Hình vẽ lấy Lạc thư làm nền tảng

Hình vẽ lấy Lạc thư làm nền tảng

Căn cứ cơ bản cùa Kỳ môn độn giáp là lấy phương vị của Hậu thiên bát quái phối với chín cung của Lạc thư và phối với cửu tinh, bát môn. Đó không phải là sự tổ hợp tùy ý mà là lấy người làm trung tâm, trên có khí trường vũ trụ đến từ các thiên thể, dưới có từ trường quả đất. Trường năng lượng trên dưới giao cảm với nhau này tác dụng vào trường sinh vật của nhân thể trong những cách cục khác nhau. Người xưa qua sự thể nghiệm và tổng kết thực tiễn lâu đời, đã dùng bát quái, bát môn, cửu tinh trên cơ sở lấy Lạc đồ mang tính trừu tượng cao độ làm nền tảng để phản ánh tính quy luật của các cách cục trong sự biến hóa này. Dùng ngôn ngữ của Độn giáp học mà nói: thiên bàn là cửu tinh, nhân bàn là bát môn, địa bàn là cửu cung bát quái.

Về việc đưa Hậu thiên bát quái phối với cửu cung Lạc thư, Chu Hi đã viết trong "Khởi mông phụ luận" như sau: "hỏa trên thủy dưới nên số 9 là ly, số 1 là khảm. Hỏa sinh táo thổ nên cấn 8 đứng sau ly 9. Táo thổ sinh kim nên càn 6 đoài 7 đứng sau cấn 8. Thủy sinh thấp thổ nên khôn 2 đứng sau khảm 1. Thấp thổ sinh mộc, nên chấn 3 tốn 4 đứng sau khôn 2".

Số của lạc thư là: đội 9 dẫm 1; trái 3 phải 7; 2, 4 là vai; 6, 8 là chân; 5 ở giữa. Số của Lạc thư phối với Hậu thiên bát quái là:

- Quẻ khảm là 1 ở phương bắc thuộc thủy.

- Quẻ khôn là 2 thuộc thổ ở phương tây nam.

- Quẻ chấn là 3 thuộc mộc ở phương đông.

- Quẻ tốn là 4 thuộc mộc ở phương đông nam.

- 5 thuộc thổ ở giữa trung ương.

- Quẻ càn là 6 thuộc kim ở phương tây bắc.

- Quẻ đoài là 7 thuộc kim ở phương tây.

- Quẻ cấn là 8 thuộc thổ ở phương đông bắc.

- Quẻ ly là 9 thuộc hỏa ở phương nam.

Sau khi điền Hậu thiên bát quái vào chín cung của Lạc đồ còn phải phối với cửu tinh, bát môn, lục thần.

Trung Quốc là nước phát hiện la bàn sớm nhất trên thế giới. Người Trung Quốc cổ không những sớm nhận thức được từ trường của quả đất mà còn ý thức được đầy đủ về sự cảm ứng giữa từ trường, khí và người. Vì quả đất luôn luôn vận động nên tổ hợp cảm ứng giữa từ trường, khí và con người cũng luôn luôn thay đổi có lúc có lợi, có lúc không lợi cho con người. Có thể chia thành tám phương vị, người xưa dùng "bát môn" làm phù hiệu để nói rõ vấn đề. Đó là: hưu, sinh, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai môn. Đại thể: hưu, sinh, cảnh, khai là tốt, các môn còn lại là xấu. Bát môn được đưa vào cửu cung và biến đổi theo giờ, tiết, khí.

