừa nhận rằng muốn cảm biết được thời gian và không gian, thì cần phải có một kiểu cơ quan nào đấy thực hiện việc đó. Cây cỏ thể hiện khái niệm “điểm” trong hình học Euclid. Các cơ thể động vật đầu tiên, bị ngăn không được dùng mặt trời làm nguồn năng lượng trực tiếp, đã ăn thực vật để thay thế. Nhưng để đồng hóa được tảo, các con vật ăn cỏ đơn bào này phải tìm được chúng đã. Một con trùng đế giày hay một con amip, tự bơi hướng đến những kích thích dinh dưỡng của nó hay co lại lảng tránh khỏi những nguồn chất độc, đã sống cuộc đời mình trong một đường hầm một chiều. Cảm giác của nó thô sơ đến mức người ta có thể gọi nó đã tồn tại chỉ ở trong chiều thứ nhất của không gian: trên một “đường”.

Mãi đến khi loài giun dẹt ra đời thì một hệ thần kinh mới xuất hiện, được kéo dài ra thành một ống thần kinh có nốt sần ở đầu phía trước và phân nhánh thành hai thùy ở hai bên. Có lẽ từ đây, một cơ thể sống mới bắt đầu nhận biết được không gian từ bên này sang bên kia, cũng như từ phía trước ra phía sau. Bởi vì đã phát triển thành hai nửa với đối xứng trái và phải, nên bộ não giun thô sơ có lẽ là ứng viên đầu tiên hiểu biết được chiều không gian thứ hai là chiều rộng. Sự tồn tại của tổ chức sống này được thực hiện trên một “mặt phẳng” hình học. Planaria, Con giun dẹt, chính là cư dân nguyên thủy của Đất nước phẳng.

Khi những con cá kỉ Devon tiến hóa lên, có mắt và tiểu não, chúng đã đạt được khả năng đánh giá đầy đủ chiều không gian thứ ba - chiều sâu. Bắt đầu từ lớp động vật có xương sống trở đi, mọi sinh vật đều được trang bị một cơ quan thần kinh cần thiết để cảm nhận được tất cả ba vectơ của không gian Euclid: chiều dài, chiều rộng, chiều sâu. Thế giới của chúng đã đóng khung gọn trong một dạng hình học đầy đặn của Euclid: khối lập phương.

Câu chuyện về sự tiến hóa của chúng ta vẫn còn thiếu một cảm giác về thời gian. Không một sinh vật nào nói ở trên đã có trải nghiệm về thời khoảng. Chúng không cần biết đến thời gian bởi vì các đồng hồ bên trong của chúng đã được di truyền và bản năng lên dây cót đã có sẵn rồi. Lập trình cho các mẫu hình hành vi của chúng là vòng quay một ngày của trái đất, chu kì hằng tháng của mặt trăng và các tiết mùa của năm. Thay cho cảm giác về thời gian, chúng có cái mà các nhà sinh học gọi là nhịp điệu nhật kì. Tất cả các sinh vật cho đến tận lớp bò sát và kể cả lớp này đã sống trong cái lát cắt mỏng tang của hiện tại. Đối với một con cá, một con giun hay một con amip, quá khứ chẳng có mà tương lai cũng không. Do thiếu năng lực hồi tưởng, con cá sấu không thể nào nhớ nổi bữa trưa vừa rồi nó đã chén ai hoặc cái gì. Tất cả con vật trong chuỗi tiến hóa đến lớp bò sát đều là các tù nhân bị nhốt chặt trong phòng giam tách biệt của cái bây giờ xảy ra trong chớp mắt.

