Hoàn cảnh lịch sử

I. Hoàn cảnh lịch sử

1. Sự thành lập các quốc gia mới ở Tây Âu

Kipkis.com-Lich-su-van-minh-the-gioi-305.jpeg

Trong nửa đầu thế kỷ V, các bộ lạc người Giécmanh đã thành lập trên đất đai của Tây La Mã các vương quốc Tây Gốt, Văngđan, Buốcgôngđơ. Sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong (năm 476), người Giécmanh tiếp tục thành lập ba vương quốc mới là Đông Gốt, Lông Ba và Phrăng.

Trong số các vương quốc do người Giécmanh thành lập, chỉ có vương quốc Phrăng tồn tại lâu dài nhất và đồng thời là quốc gia có vai trò quan trọng nhất ở Tây Âu trong thời sơ kỳ trung đại.

Địa bàn đầu tiên của vương quốc Phrăng chỉ là miền Bắc nước Pháp ngày nay. Nhưng các Vua ở vương quốc Phrăng đã không ngừng gây chiến tranh để mở rộng đất đai. Đặc biệt đến thời Saclơmanhơ, bằng 50 cuộc chiến tranh, ông đã biến vương quốc Phrăng thành một đế quốc có cương giới rộng lớn từ bờ Đại Tây Dương ở phía Tây đến bờ sông Enbơ và sông Đanuýp ở phía Đông và từ Nam Ý ở phía Nam đến Bắc Hải và bờ biển Ban Tích ở phía Bắc. Thế là, lãnh thổ của đế quốc Saclơmanhơ tương đương với lãnh thổ của đế quốc Tây La Mã trước kia. Chính vì vậy, vào ngày lễ Nôen năm 800, tại nhà thờ Xanh Pie ở La Mã, Sáclơmanhơ được Giáo hoàng cử hành lễ tấn phong làm Hoàng đế La Mã.

Năm 814, Sáclơmanhơ chết, nội bộ vương quốc Phrăng bắt đầu lục đục. Năm 840, ngay sau khi con của Sáclơmanhơ là Luy Mộ đạo chết, ba người con của ông là Lôte, Luy xứ Giécmanh và Sáclơ Hói đã gây nội chiến để tranh giành ngôi hoàng đế. Kết quả, đến năm 843, ba anh em phải ký với nhau hòa ước Vécđoong.

Theo hòa ước này, lãnh thổ của Phrăng được chia thành ba phần: người anh cả, Lôte, được phần giữa bao gồm vùng tả ngạn sông Ranh và miền Bắc bán đảo Ý; người con thứ hai là Luy xứ Giécmanh được phần đất phía Đông sông Ranh; người em út là Sáclơ Hói được phần đất phía Tây của đế quốc. Như vậy, hòa ước Vécđoong là sự kiện quan trọng đánh dấu đế quốc Sáclơmanhơ hoàn toàn tan rã, đồng thời là cái mốc lịch sử đánh dấu sự thành lập ba nước lớn ở Tây Âu là Pháp, Đức và Ý.

Ở Anh, từ thế kỷ V, đã thành lập nhiều tiểu quốc. Đến đầu thế kỷ IX, Ecbe đã thống nhất được các nước nhỏ và thành lập vương quốc Anh.

Ở Tây Ban Nha, từ năm 419 đã thành lập vương quốc Tây Gốt. Năm 711 Tây Gốt bị diệt vong do sự tấn công của người Arập. Người Tây Gốt phải lùi lên phía Bắc lập thành một số nước nhỏ. Đến thế kỷ XI, trong phong trào đấu tranh chống người Arập để khôi phục đất đai, ở Tây Ban Nha đã xuất hiện bốn quốc gia là Caxtila, Aragôn, Nava và Bồ Đào Nha, trong đó quan trọng nhất là Caxtila và Aragôn.

