Hai môn quan trọng nhất: Tác văn và toán Pháp

Chương VI: Hai môn quan trọng nhất: Tác văn và toán Pháp

Viết là ghi cảm tưởng của mình lên giấy. Không biết nhìn, không biết nghe, không biết suy nghĩ thì làm sao viết được? Mà học đường, hồi trước và hồi này cũng vậy, không dạy trẻ nhận xét lấy, suy nghĩ lấy, chỉ bắt trẻ nhớ và nhớ; học Địa lý, Sử ký phải nhớ, học Toán cũng phải nhớ, học Luân lý cũng phải nhớ, rồi học đến môn Tác văn, đến cách nghị luận, cũng vẫn lại phải nhớ nữa, chỉ những nhớ là nhớ!

1. Dạy Tác văn

Sáu học sinh từ mười lăm đến mười tám tuổi học lớp đệ ngũ, một hôm lại hỏi:

- Thưa thầy, tuần sau chúng con thi lục cá nguyệt về Tác văn. Giáo sư cho chúng con biết trước đầu đề sẽ là một bức thư. Xin thầy chỉ cho chúng con cách viết thư ra sao.

Thực là một câu hỏi bất ngờ. Tôi hỏi lại các em ấy:

- Từ trước tới giờ, các em chưa được học cách viết thư sao?

Các em làm thinh. Làm sao mà “chưa” được? Ở lớp nhất thầy giáo đã dạy cách viết thư rồi. Thế thì tại sao các em vẫn không biết viết thư?

Tôi hỏi tiếp:

- Các em có viết thư cho cha mẹ, họ hàng, bạn bè lần nào không? Em S. Chẳng hạn, em ở Long Xuyên lên đây, mỗi tháng chắc có viết thư về nhà chứ?

- Dạ, có.

- Thế thì tại sao em còn phải hỏi cách viết thư?

- Thưa thầy, con tưởng có khác, vì đầu bài sẽ ra chắc không nói về việc thăm nhà.

- A, vậy hễ việc khác thì lối viết cũng khác sao? Trong đời có hàng triệu việc khác nhau, cứ mỗi việc lại phải học một lối kể, một lối viết ư? Có sống lâu như cụ Bàn Tổ, học cũng không sao hết được. Ta chỉ cần biết nguyên tắc thôi chứ?

Mà tại sao các em ấy không biết nguyên tắc? Tại lối dạy Tác văn ở nhà trường.

Không có môn nào dạy đã khó mà lại ít kết quả bằng môn Tác văn. Nhà mô phạm và triết gia Jules Payot đã phàn nàn như vậy từ đầu thế kỷ.

Viết là ghi cảm tưởng của mình lên giấy. Không biết nhìn, không biết nghe, không biết suy nghĩ thì làm sao viết được? Mà học đường, hồi trước và hồi này cũng vậy, không dạy trẻ nhận xét lấy, suy nghĩ lấy, chỉ bắt trẻ nhớ và nhớ; học Địa lý, Sử ký phải nhớ, học Toán cũng phải nhớ, học Luân lý cũng phải nhớ, rồi học đến môn Tác văn, đến cách nghị luận, cũng vẫn lại phải nhớ nữa, chỉ những nhớ là nhớ!

Tôi không nói ngoa đâu, thưa bạn. Từ lớp nhì, khi ra đầu đề Tác văn, ông giáo chỉ ngay cách làm, lại đặt sẵn câu cho, học sinh chỉ việc nhớ rồi về nhà chép lại. Có khi chẳng cần nhớ nữa, cứ chép ngay “bài làm miệng của thầy” rồi về nhà chép lại cho sạch sẽ để nộp trả thầy. Bạn bảo:

- Con nít chưa biết gì, thì phải chỉ cho nó chứ?