Nếu chúng ta định nghĩa trí tuệ là khả năng phản ứng linh hoạt với những khiêu khích của môi trường, thì trí tuệ chưa xuất hiện trong giai đoạn tiến hóa của trái đất vào thời bầy khủng long đang ngự trị. Khủng long và hậu duệ của Chúng, lớp bò sát, chỉ có bộ não được tích hợp cứng các chương trình có lẽ thuần túy gồm mỗi hai lệnh: Nhìn! Hành động! Những hành vi phức tạp nhất của chúng mà chúng ta biết được chỉ là những hành vi mang tính bản năng. Khủng long phản ứng một cách máy móc đối với cùng một kích thích. Không có trí nhớ để lưu giữ quá khứ nhằm so sánh nó với hiện tại, thì không thể có suy nghĩ. Không có trí nhớ, không thể có trí tuệ, bởi vì điều kiện tiên quyết cần thiết của nó là một sự cảm nhận được tọa độ thời gian, còn chưa tiến hóa[1].

Động vật có vú xuất hiện cách đây hai trăm triệu năm đã đánh dấu một sự phân cách rõ rệt trong lịch sử tiến hóa. Động vật có vú ra đời từ tổ tiên là một nhóm quá độ các loài bò sát tựa có vú mà các nhà cổ sinh học gọi là therapsid. Khủng long, những con bò sát thực sự, đã ăn các con therapsid một cách ngon lành và được người ta cho là đã làm tuyệt chủng loài này. Tuy nhiên, hành động cuối cùng mà loài therapsid làm được, là kịp đẻ ra tổ tiên bé xíu của động vật có vú.

Để sống sót, các con thú này phải ngày càng nhỏ bé đi và bớt dễ thấy hơn. Con khủng long bạo chúa khó có thể nhận thấy được con malannodon giống chuột chù bé xíu. Khủng long lại là loài máu lạnh và phụ thuộc vào sức nóng của ban ngày để có thể hoạt động được. Bởi chúng là những con vật ban ngày, cho nên nhìn là giác quan quan trọng nhất của chúng. Chúng cần có ánh sáng từ mặt trời để thấy những gì đang diễn ra ở chung quanh. Các con thú trong dãy động vật có vú máu nóng lại chọn hướng tiến hóa ngược lại, chỉ trở nên linh hoạt vào ban đêm, khi khủng long đã ngủ. Dùng màn đêm che chở, động vật có vú cần một giác quan chính, không phải là thị giác để thông tin cho chúng về thế giới. Theo hướng này, chúng đã tiến hóa để có được một thính giác rất tinh nhạy.

Trong khi thị giác nói chung là một giác cảm mang tính tổng thể tất-cả-tức-thì, thì mũi lại xử lý các mùi lần-lượt-từng-thứ-một. Khả năng nhớ lại mùi theo chuỗi đã cho động vật có vú kĩ năng cần thiết để lao vọt ra vồ mồi trong những chuyến lang thang trong đêm tìm kiếm thức ăn. Trong bộ não đang phát triển của chúng, đã hình thành một chỗ lưu giữ trí nhớ đầu tiên trên hành tinh này, và như vậy, tạo nên hiện tượng phụ đầu tiên là ý nghĩ. Đối lập với việc cảm nhận thông tin thị giác tất-cả-tức-thì theo phương pháp của lớp bò sát, cái cơ chế mà vỏ não của động vật có vú tái tạo lại quá khứ chính là sáng chế của nó về chuỗi trình tự. Những mùi khác nhau được sắp xếp theo một trật tự rõ ràng là chìa khóa cho trí nhớ, kích hoạt việc suy nghĩ lần-lượt-từng-thứ-một. Ví dụ, các cơ may sống sót của một con thú nhỏ có vú sẽ tăng lên nếu khi liều mình đi vào rừng đêm nguyên thủy, nó có thể nhớ được chỗ nó đã ăn đêm qua. Con thú phải giữ chặt trong trí nhớ của nó chuỗi mùi đặc biệt kiểu như thế này: đầu tiên, sáu mét đến mùi một khúc thân cây mục, rồi sang trái mười mét qua mùi sặc sụa của một đống phân khủng long, thêm ba mét nữa về bên phải và cuối cùng là đến tổ mối đêm qua đã cung cấp một bữa chén thỏa thuê.

