Học hán tự

6. Học hán tự

a) Sách Việt dạy chữ Hán

Về Hán tự, như tôi đã nói, chúng ta còn thiếu nhiều sách lắm.

Ngoài những cuốn “Nhất thiên tự”, “Tam thiên tự”, “Ngũ thiên tự”[1] mà từ lâu không ai dùng nữa vì cổ lỗ quá, tôi mới được biết những bộ sau này:

- Hán văn tân giáo khoa thư của Lê Thước soạn cho ban tiểu học hồi trước. Toàn bộ năm cuốn từ lớp chót lên tới lớp nhất.

Bộ nầy có giá trị nhất, viết có phương pháp, lựa những tiếng thường dùng, những thành ngữ cùng danh ngôn để dạy, có chỉ cách viết chữ, ít qui tắc về ngữ pháp và phép đặt câu. Sau mỗi bài học có một bài tập. Cuối mỗi cuốn có một tự vựng nhỏ trong đó chữ sắp theo bộ.

Mỗi cuốn có 30 bài, mỗi bài chừng mươi, mười lăm chữ mới với nhiều từ ngữ đi với những chữ đó. Học mỗi ngày một bài (mất độ 1-2 giờ) thì 6 tháng sẽ hết bộ và sẽ biết được độ 2000, 3000 chữ[2].

- Bộ Tân Quốc Văn của Trung Hoa do nhà Tân Dân dịch cách đây khoảng 15 năm. Ba, bốn chục năm trước những trường tiểu học Trung Hoa còn dùng nó để dạy, bây giờ kiếm nó cũng hơi khó.

Toàn bộ 8 cuốn, mỗi cuốn chia làm nhiều bài, mới đầu dễ, sau khó lần. Không có bài tập. Nhà Tân Dân phiên âm rồi dịch nghĩa và mỗi chữ chỉ cho một nghĩa ở trong bài thôi. Nhờ bài học soạn kỹ lưỡng nên bộ này cũng tạm dùng được. Học hết bộ biết được khoảng 4000-5000 chữ.

- Bộ Hán văn tự học của Nguyễn Văn Ba 5 cuốn, xuất bản hồi đầu chiến tranh nhằm lúc có phong trào học chữ Hán. Tác giả soạn có phương pháp, rất chú trọng đến nghữ pháp và ngữ nguyên cùng cách cấu tạo của nhiều chữ, nhưng cũng không có bài tập và theo một nhà cựu học thì bài học viết bằng một thứ văn chưa được thuần mặc dầu đúng ngữ pháp.

- Cuốn Hán học tiệp kính của Nguyễn Di Luân và Trần Quốc Trinh. Đầu sách có độ mười trang chỉ chút mẹo tiếng Hán, cách đặt câu và cách viết chữ. Sách chia làm 27 bài. Mỗi bài dạy từ hai chục đến ba chục chữ mới sắp theo từng loại: danh từ, động từ, trạng từ... Sau mỗi bài có một bài tập đọc hay tập dịch. Những bài đầu dễ, sau khó lần lần. Học hết cuốn ấy thì chưa biết được ngàn chữ.

Hai tác giả trên còn soạn cuốn Hán văn quy tắc trong đó có phần phân biệt tự loại (dài nhất), một vài trang về cách đặt câu, về bốn thanh (bình, thượng, khứ, nhập) và một phần hơi quan trọng về cách dùng những nhữ dễ lầm lộn với nhau như: vô, bất, mạc, vật, tắc, tất...

- Cuốn Hán tự tân phương của Tạ Quang Phát có một lối trình bày riêng. Ông muốn cho người học dễ nhớ mặt chữ nên giảng rất kỹ về 214 bộ và bốn cách cấu tạo tiếng Hán (tượng hình, hội ý, giả tá, hài thanh).

Phân tích từng phần của mỗi chữ để tìm cái ngụ ý của chữ, chữ nào khó phân tích thì ông không ngại dùng thuật ký ức cho ta dễ nhớ.