- Như vậy không phải là chỉ, là làm sẵn cho trẻ. Đáng buồn nhất là tại các lớp thi tú tài, người ta cũng dùng cách dạy ấy. Học sinh có thì giờ đọc kỹ những tác phẩm chính của Voltaire, J.J. Rousseau, V. Hugo không? Trong có mười tám tháng (hai năm học), phải học bốn, năm chục tác giả, nếu trung bình mỗi tác giả chỉ đọc bốn cuốn thôi thì trước sau cũng tới 150-200 cuốn rồi. Thì giờ đâu? Vì còn phải học cả chục môn khác nữa chứ! Thành thử học sinh chỉ có cách học những cuốn văn học sử, cùng những đoạn tóm tắt ít chục tác phẩm chính, rồi khi làm bài, nhớ đâu chép lại đó. Môn bình luận văn chương để luyện óc suy xét đã biến thành một môn luyện ký tính.

Trong các ban đại học, sinh viên cũng chỉ tập nhớ. Một nhà doanh nghiệp Anh phàn nàn rằng các kỹ sư trẻ tuổi lại giúp việc ông, ngạc nhiên lắm khi ông bảo họ suy nghĩ, quyết định lấy. Họ có tập suy nghĩ bao giờ mà chẳng ngạc nhiên. Ở nước Anh, nền giáo dục có tiếng là thực tế mà còn vậy nói chi tới nước Pháp và nước mình!

Tôi xin lỗi bạn, phải kể lể dài dòng như vậy để bạn thấy cái hại của sự nhồi sọ và hiểu rõ tại sao thầy tận tâm tới mấy, trò gắng sức tới mấy, mà học mười, mười hai năm trời, trò vẫn không biết làm một bài luận; bảy, tám năm vẫn không biết viết một bức thư.

Muốn cho trẻ tập suy nghĩ, có lẽ ta phải theo phưong pháp của Frelnet. Ông là một nhà cách mạng trong giáo dục, sau đại chiến thứ nhất, cùng với vợ và các bạn thân đề xướng ở Pháp một lối dạy rất mới. Ông nhất thiết không dùng sách giáo khoa, muốn dạy trẻ về một vật gì thì cho chúng coi vật đó, hướng dẫn chúng nhận xét, rồi để chúng tự ý ghi nhận xét vào tập. Về lớp, trẻ viết thành bài, đọc lên cho bạn nghe và phê bình. Ông chỉ huy cuộc phê bình ấy, giúp trẻ lựa một bài đầy đủ nhất, sửa cho những lỗi viết văn, rồi trẻ dùng ngay bài đó làm bài học. Chúng tự sắp chữ, in bài, vẽ hình, cuối năm đóng lại thành sách.

Dạy về một cái gì mà ông không thể cho coi tận mắt được thì ông thu thập đủ tài liệu rồi “soạn bài”.

Tóm lại, ông không đem những điều hiểu biết của người lớn nhồi vào sọ trẻ, mà hướng dẫn chúng tự tìm lấy chân lý trong vũ trụ.

Phương pháp ấy còn đương thí nghiệm. Có lẽ chỉ như vậy mới diệt được cái lối nhồi sọ bây giờ.

Theo cách của Freinet, ta phải ra một đầu đề Tác văn nửa tháng hoặc một tháng trước để trẻ có thì giờ nhận xét và kiếm tài liệu.

Trong những dịp nghỉ, bạn có ra thêm bài Tác văn cho trẻ thì nên thí nghiệm lối ấy, còn khi giảng đầu đề Tác văn nhà trường ra thì tôi tưởng bạn nên bảo trẻ như vầy:

- Trước khi làm bài, con nên lại tận chỗ[1] để coi (nếu phải tả một bến xe, một cái chợ chẳng hạn), hoặc đọc những bài này (nếu phải làm một bài nghị luận) rồi suy nghĩ kỹ, tìm một bố cục cho ba coi. Nếu ông giáo đã giảng cho con rồi thì con có thể mượn ý của ông mà không nhất định phải theo.

Trẻ làm xong bố cục, bạn phê bình bố cục đó, để trẻ tự sửa lấy rồi viết bài.

2. Dạy Toán

Thời này, môn Toán là môn quan trọng nhất trong chương trình Tiểu học và Trung học. (Hễ giỏi Toán và đừng quá tệ về Việt văn, Pháp văn thì thi tú tài chắc chắn đậu). Đó cũng là một tín ngưỡng của thế kỷ, cũng như hồi còn ăn lông ở lỗ, tổ tiên chúng ta cũng sùng bái các ngẫu tượng vậy.