Trong một trạng thái sơ khai như vậy, chỉ có thể tồn tại cái ánh sáng chập chờn nhất về những khả năng nghĩ được về những gì còn chưa xảy ra. Mặc dù không thể biết được chắc chắn, nhưng những động vật có vú đầu tiên hẳn chỉ có một năng lực rất hạn chế trong việc xoay xở với quá khứ và soi nó vào được tương lai. Tuy nhiên, chúng có khả năng thực hiện được một suy nghĩ. Nghĩ ngợi là sự công thức hóa thông qua trí óc một mảnh của hiện thực đã không còn hiển hiện trước các giác quan nữa. Mọi ý nghĩ đều là một sự ngẫm ngợi về sau. Bất chấp bản chất nguyên thủy của nó, ý nghĩ giản đơn chính là đơn vị đầu tiên, nhỏ nhất của tòa lâu đài đồ sộ sau này sẽ xuất hiện trong con người: trí tuệ biết tự ngẫm.

Khi động vật có vú có được khả năng dựng nên những bức tranh tưởng tượng trong đầu về những điều mình đã trải qua, thì chúng đã có thể thoát ra được khỏi vòng giam cầm của hiện tại. Và thế là lần đầu tiên trong quá trình tiến hóa, một dạng sống đã không những chỉ tồn tại trong không gian mà còn cả trong thời gian. Trí nhớ nguyên thủy đã tạo nền móng cho việc lập kế hoạch, lựa chọn, rút ra bài học kinh nghiệm qua phép thử-sai. Mùi vị cũng tăng cường khả năng nhận dạng của động vật có vú với con cái chúng, và sự gắn kết các thành viên của loài bắt đầu hình thành. Để cho nòi giống có thể sống sót được, sự gắn kết đó là một bước phát triển đáng kể, đã vượt qua được một số thói quen của lớp bò sát, mà một số loài thậm chí có thể xơi cả con cái của mình, nếu như chúng tình cờ bò qua ổ trứng vừa mới nở. Với sự xuất hiện lần đầu tiên của trí nhớ, bàn tay nặng nề của bản năng đã bắt đầu nhấc lên và trí thông minh rón rén, bẽn lẽn xuất hiện trên hành tinh này.

Hai thùy khứu giác của vỏ não động vật có vú đang xuất hiện đã góp phần làm tăng thêm sự mở rộng nhanh chóng của vỏ não, cái cơ quan đã tạo ra phát minh lớn lao đầu tiên là kéo dãn được hiện tại ngược về phía trước đó. Quá khứ đã tìm thấy được một nơi có một chuỗi các mùi vị đã được ghi nhớ lại. Nói cách khác, vỏ não, thành tựu đỉnh cao của tiến hóa từ trước đến khi đó và là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành nên trí tuệ, có gốc rễ của mình từ mùi vị. Như để chứng minh cho nguồn gốc khiêm tốn đó, các nơron thần kinh từ mũi, duy nhất trong số tất cả các giác quan, được nối trực tiếp lên những trung tâm vỏ não cao hơn.

Cho đến nay, vẫn còn tồn tại các dấu vết của mối liên hệ giữa mùi vị, chuỗi thời gian và trí nhớ. Ví dụ, cho đến trước khi các đoàn truyền giáo đem đồng hồ cơ khí đến vào thế kỉ mười bảy, trong hàng ngàn năm, người Trung Quốc và Nhật Bản đã đo thời gian bằng thang độ của các mùi hương trầm. Không những chỉ có thời khắc trong ngày mà ngay cả các tiết mùa trong năm và các dấu hiệu hoàng đạo cũng lần lượt được chỉ ra bằng những mùi thơm đặc thù. Vào những năm 30 của thế kỉ hai mươi, Wilder Penfield đã thực hiện một loạt thí nghiệm với các bệnh nhân phẫu thuật thần kinh của ông, bằng một điện cực nhỏ tiến hành kích thích một số vùng nhất định ở khu vực não đã được phẫu thuật mở ra, và những kí ức của thời thơ ấu đã quên từ lâu lại tái xuất hiện vô cùng sống động với các bệnh nhân. Những hình ảnh rõ mồn một ấy luôn luôn gắn kết cùng với những mùi hương mà họ đã cảm nhận sâu sắc đi kèm với từng kí ức.