Năm 1469, hoàng tử Aragôn là Phécđinăng kết hôn với công chúa Caxtila là Ixabela. Năm 1474, Ixabela lên làm vua Caxtila, năm 1479, Phécđinăng cũng lên ngôi ở Aragôn, do đó hai nước chính thức hợp nhất thành nước Tây Ban Nha. Năm 1512 Vương quốc Nava cũng sáp nhập vào Tây Ban Nha, còn Bồ Đào Nha vẫn là một nước độc lập.

2. Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến

Xã hội Hy Lạp, La Mã là xã hội chiếm hữu nô lệ. Năm 476, đế quốc Tây La Mã diệt vong. Sự kiện đó đánh dấu chế độ chiếm hữu nô lệ kết thúc, từ đó, các vương quốc mới thành lập trên đất đai của Tây La Mã không tiếp tục duy trì chế độ chiếm hữu nô lệ mà đi vào con đường phong kiến hóa.

Vậy chế độ phong kiến là gì? Đó là một hình thái kinh tế xã hội trong đó có hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân. Giai cấp địa chủ phong kiến chiếm hầu hết ruộng đất trong xã hội, còn giai cấp nông dân thì bị mất ruộng đất nên phải cày cấy ruộng đất của địa chủ, do đó bị giai cấp địa chủ bóc lột bằng địa tô và các hình thức cưỡng bức siêu kinh tế khác.

Ở Tây Âu, quá trình phong kiến hóa ở vương quốc Phrăng diễn ra tương đối tiêu biểu.

Trong quá trình chinh phục, vua Phrăng đã đem những vùng đất rộng lớn phong cho những người thân cận của mình lập thành những lãnh địa. Đồng thời còn phong cho họ các tước hiệu quý tộc như Công, Hầu, Bá. Các lãnh địa và các tước hiệu quý tộc đều được truyền cho con cháu. Như vậy, chính sách phân phong ruộng đất của vương quốc Phrăng đã tạo nên một giai cấp mới là giai cấp lãnh chúa phong kiến, đồng thời cũng là giai cấp quý tộc.

Đây là giai cấp ít được học văn hóa nhưng lại có tinh thần thượng võ cao. Họ lấy việc chiến đấu làm nghề nghiệp, lấy săn bắn thi võ làm trò tiêu khiển, lấy việc đấu kiếm làm biện pháp để giải quyết xích mích và mâu thuẫn. Sau khi hình thành, giai cấp quý tộc phong kiến ở phương Tây là một giai cấp đóng kín. Họ yêu cầu phải mãi mãi giữ gìn sự thuần khiết của dòng máu quý tộc, do đó những cuộc hôn nhân giữa quý tộc và những người thuộc các giai cấp khác đều bị cấm.

Xuất hiện đồng thời với giai cấp lãnh chúa phong kiến là giai cấp nông nô. Trừ một bộ phận nhỏ do nô lệ biến thành, phần lớn nông nô vốn là nông dân tự do có ruộng đất riêng. Nhưng do việc chiếm đoạt ruộng đất của chúa phong kiến, họ bị mất ruộng đất và bị lệ thuộc vào các lãnh chúa và phải nộp địa tô cho lãnh chúa và phải chịu nhiều nghĩa vụ khác.

Ở Tây Âu, địa tô có ba hình thức: tô lao dịch, tô sản phẩm và tô tiền. Trong thời kỳ đầu, hình thức địa tô được áp dụng phổ biến là tô lao dịch. Với hình thức địa tô này, mỗi hộ nông nô được lãnh chúa giao cho một mảnh đất để làm ăn sinh sống. Vì nhận mảnh đất đó, họ có nghĩa vụ mỗi tuần phải đem theo súc vật và nông cụ đến làm việc trên ruộng đất của chủ từ 3 đến 4 ngày. Như vậy, cái mà lãnh chúa bóc lột nông nô chính là những ngày lao động không công trong tuần. Về sau, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa, tô lao dịch được thay dần bằng tô sản phẩm và tô tiền.

Sau khi trở thành nông nô, nông nô vĩnh viễn không được rời khỏi mảnh đất mà lãnh chúa giao cho mình, do vậy thân phận nông nô cũng cha truyền con nối cho đến khi chế độ nông nô tan rã mới chấm dứt.