Bát thần, trong một số trường hợp nào đó còn gọi là cửu thần. Thứ tự sắp xếp của nó phân thành hai loại dương độn và âm độn. Dương độn là: trực phù, phi xà, thái âm, lục hợp, câu trần, chu tước, cửu địa, cửu thiên. Âm độn là: trực phù, cửu thiên, cửu địa, chu tước, câu trần, lục hợp, thái âm, phi xà. Có thể thấy rõ: dù là cửu thần âm độn hay cửu thần dương độn đều do trực phù đứng đầu. Dưới tiêu đề trực phù đứng đầu, đảo ngược thứ tự bảy thần của dương độn ta sẽ được âm độn. Ngoài bát thần này ra còn có thêm "thái thường" thành cửu thần.

Cửu tinh là: thiên phùng, thiên nhuế, thiên xung, thiên bổ, thiên cầm, thiên tâm, thiên trụ, thiên nhâm, thiên anh. Chúng cũng tùy theo giờ và tiết lệnh khác nhau mà biến động trong cửu cung của lạc thư. Cửu tinh không phải là chỉ đúng chín ngôi sao trên trời, nhưng có thể nói rằng, nó là hệ thống "tọa độ thiên" trong cảm ứng giữa thiên và nhân của người xưa. Nó biểu thị một cách đại khái về định thức của chín phương vị và cường độ trường của năng lượng bức xạ vũ trụ.

Trong tọa độ rộng lớn giữa thiên, địa, nhân có tồn tại trạng thái "không". Theo đó mà "định vị" được cho quan hệ giữa hậu thiên bát quái, cửu tinh và bát môn. Cụ thể như sau:

- Thiên phùng (còn gọi là sao Tham lang), hưu môn, chủ cung 1 khảm, thuộc thủy.

- Thiên nhuế (còn gọi là sao Cự môn), tử môn, chủ cung 2 khôn, thuộc thổ.

- Thiên xung (còn gọi là Lộc tôn), thương môn, chủ về cung 3 chấn, thuộc mộc.

- Thiên bổ (còn gọi là sao văn khúc), đỗ môn, chủ về cung 4 tốn, thuộc mộc.

- Thiên cầm (còn gọi là sao Liêm trinh), ở giữa, cung 5, thuộc thổ.

- Thiên tâm (còn gọi là sao Vũ khúc), khai môn, chủ cung 6 càn, thuộc kim.

- Thiên trụ (còn gọi là sao phá quân), kinh môn, chủ cung 7 đoài, thuộc kim.

- Thiên nhâm (còn gọi là sao Tả bổ), sinh môn, chủ về cung 8 cấn, thuộc thổ.

- Thiên anh (còn gọi là sao Hữu bật), cảnh môn, chủ về cung 9 ly, thuộc hỏa.

Sau khi "lắp" bát quái, bát môn, cửu tinh lên cửu cung của Lạc thư, còn phải phối với tám tiết. "Tám tiết" là tám tiết khí trong đó có khí quẻ phân phối, "Thuyết quái" nói rằng: "Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương kiến hồ ly, chí dịch hồ khôn, thuyết ngôn hồ đoài, chiến hồ càn, lao hồ khám thành ngôn hồ cấn".

Chú thích; "Đế xuất hồ chấn" nghĩa là vũ trụ vận động bắt đầu từ quẻ chấn. Chấn là phương đông thuộc mộc, Mặt trời mọc lên từ phía đông là thời kì tỏa chiếu cho vạn vật sinh trưởng.

"Tề hồ tốn" là vận hành đến quẻ tốn thì vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng (quẻ tốn là đông nam, lệnh của tháng 3, tháng 4, mặt trời đã lên cao, chiếu rọi vạn vật rõ ràng),

"Tương kiến hố ly" là quẻ ly là tượng ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ, (Ly là phương nam, lệnh của tháng 5, chính à lúc mặt trời đã lên cao, mọi vật đang sinh trưởng).

"Chí dịch hồ khôn" là: thiên đế (chỉ vũ trụ) giao cho đất (khôn) trọng trách (dịch) nuôi dưỡng vạn vật (khôn là phương tây nam, lệnh của tháng 6, tháng 7, thời kì vạn vật đã phát triển đầy đủ).