Mỗi bài học thường ngắn, nhưng khi giảng nghĩa một chữ, ông luôn luôn giảng thêm những chữ trông phảng phất như chữ đó. Chẳng hạn giảng chữ 光 (quang) thì ông giảng luôn những chữ 胱 (quang), 洸 (quang) và 晃 (hoảng).

“Hán tự tân phương” không có bài tập mà cũng không giảng ngữ pháp. Học cuốn đó chỉ biết được khoảng 2.000 dụng ngữ chứ không biết đặt câu mà đọc sách cũng không hiểu.

Tóm lại chưa có bộ nào hoàn toàn và đầy đủ có thể so sánh với những sách dạy Anh ngữ, Pháp ngữ được. Bộ của Lê Thước hơn cả, hiềm dụng ngữ hơi ít. Nếu ông soạn tiếp 4 cuốn nữa cho ban Cao tiểu thì lợi cho học sinh và người tự học biết bao[42].

b) Cách học. Hai giai đoạn đầu

Bạn nên kiếm cho được bộ của Lê Thước. Trong các thư viện lớn may ra còn có. Học hết bộ ấy rồi là qua được chặng thứ nhất.

Trong chặng thứ nhì bạn học trong những cuốn Tân Quốc VănHán văn tự học rồi coi thêm cuốn Hán tự tân phương và cuốn Hán học tiệp kính.

Nếu không kiếm được bộ của Lê Thước thì trong chặng thứ nhất học bộ Hán văn tự học Hán văn tiệp kính rồi trong chặng thứ nhì học Tân Quốc văn và Hán tự tân phương.

Nếu cũng không kiếm được Hán văn tự học Hán học tiệp kính nữa thì trong chặng thứ nhất học Tân Quốc Văn, rồi qua chặng sau học Hán tự tân phương.

Nếu chỉ có bộ Hán tự tân phương thì đành phải dùng nó vậy, nhưng khi học một chữ nào nên kiếm học thêm những từ ngữ về chữ đó ở trong bộ Hán Việt từ điểncủa Đào Duy Anh và đọc thêm cuốn Hán văn quy tắc (ở thư viện Nam Việt) hoặc cuốn Grammaire chinoise của Cordier. Cuốn sau này rất khó kiếm. Ở Tổng thư viện (Hà Nội) hồi 1935 có một cuốn, không biết có đem vào đây không. Không tìm thấy được cuốn ấy thì coi những cuốn Précis de Gramaire chinoise của Margoulie's hoặc Wieger, Ramusat (ở thư viện Nam Việt).

c) Giai đoạn thứ ba

Hết giai đoạn thứ nhì bạn đã có thể đọc những sách thông thường rồi.

Bạn nên kiếm:

- Những cuốn ngữ pháp của Trung Hoa bán ở Chợ Lớn như Tác văn bách nhật thông... để hiểu thêm ngữ pháp.

- Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh.

- Từ Nguyên của nhà Thương vụ ấn thư quán, hoặc Từ Hải của nhà Trung Hoa thư cục.

(Bộ trên dễ dùng hơn)

Và một bộ Bạch thoại tự điển để tra nghĩa những tiếng bạch thoại. Có rất nhiều thứ Bạch thoại tự điển: đại loại cuốn nào đắt tiền và mới nhất là có giá trị hơn cả.

Trong ba bộ sách: Hán văn giáo khoa thư, Hán văn tự học, Tân Quốc văn, tác giả đều dạy văn ngôn, tức thứ văn dùng trong các sách hồi xưa, có nhiều chi, hồ, giả, dã... Sách báo bây giờ, trái lại, đều dùng bạch thoại tức thứ văn đúng với lời nói của dân chúng. Văn ngôn và bạch thoại khác nhau hơi xa; nếu bạn không đọc thêm bạch thoại, không có một bộ tự điển bạch thoại thì đọc sách báo bây giờ sẽ không hiểu được hết.