Cùng với sự phát triển của động vật có vú, vỏ não cũng không ngừng nở rộng mạnh mẽ, cuối cùng bắt đầu phải cuộn thành nếp để có thể vẫn nằm trong khuôn khổ hộp sọ được. Bộ não có hai thùy, nhăn thành nhiều nếp của những động vật có vú đầu tiên nhỏ hơn bộ não của chúng ta rất nhiều, nhưng nó cũng chung một dạng cấu tạo cơ bản như vậy. Tuy nhiên, bất chấp sự tương đồng này, trong não của động vật có vú, hầu như không có sự khu biệt hóa về vùng.

Không ai biết tại sao hay như thế nào mà bộ não của động vật có vú và đặc biệt là của loài linh trưởng đã phát triển để có được sự cảm nhận về tương lai. Nhiều giả thuyết đang tồn tại, và những điều sau đây là giả thuyết của tôi. Như chúng ta đã thấy, cái mũi đã đóng một vai trò quyết định trong sáng tạo của não về khái niệm quá khứ. Nhưng tổ tiên sinh ra tương lai lại là con mắt. Mặc dù những động vật có vú thời kì đầu tiên có được tầm nhìn trong đêm tinh nhạy đến kinh ngạc do lối sống ban đêm của chúng, nhưng các thích nghi này lại làm giảm giá trị của tầm nhìn về ban ngày, và làm chậm bước phát triển chung của cái giác quan cốt tử này. Để sinh tồn, đối với những động vật có vú này, nghe là một hệ thống cảnh báo chính xác hơn. Đôi tai đã cấp cho chúng một hệ thống báo động hai mươi tư giờ, ba trăm sáu mươi độ về từng tiếng động nhỏ nhất. Mùi vị, tương tự như vậy, cũng không cần đến ánh sáng và có thể phục vụ như một Hệ thống cảnh báo sớm từ xa. Một nhân tố quan trọng nữa làm giảm bớt giá trị của thị giác là hầu hết động vật có vú sống ban đêm đều là các loài ăn cây cỏ và trong bóng tối, mùi vị vượt lên hẳn thị giác khi phải xác định một món khoái khẩu cố định.

Tuy nhiên, khi các loài khủng long bắt đầu tuyệt chủng, thì động vật có vú cũng bắt đầu rời khỏi đêm tối bước ra ánh nắng rực rỡ giữa trưa và chiếm lĩnh ban ngày. Con mắt đã phát triển thành một cơ quan cảm giác đặc biệt chỉ ở hai loài rất khác nhau: chim và linh trưởng. Chim và động vật có vú linh trưởng đều sống quá xa mặt đất để sự đánh hơi trở nên hữu ích trong việc tìm kiếm thức ăn. Hơn thế nữa, nhất là đối với linh trưởng, nhìn được rõ ràng và đánh giá được chính xác các khoảng cách là một vấn đề giữa cái sống và cái chết. Định hình bởi các áp lực môi trường này, thị giác của hai dạng sống này đã tái khẳng định được bá quyền trước kia của nó. Để thỏa mãn nhu cầu nhìn được cả ban ngày lẫn ban đêm của linh trưởng, cũng như nhìn gần lẫn nhìn xa, độ phức tạp của võng mạc mắt linh trưởng đã tăng lên, dựa trên quá trình chuyên môn hóa đã bắt đầu ở những loài trước đó. Đã xuất hiện hai vùng chức năng khác hẳn nhau do đặc tính của hai loại tế bào thần kinh đối lập nhau nằm dày đặc trên võng mạc: tế bào hình que ở rìa ngoài, tế bào hình nón ở trung tâm.