"Thuyết ngôn hồ đoài" là vạn vật đã đến lúc tươi vui (thuyết là tươi vui). (Đoài là phương tây, lệnh của tháng 8, chính là lúc hoa quả trĩu đầy, mừng được mùa).

"Chiến hồ càn" là: Vạn vật mâu thuẫn, đấu tranh. (Quẻ càn thuộc phương tây bắc, lệnh tháng 9, tháng 10. Mặt trời đã xuống phía tây, tối sáng, âm dương đấu tranh lẫn nhau).

"Lao hồ khảm" là: Khi vũ trụ đã vận hành đến khảm là lúc mặt trời đã lặn, vạn vật mỏi mệt. (Khảm là phương bắc, lệnh tháng 11. Khảm là nước chảy không ngừng, có nghĩa là lao khổ. Mặt trời ở phương này hoàn toàn không có, vạn vật mệt mỏi, là lúc nên nghỉ).

"Thành ngôn hồ cấn" là: vũ trụ vận hành đến quẻ cấn là xong một chu kì, sắp bước sang chu kì mới. (Cấn là phương đông bắc, lệnh của tháng 12 và tháng giêng, tức giao thời giữa đông và xuân, đen tối sắp qua, ánh sáng sắp đến. Vạn vật vừa kết thúc một ngày, sắp bước sang ngày mới).

"thuyết quái" lấy tám quẻ phối với bốn mùa, một năm có 360 ngày, mỗi quẻ có 45 ngày, phép độn giáp phỏng theo đó. Sách "Độn giáp phù ứng kinh" quyển thượng, mục "Bát môn pháp" viết: "Phép xưa nói: trời có bát phong tương ứng với bát quái. Đất có bát khí ứng với tám tiết. Tiết có ba khí, mỗi khí có ba hầu. Do đó tám tiết nhân với ba thành hai mươi bốn khí, lại nhân với ba nữa thành bảy mươi hai lần". Trong sách "Suy bát tiết dị chủ quẻ vi sơ trực" mục 5 viết: "Đông chí cung 1 khảm, lập xuân cung 8 cấn, xuân phân cung 3 chấn, lập hạ cung 4 tốn, hạ chí cung 9 ly, lập thu cung 2 khôn, thu phân cung 7 đoài, lập đông cung 6 càn". Sự biến đổi của tiết khí là phản ánh quy luật vận động giữa mặt trời, trăng, sao trong tự nhiên. Nạp quẻ vào thì sẽ là phù hiệu tượng trưng cho quy luật vận hành đó. Hai mươi bốn tiết khí sau khi phân phối bình quân cho tám tiết sẽ như sau;

Cung 1 khảm: đông chí - tiểu hàn - đại hàn.

Cung 2 khôn: lập thu - xử thử - bạch lộ.

Cung 3 chấn: xuân phân - thanh minh - cốc vũ.

Cung 4 tốn: lập hạ - tiểu mãn- mang chủng.

Cung 6 càn: lập đông - tiểu tuyết - đại tuyết.

Cung 7 đoài: thu phân - hàn lộ - sương giáng.

Cung 8 cấn: lập xuân - vũ thủy - kinh trập.

Cung 9 ly: hạ chí - tiểu thử - đại thử.

Qua sự sắp xếp đó ta được bảng dưới đây:

Cung 4 tốn, đông nam, mộc

Lập hạ 4,1,7

Thiên bổ

Tiểu mạn 5,2,8

Đỗ môn

Mang chủng 6,3,9

Cung 9 li phương, nam, hỏa

Hạ chí 9,3,6

Thiên anh

Tiểu thử 8,2,5

Cảnh môn

Đại Thử 7,1,4

Cung 2 khôn, tây, nam, thổ

Lập thu 2,5,8

Thiên nhuế

Xử thử 1,4,7

Tử môn

Bạch lộ 9,3,6

Cung 3 chấn, đông, mộc

Xuân phân 3,9,6

Thiên xung

Thanh minh 4,1,7

Thương môn

Cốc Vũ 5,2,8

Cung 5, giữa

Thiên cầm

Cung 7 đoài, tây, kim

Thu phân 7,1,4

Thiên trụ

Hàn lộ 9,6,3

Kinh môn

Sương giáng 5,8,2

Cung 8 cấn đông, bắc, thổ

Lập xuân 8,5,2

Thiên Nhân

Vũ Thủy 9,6,3

Sinh môn

Kinh Trập 1,7,4

Cung 1 khảm, bắc, thủy

Đông chí 1,7,4

Thiên phùng

Tiểu Hàn 2,8,5

Hưu môn

Đại hàn 3,9,5

Cung 6 càn, tây, bắc, kinh

Lập đông 6,9,3

Thiên tâm

Tiểu Tuyết 5,8,2

Khai môn

Đại tuyết 4, 7,1

Trong bảng này, sau mỗi tiết, khí đều có ba số. Như sau đông chí là 1,7,4, sau xuân phân là 3,9,6, sau tiểu thử là 8,2,5. V.V.. Nếu xem kĩ hơn ta còn thấy có những số giống nhau. Ví dụ sau tiểu mạn và cốc vũ đều là các số 5,2,8, sau đông chí và kinh trập đều là 1,7,4. Những số này có ý nghĩa gì? Chúng biểu thị "cục". Như đã nói ở phần trên: Mỗi tiết, khí có ba nguyên: thượng, trung, hạ. Trong ba số sau mỗi tiết khí, số đầu là số cục dùng cho thượng nguyên, số thứ hai là số cục dùng cho trung nguyên, số thứ ba dùng cho hạ nguyên. Cục được phân thành cục âm, cục dương.

Nếu việc cần đoán phát sinh ở thượng nguyên của lập hạ, căn cứ "lập hạ 4,1,7" thì đáp án trong cục thứ tư của chín cục dương độn sẽ hiện ra. Nếu việc cần đoán phát

sinh ở trung nguyên hàn lộ, căn cứ "hàn lộ 6,9,3" đáp án sẽ hiện ra ở cục 9 âm độn. Những số này thực tế là sự chỉ dẫn tìm số của mười tám cục.

Đến đây ta thấy rõ: người xưa để lại một mô hình số to lớn phản ánh tam tài lưu chuyển trong thời gian và không gian của vũ trụ, kết hợp với mô thức trở thành một hệ thống lớn. Mối quan hệ giữa các hệ thống con trong mô hình hệ thống lớn này còn chưa rõ, nhưng tư tưởng cảm ứng xuyên suốt từ đầu đến cuối của mô hình này chắc chắn là đúng. Tư tưởng cảm ứng trong Độn giáp học là dòng tư tưởng giao cảm của "Chu dịch". "Chu dịch" bao hàm hết cả mọi vật, gần nhất là bản thân ta, khái quát được hai khái niệm cơ bản âm dương và làm sáng tỏ nguyên lí giao cảm của âm dương. Theo "Chu dịch” mà nói, trời đất có thể giao cảm, vợ chồng có thể giao cảm, người và trời đất cũng có thể giao cảm. Chỉ có giao cảm mới có thể sinh hóa. Ngược lại, nếu tắc trở không thông thì không thể sinh hóa. Muốn giao cảm được thì phải có "thiên hạ chi chí thần". Chữ "thần” ở đây là âm dương trong kinh dịch. Tư tưởng này về sau được Đổng Trọng Thư cải tạo thành thiên nhân cảm ứng luận, tức là cảm ứng giữa thiên địa nhân do âm dương tạo thành là cơ sở lí luận của Độn giáp học, mà cơ sở thực tiễn của nó là Lạc thư.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Địa lợi
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyễn Văn Mậu
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Ebook: TVE-4U.org
"Like" us to know more!