Nếu bạn biết tiếng Anh thì nên đọc thêm cuốn Tân Trung Hoa (The New China). Cuốn này soạn cho học sinh Trung Quốc có nhiều bài viết dễ hiểu viết bằng bạch thoại về lịch sử, địa lý, kinh tế, chánh trị, văn hóa Trung Quốc... Bên bản chữ Hán còn có bản dịch ra tiếng Anh. Coi bản dịch bạn hiểu thêm được nhiều tiếng bạch thoại và nhiều từ ngữ mới của Trung Hoa.

Tới cuối giai đoạn này bạn nên xả hơi một chút và đọc tiểu thuyết như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc... Trước bạn đọc thấy khó nhọc bao nhiêu, thì bây giờ bạn thấy thú bấy nhiêu. Công của bạn đã được đền bù. Không bao giờ tôi quên được những phút say mê, khi mới biết lõm bõm ít chữ Nho, tôi đọc lời bình phẩm Tam Quốc Chí của Thánh Thán: Trời thì rét căm căm, ngọn đèn thì lù mù tới 11 giờ khuya tôi vẫn còn ngồi trước cuốn sách. Tôi tưởng ai học chữ Hán cũng được phần thưởng vô giá ấy.

Tam Quốc Chí dễ đọc nhất, nên đọc trước, rồi tới Thủy Hử, sau mới tới Đông Chu liệt quốc. Tôi giới thiệu ba bộ đó trước vì bạn đã nhớ ít nhiều cốt truyện, nên đọc dễ hiểu hơn là đọc những tác phẩm của các văn nhân hiện đại như Lỗ Tấn, Hồ Thích, Quách Mạt Nhược...

Vả lại những bộ đó rất dễ kiếm, chỉ tiếc những bản bán ở Chợ Lớn in rất cẩu thả, không chấm câu, nên nhiều chỗ bạn phải dò bản dịch của Nguyễn Đỗ Mục để hiểu nguyên văn. Nếu mua được những cuốn trích từng đoạn trong những tiểu thuyết ấy, có chấm câu, có chú thích dùng cho học sinh Trung Quốc đọc, thì tốt nhất.

d) Giai đoạn cuối cùng, tức giai đoạn đọc cổ văn

Trong giai đoạn này bạn đọc bản dịch:

- Mạnh Tử (Nguyễn Hữu Tiến dịch).

- Đại Học (Tản Đà dịch).

- Luận Ngữ (tôi quên dịch giả).

- Trung Dung (Phan Khoang dịch).

- Kinh Thi (Ngô Tất Tố dịch).

- Đường Thi của Ngô Tất Tố. Mỗi bài thơ trong cuốn này có giảng nghĩa, chú thích kỹ và dịch gần sát nguyên văn.

- Đường Thi của Trần Trọng Kim.

- Đại cương văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê

- Cổ Văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.

Muốn theo hết chương trình đó - cả 4 giai đoạn - bạn phải tốn công trong 2-3 năm. Công đó không phí đâu. Bạn sẽ biết Việt văn một cách tinh xác hơn, hiểu thêm văn hóa cổ của nước nhà, một phần văn học Trung Quốc và đọc được từ những bộ sử ký, cổ văn đến sách báo đương thời.

Nhưng muốn cho thông tiếng Hán thì bạn còn phải học thêm nhiều nữa, phải nhớ điển, thuộc cổ văn và học lối chữ thảo vì chữ thảo khác với chữ chân phương cũng gần như chữ Moóc (Morse) khác chữ cái La tinh vậy.

Thực là “tử công phu”, nên một số vị cố đạo người Âu qua truyền giáo ở Trung Quốc đã phải than: “Không có cách nào học Hoa ngữ mà không phải rớt nước mắt”. Những vị cố đạo thường thông minh, hiếu học và kiên tâm còn nhận Hán tự là khó học như vậy thay!