Sự hình thành quan hệ lãnh chúa nông nô diễn ra từ thế kỷ V đến thế kỷ X. Vì vậy, thời kỳ này gọi là thời kỳ hình thành chế độ phong kiến. Trong thời kỳ này, nền kinh tế ở phương Tây mang nặng tính tự cấp tự túc. Kinh tế hàng hóa không tồn tại.

Bắt đầu từ thế kỷ XI, thành thị công thương nghiệp ở Tây Âu ra đời. Từ đó, kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng và trong xã hội xuất hiện một tầng lớp cư dân mới, đó là tầng lớp thị dân.

Khi mới ra đời, thành thị được xây dựng trên đất đai của chúa phong kiến, thị dân là những nông nô từ nông thôn trốn ra thành thị, vì vậy thành thị bị lệ thuộc vào lãnh chúa phong kiến. Sang thế kỷ XII, XIII, một khi kinh tế của thành thị đã giàu, thế lực của thị dân đã mạnh, các thành thị đã dùng nhiều biện pháp để đấu tranh với lãnh chúa nhằm giành quyền tự trị cho thành thị và quyền tự do cho thị dân. Kết quả là, tất cả các thị dân đều thoát khỏi sự lệ thuộc vào lãnh chúa cũ và các thành thị giành được quyền tự trị với những mức độ khác nhau. Đặc biệt do có nền công thương nghiệp phát triển và do chính quyền phong kiến suy yếu, các thành phố Vênêxia, Phirenxê, Giênôva, Milanô, Pida ở Ý được độc lập hoàn toàn và trở thành những nước cộng hòa thành thị.

Sự ra đời của thành thị vào thế kỷ XI đánh dấu chế độ phong kiến ở Tây Âu bước vào thời kỳ phát triển, nhưng trong đó đã tiềm ẩn những nhân tố làm tan rã chế độ phong kiến. Do có nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, ở một số thành thị Ý như Vênêxia, Phirenxê..., từ thế kỷ XIV, mầm mống của chủ nghĩa tư bản đã ra đời. Đến thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện phổ biến ở Tây Âu. Cũng từ đó, chế độ phong kiến bước vào thời kỳ tan rã.

3. Vai trò và thế lực của giáo hội La Mã

Kipkis.com-Lich-su-van-minh-the-gioi-39.jpeg

Đạo Kitô ra đời vào thế kỷ I CN ở vùng Giêrudalem, thuộc đế quốc La Mã. Lúc đầu, đạo Kitô là tôn giáo của quần chúng nghèo khổ, do đó tôn giáo này đã công khai lên án sự giàu có, lên án đế quốc La Mã, do đó bị chính quyền La Mã đàn áp khốc liệt. Nhưng dần dần đạo Kitô trở thành một tôn giáo có lợi cho giai cấp chủ nô nên đến cuối thế kỷ IV được công nhận là quốc giáo của La Mã.

Để quản lý việc đạo trong toàn đế quốc, đạo Kitô đã thành lập 5 trung tâm giáo hội là Côngxtăngtinôplơ, Antiốt, Giêrudalem, Alêchxăngđri và La Mã. Ở mỗi trung tâm đều do một Tổng giám mục đứng đầu.

Tuy vậy, ở 4 trung tâm giáo hội phương Đông, Tổng giám mục ở Côngxtăngtinốplơ được giữ quyền lãnh đạo. Đồng thời, do Đông La Mã là một đế quốc thống nhất, ở đó chính quyền của hoàng đế rất vững mạnh nên giáo hội phải phục tùng hoàng đế.

Còn ở phương Tây, từ thế kỷ V đã thành lập nhiều vương quốc của người Giécmanh. Vua và quý tộc các nước này đã nhanh chóng tiếp thu đạo Kitô làm cho thế lực của giáo hội La Mã càng thêm mạnh. Trong khi đó, Tổng giám mục La Mã tự xưng là Giáo hoàng và có mưu đồ muốn chiếm quyền lãnh đạo toàn bộ giáo hội Kitô.