Tế bào hình que, gọi theo hình trụ dài của nó, vô cùng nhạy cảm với ánh sáng. Tiến hóa nguyên thủy từ những đêm dài động vật có vú căng mắt tìm kiếm một chút ánh sáng ít ỏi nhất, chúng cho phép các con thú có vú nhìn được trong đêm tối. Chức năng của chúng dưới ánh sáng ban ngày đã được mở rộng để cho sinh vật nhìn thấy một bức tranh toàn cảnh của thế giới trước mặt nó. Do các tế bào hình que được bố trí đều đặn ở vành ngoài của võng mạc, chim chóc và linh trưởng giờ đây đã có thể nhận thấy tất cả mọi cái trong tầm nhìn của chúng ngay tức thì, trong một dạng thức toàn cảnh. Bằng việc cung cấp cho bộ não thông tin cần thiết để tích hợp mối quan hệ của các bộ phận thành một tổng thể, tế bào hình que đã đem đến cho thị giác tính chất tất-cả-tức-thì.

Ở con người, chức năng này của võng mạc quan trọng đến mức các tế bào hình que đã huy động toàn bộ cơ thể giúp nó thực hiện: mi mắt dãn ra, các cơ giảm căng đi trong khi đồng tử dãn to để thu nhận tối đa ánh sáng. Hai mắt không tập trung nhìn vào một điểm nào cụ thể để có thể nhìn thấy toàn bộ quang cảnh, các cơ xương chùng xuống ở một tư thế thư giãn, trong khi tâm trí, giống như hộp số một chiếc ôtô, chuyển về chế độ chạy không tải. Trạng thái thị giác, sinh lý và tâm lý này được gọi là trầm tư. Bán cầu phải của bộ não là bán cầu có khả năng tốt nhất đánh giá được những trạng thái này, bởi vì bán cầu tất-cả-tức-thì già hơn bán cầu lần-lượt-từng-thứ. Về mặt tiến hóa, tế bào hình que già hơn tế bào nón; tất cả các loại con mắt đều có chúng.

Tế bào hình nón, loại thành tố thứ hai tạo nên võng mạc, nói theo ngôn ngữ tiến hóa, là những người mới đến và chức năng của chúng là một cái gì đó mới mẻ[2]. Chúng tụ tập dày đặc ở vùng trung tâm mắt gọi là macula “điểm vàng”, nơi fovea centralis, “hốc trung tâm” ở giữa điểm vàng chính là tiêu điểm của tầm nhìn. Tế bào hình nón cho phép sinh vật nhìn thấy màu sắc và nhìn một cách rất rõ ràng. Nhờ có các tế bào hình nón phức tạp tinh vi, chim chóc và linh trưởng không những chỉ xác định được từ rất xa một cái hạt hoặc một trái cây có màu sắc rực rỡ giữa bạt ngàn lá xanh rì, mà chúng còn có khả năng lấy ra được một chi tiết từ cái kho ngồn ngộn dữ liệu thị giác và quan sát tỉ mỉ nó một cách riêng biệt, tách khỏi những cái khác, bằng việc hướng cái nhìn chằm chằm xuyên thấu của điểm vàng vào nó.

Thay cho trầm tư đã tạo nên đặc tính của việc sử dụng tế bào hình que ở con người, quá trình tập trung luôn đi kèm với trạng thái thị giác nhìn chăm chú, mà trong thời gian đó, cảm giác cảnh giác của toàn bộ cơ thể được nâng cao. Các cơ xương căng ra trong khi đồng tử thu hẹp đi, mí mắt nhíu lại, thực sự giảm lượng ánh sáng lọt vào trong mắt và che kín các tế bào hình que nhạy sáng. Tập trung cao độ vào một chi tiết có màu sắc, món quà đặc biệt của tế bào hình nón, là khác hẳn với trầm tư theo toàn cảnh, hoạt động mở to mắt, thư giãn của tế bào hình que. Đối với kiểu nhìn tập trung của điểm vàng, phương thức phân tích tách biệt của bán cầu não trái phù hợp hơn so với bán cầu não phải.