Song, một khi ta đã biết áp dụng qui tắc thứ hai của Descartes: chia sự khó khăn ra làm nhiều phần tử để giải quyết từng phần một, khi ta đã biết chia con đường ra từng chặng một, thì đường dài mấy mà chẳng đi tới đích? Nếu ta cứ ngại con đường từ Cà Mau ra Lạng Sơn dài trên 2000 cây số, phải qua đèo, qua suối thì không khi nào ta khởi hành cả. Trái lại nếu ta chia con đường làm 60-70 chặng, chặng thứ nhất từ Cà Mau tới Bạc Liêu, chặng thứ nhì từ Bạc Liêu tới Phú Lộc, chặng thứ ba từ Phú Lộc tới Sóc Trăng... thì chỉ 2 tháng trời là ta tới cửa ải Nam Quan. Hai tuần trăng có lâu gì đâu?

Những bạn nào muốn học chữ Nho mà còn do dự hãy mạnh bạo tiến đi! Dù bạn chẳng tới nơi tới chốn thì ít nhất cũng thuộc được ít ngàn chữ thông thường. Một người Việt Nam có học thức không thể thiếu cái gốc chữ Hán ấy được.

e) Dùng tự điển Trung Hoa

Kiếm theo bộ .

Tra tự điển Trung Hoa vừa khó, vừa mất công hơn tra tự điển Việt, Pháp hoặc Anh, nếu không có người chỉ thì mới mua bộ tự điển về, bạn có thể luýnh quýnh, không biết cách tra.

Hết thảy tự điển Trung Hoa đều sắp chữ theo bộ (tiếng Pháp gọi là clé). Có 214 bộ; như bộ 亻 nhân là người, 氵 thủy là nước, 木 mộc là cây...

Tôi thí dụ bạn muốn tra chữ 孝. Bạn phải biết nó trong bộ nào. Nó có chữ 子 ở dưới thì bạn đoán ngay là nó trong bộ 子 tử là con. Chữ 子 có ba nét. Bạn kiếm trong bảng các bộ ở đầu tự điển, tại ô có những bộ ba nét (tam hoạch), thấy chữ đó. Dưới chữ đó, có những chữ 寅 一 (dần nhất) chỉ tên tập và số trang: bộ tử bắt đầu ở tập dần, trang 1.

Bạn lật tập dần, trang 1, thấy 2 chữ in lớn: 子 部 (tử bộ = bộ tử).

Rồi bạn xem đến chữ 孝, bỏ bộ 子 đi, còn mấy nét; bạn thấy còn bốn nét. Bạn kiếm những trang có chữ “tứ hoạch” (bốn nét) ở ngoài lề. Sau cùng bạn thấy chữ 孝 ở tập dần trang 10[3].

Từ Nguyên, Từ Hải, Khang Hi tự điển đều chỉ:

- Cách đọc,

- Đủ nghĩa của mỗi câu, mỗi chữ; sau mỗi nghĩa có dẫn một câu trong văn thơ cổ có dùng chữ ấy với nghĩa ấy.

Như chữ 孝 Từ Nguyên của tôi ghi: Hỉ giáo thiết, hiệu vận. Mấy chữ ấy chỉ cách đọc: bạn lấy phụ âm h ở chữ hỉ ghép vào vần áo ở chữ giáo, thành háo; chữ 孝 vần với chữ hiệu. Vậy phải đọc là hiếu[4].

Rồi tới nghĩa thứ nhất: Thiện sự phụ mẫu viết hiếu: Khéo thờ cha mẹ thì gọi là hiếu. Nghĩa thứ nhì: Đối ư tổ tiên xưng hiếu (Thi) Hiếu tôn hữu khánh: Đối với tổ tiên thì cũng tự xưng là hiếu. Như trong Kinh Thi viết: Đứa cháu hiếu được phước (nghĩa là được phù hộ). Nghĩa thứ ba: Cư tang viết hiếu, cố tang phục diệc viết hiếu phục. (Bắc Sử) Thôi Tử Ước cư tang ai hủy; nhân vân: Thôi Cửu tác hiếu, phong xuy tức đảo. Có tang gọi là hiếu, nên đồ tang cũng gọi là hiếu phục. Như trong Bắc Sử chép: Thôi Tử Ước có tang, đau thương đến hủy thân thể; người ta nói: Thôi Cửu (tức Thôi Tử Ước) giữ đạo hiếu đến nỗi (yếu quá) gió thổi là ngã ngay.