Toán là một môn dễ học, dễ hiểu là nhớ; vậy mà một số đông học sinh sợ nó, tới giờ Toán là xanh mặt, coi giáo sư Toán như ông kẹ, là tại sao?

Theo tôi, có bốn nguyên nhân:

- Chương trình không sát với thực tế. Chẳng hạn người ta dạy phép tính hợp kim (alliage) và lợi nhuận (rente) cho các em mười một, mười hai tuổi thì làm sao các em thích được?

- Chương trình không hợp với sự phát triển tự nhiên của trẻ. quan niệm về tỉ trọng (densité), trẻ thông minh trung bình thì 12-13 tuổi mới hiểu nổi mà người ta đem dạy cho các em 10-11 tuổi, thành thử dù các em có làm được Toán thì cũng chỉ vài tháng là quên hết và sau phải học lại.

- Cách dạy chưa được hoàn hảo. Người ta bắt trẻ nhớ nhiều quá, không tập cho trẻ lý luận (coi “Thế hệ ngày mai”).

- Người dạy thiếu kinh nghiệm. Dạy Toán cho trẻ 5-6 tuổi là việc khó nhất của nhà giáo. Vậy mà những người khai tâm cho trẻ về bốn phép tính là ai? Là phụ huynh các em, nghĩa là những người phần đông không biết chút gì về giáo khoa; hoặc các thầy giáo, cô giáo mới ở trường ra, kinh nghiệm còn non. Đã không biết cách dạy lại không hiểu luật phát triển về tinh thần của trẻ, cứ đem trẻ so sánh với ta, quên rằng chúng còn bé bỏng, rồi nổi giận, đỏ mặt tía tai, quát tháo, làm cho trẻ nước mắt chạy quanh, mếu máo hoặc giật mình thon thót, run lên cầm cập, lấm lét nhìn cái roi mây hoặc nắm tay của cha, của thầy, như vậy trách chi chúng chẳng oán môn Toán, oán đến đáy lòng, sợ môn Toán, sợ như sợ cọp? Một môn học đáng lẽ dễ dàng, vui thú như đi du lịch, đã thành cái nợ của học sinh chỉ vì sự ngu xuẩn của chúng ta!

  • Chúng ta có tật cứ lấy óc ta mà đoán óc trẻ, quên rằng trẻ 6-7 tuổi không hiểu nổi những cải trừu tượng mà số là một cái trừu tượng, không ai định nghĩa cho rõ ràng được.

Số là cái gì, thưa bạn? Tự điển “Larousse” viết: “Nombre: rapport entre une quantité et une autre quantité prise comme terme de comparaison et qu'on appelle unite”.

Thật đúng như vậy không? Khi tôi nói: 3 con bò, con tôi có ý nghĩ đến một tỉ lệ nào đâu?

Ông Charles Piedvache chắc cũng thấy định nghĩa ấy chưa được đầy đủ, nên định nghĩa lại (trong cuốn “Conseils et reflexions sur Téducation des enfants à Técole primaire”), và định nghĩa của ông còn rắc rối hơn. Ông bảo: “Le nombre est ce qui reste, s'il reste quelque chose, d'une collection d'objets de laquelle on abstrait tout ce qui tombe sous les sens”.[2]

Vậy số là một cái rất trừu tuợng, mà ta bắt trẻ làm toán ngay từ hồi chúng bốn, năm tuổi, chẳng cũng hơi sớm ư? Rồi mỗi khi chúng lầm lộn, cộng 15 con bò với 3.000$ chẳng hạn thì ta đánh đập, chẳng cũng bất công ư?