Theo giả thuyết của tôi, việc đóng chặt không nhận thông tin thị giác của tế bào hình nón cũng phải trả một cái giá đáng kể. Tại mỗi thời điểm nào đó, điểm vàng chỉ có thể tập trung vào một chi tiết trong toàn bộ bức tranh. Kiểu nhìn của nó là kiểu nhìn qua đường hầm, tương tự như ta nhìn thế giới qua một cái ống tròn bằng bìa. Vì vậy, khi xem xét một vật nào đó bằng cái phần này của võng mạc, thì chúng ta đã vô tình tạo ra ảo giác về sự tiến diễn của thời gian. Mỗi một đoạn của hiện thực thị giác được quan sát lần lượt theo trình tự chuỗi, độ tụ tiêu của điểm vàng và đặc biệt là hốc trung tâm đã tăng cường thêm khái niệm trong tâm trí về thời gian, bởi vì các bức tranh phát sinh từ khu trung tâm nhỏ bé này của mắt chỉ có thể được xử lý theo phương thức lần-lượt-từng-thứ.

Do kiểu thị giác có điểm vàng thực hiện xem xét cái gì là trước kia rồi đến cái gì là hiện nay, cho nên nó đã làm cho bộ não đang hình thành xét đến khả năng cái gì sẽ đến tiếp theo! Do đòi hỏi phải khái niệm hóa cái tiếp theo!, điểm vàng đã buộc não phải cho rằng có thể sẽ có một cái tiếp theo!, rằng một cái gì đó sẽ theo sau loạt sự kiện diễn ra từ quá khứ. Quá trình này được gọi là nhìn thấy trước, tức là một cảm nhận về tương lai.

Nhu cầu về sự chuyên biệt hóa của các tế bào hình nón trên võng mạc, cùng với sự liên tục tăng tính phức tạp của bộ não, đã thể hiện sâu sắc nhất trong các loài chim ăn thịt, động vật có vú săn mồi sống và loài linh trưởng ăn thịt nhiều nhất, họ người. Bởi vì cây cỏ thì không tài nào chạy đi đâu được, nên một chú ngựa đang gặm cỏ không cần phải lo âu xem miếng ngoạm đầy mồm tiếp sau của mình có phải là bó cỏ trong chuồng ngựa hay không. Nhưng một con thú săn thì nhất thiết phải tập trung sự chú ý vào con mồi của nó, và không những phải để ý xem bữa chiều của nó ở đâu mà còn phải để ý xem bữa chiều đó có thể sẽ đi đâu.

Có thể minh họa đặc trưng này của tế bào hình nón một cách tốt nhất bằng ví dụ sau. Hãy tưởng tượng bạn đi xem muộn, bước vào trong rạp đã tắt đèn, mắt còn chưa điều chỉnh quen với bóng tối. Người soát vé dẫn bạn dọc theo lối đi, đứng dừng lại và bật đèn pin. Trong khi ngọn đèn quét qua hàng ghế, từng khán giả một hiện lên nối tiếp nhau trong vòng ánh sáng nhỏ của ngọn đèn. Khi ánh đèn rời khỏi một người, anh ta biến mất để người tiếp sau hiện lên như có phép lạ. Luồng ánh sáng của ngọn đèn pin giống như kiểu nhìn qua đường hầm bằng điểm vàng. Mặc dù tất cả khán giả trên hàng ghế ấy trong rạp đã cùng hiện diện ở đó, nhưng kiểu nhìn theo ánh sáng ngọn đèn pin đã cô lập họ lần-lượt-từng-người, tạo nên ảo giác rằng các vật thể vốn tồn tại trong mối quan hệ với nhau ở không gian ba chiều giờ đây như trượt qua theo một chuỗi sắp xếp trật tự của thời gian.