Sau cùng tới những từ ngữ bắt đầu có chữ hiếu, như: hiếu tử, hiếu thủy, hiếu hữu...

Những từ ấy sắp theo thứ tự sau nầy:

- Những từ ngữ có hai chữ sắp trước những từ ngữ có ba chữ, từ ngữ này lại sắp trước những từ ngữ có bốn chữ...

- Trong những từ ngữ có hai chữ thì cứ từ ngữ nào mà chữ thứ nhì ít nét nhất là sắp trước.

Như từ ngữ hiếu tử 孝 子, chữ thứ nhì là 子 tử, có ba nét; từ ngữ 孝 水 chữ thứ nhì là 水 thủy có bốn nét; nên hiếu tử sắp trước hiếu thủy.

- Đôi khi ta gặp những chữ khó đoán được ở trong bộ nào. Như chữ 孝 cũng là hơi khó đoán nếu bạn chưa quen tra tự điển, và không hiểu nghĩa của nó. Khi không biết nó ở trong bộ nào thì đếm xem nó có bao nhiêu nét: 7 nét. Rồi bạn tra trong bảng ghi những chữ khó kiếm (tức là bảng kiểm tự) ngay sau bảng ghi các bộ. Tìm chỗ thất hoạch (7 nét) bạn thấy chữ đó cùng hai chữ dần thập. Bạn lật tập dần trang 10 thì thấy.

Kiếm theo cách của Vương Vân Ngũ

Vương Vân Ngũ đã tìm được một cách sắp chữ để tra cho giản tiện.

Vương dùng những sip (chiffres) để chỉ các nét,

Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-05.jpg

(coi trong bảng “Tứ giác hiệu mã kiểm tự pháp” ở cuối bộ Từ Nguyên và một ít cuốn Bạch Thoại tự điển. Từ Hải không có).

Khi tra một chữ, ta xem những nét ở bốn góc thuộc những sip nào, rồi sắp lại thành một con số 4 sip.

Chẳng hạn như chữ 截 tiệt.

Cứ tính từ trái qua phải rồi từ trên xuống dưới.

Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-06.jpg

Ta sắp lại thành con số 4325, tức con số chữ 截. Rồi ta lật bảng “Sách dẫn” tìm số 4325. Có năm chữ, chữ cuối là 截, ngang chữ 截 là chữ mão và số 69.2. Chữ ấy ở tập mão, trang 69, ô thứ hai (tức ô giữa trong trang).

Một thí dụ nữa: tra chữ 孝

Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-07.jpg

Ở dưới không phân được phải trái, chỉ có Bên trái ở trên là Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-08.jpg tức số 4 (tức số của những nét đó) cho làm số ở bên trái, còn bên phải là 0.

Vậy số của chữ 孝 là 4440. Kiếm trong bảng “Sách dẫn” ta thấy ghi chữ hiếu tra ở tập dần trang 10, ô thứ nhì.

Dưới chữ đó, ta thấy cả những từ ngữ như:

- Hiếu đồng ở tập dần, trang 11 ô thứ nhất,

- Hiếu liêm ở tập dần, trang 11 ô thứ nhất,

- Hiếu tử ở tập dần, trang 10 ô thứ nhì,

Những chữ có hình: Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-09.jpgbao ở ngoài thì hai góc ở dưới lấy theo chữ trong ba hình đó, như 因 là 6043, 閉 là 7724... Nếu chung quanh những hình đó lại còn nét khác thì không theo lệ ấy, như 菌 là 4460, Kipkis.com-Tu-hoc-mot-nhu-cau-cua-thoi-dai-10.jpg là 3712...