Trong môn sư phạm có một qui tắc quan trọng là đi từ cái hiểu rồi tới cái chưa hiểu. Tôi vẫn biết qui tắc ấy không phải lúc nào cũng theo được, và nền giáo dục cổ hay kim thì cũng phải dạy trẻ nhiều điều mà chúng chưa hiểu nổi; miễn sao chúng thuộc, nhớ cách làm rồi sau này, lớn lên sẽ hiểu. Tức như quan niệm về số và môn Toán. Tuy nhiên, ta cũng phải nhận rằng như vậy là vạn bất đắc dĩ, và ta nên tìm hết cách cho bài học được cụ thể thì trẻ mới đỡ chán. Vậy có lẽ ta không nên bảo trẻ học: 3 với 4 là 7; mà nên bảo: 3 tờ giấy với 4 tờ giấy7 tờ giấy, để trẻ bớt lầm lộn mà cộng ngựa với tiền, người với sách...

- Định nghĩa là những điều căn bản trong môn Toán, người lớn chúng ta nên biết, nhưng các em nhỏ thì không nên bắt học vì trong các câu định nghĩa, ý đúc lại quá, lời gọn quá, rất khó nhớ. Hồi học năm thứ nhất ban Cao tiểu, nhiều anh bạn tôi bị giáo sư Toán hỏi về định nghĩa của tiếng cercle: “Le cercle est une ligne courbe fermee dont tous les points sont à égale distance d'un point 0 intérieur appelé centre”. Các anh ấy không biết thế nào là một vòng tròn đâu?

Những định nghĩa như vậy, bây giờ người ta dịch đúng từng chữ ra Việt ngữ: Vòng tròn là một đường cong khép mà tất cả các điểm... rồi bắt trẻ học, có khổ cho các em không?

Tám, chín tuổi đã phải học “Toán nhân là một phép toán, mục đích là, do hai số, một số gọi là số bị nhân, một số gọi là số nhân, tìm ra một số thứ ba gọi là tích số, mà số nhân có mấy lần đơn vị thì tích số ấy cũng có bấy nhiêu lần số bị nhân”.

Chúng ta nên bỏ lối dạy thậm vô lý đó đi mà đem nhiều thí dụ cụ thể giảng cho trẻ biết công dụng của bốn phép toán. Khi nào dụng phép này, khi nào dụng phép khác.[3]

- Dạy về số ta ráng cho trẻ thấy sự liên lạc giữa chiều dài vòng tròn và chiều dài trực kính; trực kính càng lớn, thì vòng tròn càng lớn, cũng như cạnh một hình vuông càng lớn thì chu vi cũng càng lớn.

Ta nên bảo trẻ vẽ ba, bốn vòng tròn lớn nhỏ khác nhau trên mặt sân, rồi dùng một sợi dây đo mỗi vòng tròn cùng trực kính và chia chiều dài vòng tròn cho chiều dài trực kính. Các em sẽ thấy một con số, gần với số Pi. Như vậy các em sẽ không bao giờ quên rằng chiều dài vòng tròn bằng Pi lần trực kính.

Khi ra toán cho trẻ, ta nên lựa những bài có tính cách thiết thực, dạy cho trẻ suy nghĩ để hiểu đầu bài rồi phân tích tìm cách giải. Chăng hạn, các em sẽ lý luận như sau:

- Người ta hỏi cái gì? Hỏi tiền lời.

- Tiền lời bằng cái gì? Bằng tiền bán trừ tiền mua và những phí tổn?...

- Tôi xin nhắc lại: đừng bao giờ làm bài cho trẻ. Nếu nhà trường ra một bài khó, trẻ không làm được, thì ta có thể bảo trẻ coi lại bài học nào đó, hoặc ta ra bài toán khác hơi giống bài ấy, giảng cho hiểu kỹ, rồi trẻ tự làm lấy bài của trường.

- Về môn Toán, càng không nên nhóm lúa cho mau lớn! Ráng “nhồi” cho trẻ thì trong vài tháng trẻ có thể khá được đấy, nhưng trẻ chỉ có thể thuộc cách giải, chứ không biết cách lý luận, nên chỉ bỏ đi vài tháng là trẻ sẽ quên hết. Tôi đã nghiệm dạy về tỉ trọng cho nhiều trò lớp nhất, các em ấy làm được bài, có vẻ hiểu kỹ lắm; nhưng năm sau, các em ấy lên năm thứ nhất, lại học về tỉ trọng và tôi phải giảng lại hết từ đầu: thì ra các em chẳng nhớ gì cả. Khi óc các em chưa hiểu được thì ta tận tâm tới mấy cũng chỉ hoài công.