Tôi cho rằng việc tách ra các chức năng thị giác ở bên trong mắt người ở trình độ tiến hóa cao đã đẩy nhanh sự phân chia vỏ não thành hai thùy có chức năng khác nhau, và những yêu cầu đặc thù của kiểu nhìn dạng đường hầm đã tạo nên một mệnh lệnh tiến hóa, ép bộ não phải đẩy nhanh tốc độ phân chia những nhiệm vụ cảm nhận cho hai bán cầu của nó. Quá trình này, bắt đầu từ việc những con thú có vú đầu tiên ngửi lần lượt các mùi để nhận biết quá khứ, giờ đây đã tăng tốc, bởi mệnh lệnh mới từ các tế bào hình nón của linh trưởng để hình dung ra tương lai.

Xem thoáng qua, thì bộ não người có vẻ là một cấu trúc hai thùy, đối xứng với nhau. Tất cả các nghiên cứu vĩ mô và vi mô về hai thùy đều không phát lộ ra sự khác biệt nào đáng kể giữa chúng. Ấy vậy mà mỗi một bán cầu ấy lại phụ trách những chức năng khác nhau hoàn toàn. Mỗi một con mắt cũng vậy, nó là hình ảnh đối xứng gương của con mắt kia, thế nhưng trong mỗi mắt lại có một sự phân chia sâu sắc về chức năng, và sự đối lập giữa tế bào hình que với tế bào hình nón cũng tương đồng với sự đối lập giữa bán cầu trái và bán cầu não phải. Tế bào hình que và bán cầu não phải cùng có khả năng nhìn thấy hình ảnh ở dạng tổng thể - nhận thức hiện thực theo cách tất-cả-tức-thì. Ngược lại, tế bào hình nón và bán cầu não trái thì nhìn thế giới theo cách lần-lượt-từng-thứ. “Tách, chiết” một cái gì đó ra nghĩa là xé từ tổng thể một mảnh nào đó để rồi có thể xem xét nó một cách riêng biệt. Suy nghĩ tách biệt hay tư duy trừu tượng, chức năng vỏ não cao nhất của bán cầu trái, có rất nhiều điểm chung với năng lực thị giác tách biệt của tế bào hình nón[3].

Sự phân chia rạch ròi các thuộc tính của các bán cầu não ấy chỉ có độc nhất ở con người. Lợi thế tiến hóa nào mà bộ não kép mới mẻ ấy đã đem lại cho nhân loại thuở sơ khai? Nó đã làm cho các tổ tiên xa xôi của chúng ta trở nên thông minh hơn hẳn mọi loài thú khác. Việc phân chia chức năng đã làm cho Homo sapien có hai bộ não trong một cái đầu. Hai bán cầu trái và phải về cơ bản là hai cá nhân độc lập, có ý thức, mỗi người đủ năng lực giải quyết vấn đề một cách khác biệt với nhau, mỗi bán cầu đều có đủ khả năng ra những quyết định, có trí nhớ, phán xét và hành động độc lập. Bởi vì trí tuệ mang ý nghĩa là một phản ứng linh loạt trước những kích thích đến từ môi trường, cho nên nếu các năng lực phản ứng càng linh hoạt hơn bao nhiêu, thì cơ thể sống ấy càng thông minh hơn bấy nhiêu. Não của loài Homo sapien tách ra làm hai đơn vị chức năng riêng biệt không chỉ dẫn đến kết quả tăng gần gấp đôi số lượng các phản ứng tiềm tàng, mà hơn thế nữa, sự hồi tiếp liên tục giữa hai thùy não đã tạo ra một sự đa dạng các phản ứng đến vô hạn.