Để thần thánh hóa địa vị của mình, Giáo hoàng loan truyền rằng ngôi Tổng giám mục La Mã vốn do Thánh Pie, người cầm đầu các môn đồ của chúa Giêxu sáng lập. Do vậy, Giáo hoàng gọi lãnh địa của mình là “Lãnh địa kế thừa của thánh tông đồ Pie”.

Do mưu đồ của Giáo hoàng muốn ngự trị trên toàn bộ giáo hội, đồng thời do sự bất đồng về cách giải thích thuyết “Tam vị nhất thể”[1] và việc tranh giành khu vực truyền giáo nên mâu thuẫn giữa Giáo hoàng La Mã và Tổng giám mục Côngxtăngtinôplơ ngày càng sâu sắc. Sau vài lần tuyên bố khai trừ giáo tịch của nhau, năm 1054 giáo hội Kitô chính thức phân biệt thành hai giáo hội: Giáo hội phương Tây, gọi là Giáo hội La Mã hoặc Giáo hội Thiên chúa; Giáo hội phương Đông gọi là Giáo hội Hy Lạp hoặc Giáo hội chính thống. Từ đó, hai giáo hội hoàn toàn độc lập với nhau, thậm chí coi nhau như thù địch.

Trong quá trình ấy, giáo lý đạo Kitô hết sức nhấn mạnh thuyết con người sinh ra ai cũng có tội. Sở dĩ như vậy là vì thủy tổ của loài người là Adam và Evơ đã làm trái với mệnh lệnh của Chúa trời nên đã phạm tội. Vì vậy, tất cả dòng giống của họ tức là toàn thể loài người phải mang cái tội truyền kiếp. Ngoài ra, mỗi người trong cuộc đời của mình còn phạm những tội lỗi riêng.

Do con người đầy tội lỗi như vậy nên sau khi chết sẽ bị đày đọa ở địa ngục. Tuy nhiên giáo hội Kitô có thể làm cho mọi người thoát khỏi sự trừng phạt sau khi chết và được hưởng hạnh phúc ở Thiên đường. Giáo hội tuyên truyền rằng tầng lớp giáo sĩ là những kẻ được ban phúc lành vì khi họ được phong những chức vụ thiêng liêng thì đồng thờỉ họ cũng được ban những quyền lực thiêng liêng. Do vậy, bằng các nghi lễ như rửa tội, cho ăn bánh thánh v.v... các giáo sĩ được nhân danh Chúa để ban phước lành cho tín đồ. Như vậy, giáo hội không những đã làm cho các tín đồ tin tưởng mù quáng vào sự cứu vớt do giáo hội đem lại cho họ mà còn thần thánh hóa và tạo uy quyền rất lớn cho tầng lớp giáo sĩ.

Ngoài ra, để được ban phước lành và để được cứu vớt, giáo hội còn đề xướng chủ nghĩa cấm dục, thành lập các nhà tu kín, khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi khổ hạnh ở đời để sau khi chết được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn ở Thiên đường. Đồng thời giáo hội còn chủ trương thờ các di vật của các thánh và khuyến khích tín đồ hành hương đến các đất thánh để không những làm tăng thêm sự cuồng tín của giáo dân mà còn để quyên tiền cho giáo hội.

Như vậy, đến thời Trung đại, giáo hội La Mã là trung tâm của đạo Kitô ở phương Tây. Dựa vào uy quyền tôn giáo, giáo hội La Mã cũng có thế lực rất lớn về kinh tế, chính trị và văn hóa tư tưởng.

Chú thích

  1. Giáo hội phương Đông cho rằng Thánh thần là do chúa cha sinh ra, còn Giáo hội phương Tây thì do cả chúa cha và chúa con sinh ra.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Lịch sử văn minh thế giới
  • Tác giả: Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Quốc Hùng, Đinh Ngọc Bảo
  • Nhà xuất bản Giáo dục
  • Ebook: TVE-4U.org
"Like" us to know more!