Cách tra của họ Vương nếu dùng quen thì mau hơn cách tra theo bộ.

f) Dùng thẻ để học chữ Hán

Có nhiều người dùng thẻ để học chữ Hán. Thẻ là một miếng bìa cứng, hình chữ nhật, lớn nhỏ tùy ý, thường là 7,5 phân chiều ngang và 12,5 phân chiều đứng[5]. Mỗi thẻ dùng cho dùng cho một chữ.

Như học về chữ 梅 mai, bạn ghi trên thẻ:

- 梅 và số nét: 11

- Tên bộ: 木 và số nét: 4

- Cách đọc.

- Những nghĩa của nó (và cả những câu văn, thơ có dùng nó để làm thí dụ)

- Những từ ngữ có chữ mai.

- Những nhận xét riêng của bạn về chữ ấy, chẳng hạn: nên phân biệt nó với chữ 海, cả hai đều có chữ 每 (mỗi) ở bên.

Bạn muốn ghi gì thêm cũng được, như: Mai có 3 loại: hồng, hoàng, bạch. Những câu thơ Việt có chữ Mai: Mai cốt cách, tuyết tinh thần (Kiều); Nghêu ngao thú vui thiên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen (Ca dao).

Sự ghi chép ấy hoàn toàn tùy mục đích của bạn. Mỗi chữ có thể dùng 2-3 thẻ nếu một thẻ không đủ chỗ để ghi.

Khi học được 3000 - 4000 chữ, bạn có 3000-4000 thẻ. Bạn sắp thẻ theo từng bộ hoặc theo cách của Vương Vân Ngũ và bạn có một bộ từ điển để dùng riêng, một bộ từ điển mà bạn thích hơn hết cả những bộ khác vì nó là công phu của bạn.

Học theo cách dùng thẻ đó thì tốn công nhưng nhớ được lâu, biết được nhiều, tập được tánh ghi chép có thứ tự, nhất là vui lắm. Ta vừa học vừa tìm tòi và khi thấy số thẻ trong hộc mỗi ngày một tăng, ai mà không thích?

Bạn đã có bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì chỉ nên ghi trên thẻ những nghĩa nào và những chữ nào không có trong bộ ấy. Như vây đỡ mất thời giờ mà vẫn có lợi.

Chú thích

  1. Trong những cuốn ấy, tác giả dùng chữ rời, phiên âm, dịch nghĩa và sắp đặt thành vè cho dễ học chứ không đặt những câu ngắn có ý nghĩa. Chẳng hạn câu đầu trong “Tam thiên tự” là: Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước....
    Không theo qui tắc đi từ dễ đến khó mà mỗi chữ cũng chỉ cho một nghĩa thôi.
  2. Tôi hiện chưa kiếm lại được bộ ấy nên con số đó không được chắc.
    Bộ Quốc gia giáo dục mới xuất bản hai cuốn Hán tự cho các lớp đệ nhất, đệ lục và phỏng theo bộ của Lê Thước.[42]
  3. Theo bộ Từ Nguyên của tôi. Bộ đó là một bộ nhỏ.
  4. Những vần ao với iêu, áo với iếu, ạo với iệu thay lẫn lộn cho nhau được. Vậy chữ hiếu ta có thể đọc là háo, chữ giáo đọc là giếu, chữ hiệu đọc là hạo. Tôi giữ những âm giáo, hiếu là những âm đã được phổ thông rồi. Tôi nhận thấy cách đọc chữ Hán của ta nhiều khi không đúng với cách phiên âm trong các tự điển Trung Hoa, điều ấy rất bất tiện cho những người học chữ Nho. Các nhà ngữ âm nên nghiên cứu về vấn đề ấy...
  5. Coi thêm chương XI.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tự học - Một nhu cầu của thời đại
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nguồn: Bản scan do Townguyen cung cấp (e-thuvien.com)
  • Đánh máy: Trieuthoa
  • Tạo eBook lần đầu và tạo lại: Goldfish (10-06-2013)