Như chúng ta đã thấy, phần bên phải của não được chuyên môn hóa để phối hợp đồng thời mọi thông tin trong không gian, còn phần bên trái thì tập hợp các dữ liệu nhận thức theo trình tự chuỗi trong thời gian. Sự bố trí này đã ép lên bộ não kép của con người một ảo giác rằng thực tại là một loạt các sự kiện nhân quả, xuất hiện trong những khoảng ba chiều không gian, theo một chuỗi trình tự nhất định trên chiếc băng chuyền thời gian. Gần hai thế kỉ trước, Kant đã phỏng đoán rằng không gian và thời gian là hai phạm trù cơ bản của tồn tại. Quả thật, chúng không những thuần túy chỉ là các phạm trù triết học, mà mỗi một chúng còn có riêng một địa chỉ về mặt giải phẫu học. Tôi ngờ rằng tiến hóa đã tạo ra thế trội cho bán cầu não trái trẻ hơn, bởi vì lối tư duy theo nhân quả, là cách có thể dự báo được tương lai, thì phụ thuộc vào trình tự chuỗi.

Cái mũi thì ngửi nhớ được quá khứ, còn con mắt nhìn xa thấy tương lai. Bằng cách nới rộng những giới hạn của thực tại, các loài động vật có vú và đặc biệt một loài linh trưởng là Homo sapien đã mở rộng được sự cảm nhận thời gian được cả về hai phía. Để cho sự phát triển này có thể xảy ra, dưới sức ép của thay đổi môi trường, bộ não đã được phân vùng. Những sự kiện và chức năng nào chủ yếu xảy ra trong không gian thì được giao cho bán cầu bên phải hình thành sớm hơn. Toàn bộ những chức năng độc đáo tuyệt vời của thùy trái trẻ hơn - tài thủ công, ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, suy luận logic và số học - đều phụ thuộc vào một cảm giác về thời gian. Trong lịch sử của sự sống trên hành tinh này, bán cầu não trái là một cái gì đó mới mẻ dưới vầng mặt trời. Nó không chỉ là một phần của bộ não. Nó thực sự là giác quan thứ sáu đóng khung trong hộp sọ, được giao nhiệm vụ nhận biết về thời gian.

Chú thích

  1. Tuy hầu hết lớp bò sát đều thiếu cảm nhận về thời gian, nhưng cũng có ngoại lệ. Loài thằn lằn khổng lồ Komodo, có khi dài đến ba mét và nặng gần hai trăm kilogam, có khả năng bám theo dai dẳng một con nai đến hàng chục ngày ròng rã, một hành động có thể ngụ ý một sự sở hữu cảm giác về thời gian.
  2. Bằng chứng của việc này là thị giác sử dụng tế bào hình nón chỉ có được vài tháng sau khi đứa trẻ ra đời. Thị giác dùng tế bào hình que sẽ xuất hiện trong vòng vài ngày sau khi sinh, nhưng chức năng của điểm vàng chỉ được phát triển hoàn chỉnh sáu tháng sau đó.
  3. Một số căn cứ cho giả thuyết nầy về sự chuyên môn hóa đồng bộ của con mắt và bộ não đã nảy sinh từ các quan sát về những loài chim biết hót, đó là những loài duy nhất ngoài con người ra có bộ não có độ phân vùng rất cao, mắt cùng có điểm vàng xuyên thấu như chúng ta. Trong quá trình tạo nên những điệu hót tuyệt vời của mình, những con chim này còn có khả năng tạo ra những âm thanh phức tạp, gần giống tiếng người, mà chủ yếu phát sinh từ bán cầu não trái của chúng. Chuỗi cũng là một đặc tính quan trọng trong tiếng hót của các loài chim, bởi nếu thay đổi trật tự, thì sẽ thay đổi toàn bộ ý nghĩa của tiếng hót. Hơn thế nữa, một loài chim - loài vẹt - là sinh vật trên trái đất có khả năng ghi nhớ và bắt chước một cách chính xác nhất chuỗi trình tự lời nói của con người. Vẹt tạo nên các âm thanh bắt chước ấy từ bán cầu não trái của chúng và cũng được phú cho một điểm vàng sắc sảo trong mắt.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!