Ý thức về tỉ trọng chỉ dùng trong khu vực khoa học, ban Tiểu học có mục đích dạy các thường thức rất phổ thông thì dạy về tỉ trọng làm chi? Vậy trong một bài toán, đáng lẽ nói: “Tỉ trọng của sắt là 7,8” sao không nói mỗi tấc khối sắt nặng 7,8 kí lô”. Nghĩa là y như nhau, chỉ khác câu trên trừu tượng mà câu dưới cụ thể.

Sau cùng, thỉnh thoảng ta cũng nên ra:

- Những bài toán cần có lương tri mới giải được, như:

“Một bà chủ nhà muốn mua vải sơn để phủ một mặt bàn tròn đường kính là 1,1 thước. Vải sơn bán 35$ một thước, khổ 1,4 thước. Khăn phủ phải thòng xuống khỏi mép bàn là 20 phân. Bà ấy tốn bao nhiêu tiền?

- Những bài tập cho trẻ làm toán rợ, như:

“Kiếm đường kính một vòng tròn mà chiều dài là 44 thước”, để tập cho các em suy nghĩ, tìm tòi, thử đi thử lại (dùng Pi = 22:7).

- Những bài luyện óc thông minh, như:

“Trên mặt hồ có một lá sen. Ví dụ lá ngày hôm nay to gấp đôi ngày hôm qua, ngày mai gấp đôi ngày hôm nay, thì trong 21 ngày sẽ phủ kín mặt hồ. Nếu có hai lá như vậy thì mấy ngày sau sẽ kín mặt hồ?”[4]

Khi các em đã lên ban Trung học, ít bực phụ huynh còn có thể săn sóc sự học của trẻ về đủ các môn, nhất là hai môn chính: Tác văn và Toán; mà nhiều em cần được săn sóc tới mười lăm, mười sáu tuổi, tới hết đệ nhất cấp. Các vị ấy chỉ còn có cách kiểm soát sự học của trẻ như một chương trên tôi đã chỉ và kiếm lớp riêng cho các em học thêm những môn chính mà các em còn kém. Trong chương sau, tôi sẽ xét trường hợp ấy.[5]

Chú thích

  1. Khốn nỗi, nhiều ông giáo ra những đầu đề “trên cung trăng” dù trẻ muốn nhận xét cũng không sao nhận xét được. Nhiều em nhỏ ở Hậu Giang chưa ra khỏi tỉnh lần nào mà phải tả một ga xe lửa và lại phải kể đời sống của một cây lúa mì mới khổ cho các em chứ
  2. Chúng tôi xin miễn dịch lại định nghĩa ấy.
  3. Nên coi cuốn “Conseils et reflexion sur léducation des enfants à lécole primaire” của Charles Piedvache (Albin Michel. Paris) trong đó chỉ cách dạy toán cho trẻ.
  4. 20 ngày, vì đến ngày 21 lá sen phủ kín hồ, nghĩa là ngày thứ 20 che được nửa hồ. Cái lá thứ nhì, trong 20 ngày cũng che được nửa hồ. Bài toán ấy cốt để thử sức thông minh không cần có tính cách thiết thực. Vả lại lâu lâu ta mới ra một bài toán lạ như vậy thôi.
  5. Về chương này và chương trước, nên coi thêm những cuốn:
    - “Nouvelle pédagogie pratique” của A. Souché (nhà xuất bản Fernand Nathan).
    - “Pédagogie vécue” của Ch. Charrier (như trên).
    - “Premiere étape” (như trên).
    - “Conseils et reflexions sur léducation des enfants à lécole primaire” của Ch. Piedvache (Nhà xuất bản Albin Michel).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Săn sóc sự học của con em
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản: Văn hóa Thông tin, 11/2003
  • Nguồn: TVE-4u
"Like" us to know more!